Thứ Năm, 21 tháng 5, 2026

LỄ NGŨ TUẦN -- NGƯỜI MỚI RA ĐỜI-

 


Theo nguyên văn tiếng Hi-lạp, chữ pentecost trong Công vụ 2: 1 là "ngày thứ năm mươi”. Vào năm 1926, các dịch giả bản Kinh thánh truyền thống đã vay mượn chữ "Ngũ tuần” trong bản Kinh thánh Hoa văn.
Lê-vi ký 23: 15: 21 ghi chép, “vào ngày thứ năm mươi, tức là ngày sau ngày sa-bát thứ bảy, thì các con phải dâng lên Đức Giê-hô-va một của lễ bữa ăn mới (meal-offering) mới. Mỗi gia đình phải đem đến hai ổ bánh để làm lễ vật dâng theo nghi thức đưa qua đưa lại; mỗi ổ bánh được làm bằng hai ký bột mịn có pha men và nướng lên, đó là lễ vật đầu mùa dâng lên Đức Giê-hô-va”.
Ngoài con sinh và những lễ vật khác làm của lễ thiêu và của lễ quán, dân Chúa phải đem đến 2 ổ bánh bằng bột lúa mì mới thu hoạch, và bột đó có pha men. Đó là của lễ dâng trọng yếu trong ngày lễ Ngũ Tuần.
Sứ đồ Phao-lô giải nghĩa hai ổ bánh đó như sau: “Vì, ấy chính Ngài là sự hòa bình của chúng ta; Ngài đã hiệp cả hai lại làm một, phá đổ bức tường ngăn cách, là sự thù nghịch đã phân rẽ ra, bởi vì Ngài đã đem thân mình mà trừ bỏ luật pháp của các điều răn chép thành điều lệ. Như vậy, khi làm cho hòa nhau, Ngài muốn lấy cả hai lập nên một Người Mới trong Ngài. và vì bởi thập tự giá Ngài đã làm cho sự thù nghịch tiêu diệt, nên nhờ thập tự giá đó Ngài khiến cả hai hiệp thành một Thân Thể, mà làm hòa thuận với Đức Chúa Trời”.
Hai ổ bánh hiệp lại trong tay thầy tế lễ dâng lên cho Chúa tượng trưng dân Do thái đã tin Chúa Giê-su (Công 2: 1-4) và ổ bánh kia là dân ngoại, trong nhà Cọt-nây (Công 10: 34-48. Bánh có pha men, vì trong hội thánh còn tội lỗi, xem Công 5: 1-11 về A-na-nia , Sa-phi-ra…
“Ngài muốn lấy cả hai lập nên một người mới trong Ngài”- hai ổ bánh, là hai tập thể đó, hiêp lại thành “một của lễ bữa ăn mới (meal-offering)”. Còn Phao- lô gọi của lễ bữa ăn mới đó là Người Mới.
Người mới nầy không phải là người mới cá thể là mỗi cá nhân tín đồ theo 2 Cô 5: 17, mà là Người Mới tập thể, là hội thánh.
Người Cũ tập thể là toàn thể nhân loại vô tin, sa-tan là cái Đầu, mọi người vô tín là các chi thể. Người Mới tập thể có cái Đầu là Đấng Christ, và mọi chi thể là các tín nhân kẻ từ ông A-đam.
Lịch sử ghi chép Hội thánh Tân ước ra đời khoảng năm 30 S.C. và Phao lô gọi Hội thánh đó là Người Mới.
Tóm lại ngày Lễ Ngũ Tuần là ngày khai sinh của Người Mới phổ thông vĩnh hằng.
Minh Khải 21-5-2026.

LỄ CÁC TUẦN-

 

 
 
Căn cứ vào lịch pháp của người Hê-bơ- rơ, lễ Ngũ Tuần năm nay rơi vào ngày 24-5-2026.
Đây là kỳ lễ thứ tư, kéo dài 7 ngày của dân Israel. Xuất hành 34: 22 gọi đó là Lễ Các Tuần, Phục truyền 16: 8-10 gọi là Lễ Bảy Tuần, Còn Công vụ 2: 1 gọi là Lễ Ngũ Tuần.
Nghĩa đen của chữ “pentecost” trong Công vụ 2: 1 là “ngày thứ 50”. Hội thánh Trung Hoa dịch chữ Pentecost là "Ngũ Tuần" vì theo văn hóa Trung Hoa một tháng có ba tuần, 1 tuần có 10 ngày, nên 50 ngày họ dịch là "Ngũ Tuần". Nhưng Theo Kinh thánh Chúa quy định một tuần chỉ có 7 ngày. Chữ “ngũ tuần” không có trong Kinh thánh.
Theo Lê vi ký 23: 15-21, ngày sa- bát sau lễ Vượt qua là ngày sa- bát thứ nhất, tính đến ngày sa- bát thứ bảy sau đó thì được 49 ngày, ngày thứ 50 là ngày thứ nhất của tuần lễ 7 ngày, chính là ngày lễ Bảy Tuần.
Ngày thứ nhất sau ngày sa bát thứ nhất là ngày dâng bó lúa mạch đầu mùa lên Chúa, đó là ngày Chúa Giê- su phục sinh. Ngày thứ nhất sau ngày sa- bát thứ bảy là khởi đầu mùa gặt lúa mì. Họ phải dâng 2 ổ bánh làm bằng bột lúa mì đầu mùa gặt lúa mì.
Vì Ru tơ 1: 22 và 2: 23, lúa mạch chín trước lúa mì. Nên Ngày lễ Các Tuần đánh dấu ngày thu hoạch hoàn tất của mùa màng dân Israel.
Vào sau ngày lễ Bảy Tuần, dân Israel thu hoạch toàn bộ mùa màng lúa mì, còn Chúa thu họach được điều gì?
Đức Chúa Trời ba một, là
Linh, đã gieo chính Ngài vào nhân tính của Giê-su Christ, đã chết, sống lại trong thân thể phục sinh, mà 1 Cô. 15: 45 gọi Chúa phục sinh là Linh ban sự sống (1 Cô.15: 45), là Linh Giê-su Christ (Phi-líp 1: 19). Ngài có xương thịt, vừa là Linh. Ngài là Giê-su Christ phục sinh, ở thể Linh.
Sau một tiến trình lâu dài, Đức Chúa Trời thu hoạch được Linh Giê-su Christ, rồi Ngài đổ xuống vào ngày lễ Các Tuần.
Đó là ý nghĩa ngày lễ Ngũ Tuần trong Kinh thánh.
MK. 21.5.2026.

Chức tư tế thánh và chức tư tế hoàng gia -


- 1 Phi-e-rơ 2:5, 9; Hê-bơ-rơ 13:15,

“Chính anh em đang được xây dựng như những viên đá sống thành một ngôi nhà thiêng liêng, để làm chức tư tế thánh, dâng những của lễ thiêng liêng đẹp lòng Đức Chúa Trời qua Đức Chúa Giê-su Christ” (1 Phi-e-rơ 2:5).

“Nhưng anh em là dòng dõi được chọn, là chức tư tế hoàng gia, là dân tộc thánh, là tài sản riêng của Đức Chúa Trời, để anh em rao truyền những điều tuyệt vời của Đấng đã gọi anh em ra khỏi tối tăm vào ánh sáng kỳ diệu của Ngài” (1 Phi-e-rơ 2:9).

Mỗi tín đồ đều là thầy tế lễ của Đức Chúa Trời—bất kể là chị em hay anh em, trẻ hay già, giàu hay nghèo. Kinh Thánh phân biệt giữa chức tư tế thánh và chức tư tế hoàng gia. Là những thầy tế lễ thánh, chúng ta đến gần Đức Chúa Trời để dâng lên Ngài những của lễ thiêng liêng—những của lễ ngợi khen và vinh hiển. Là những thầy tế lễ hoàng gia, chúng ta từ Đức Chúa Trời đến với mọi người để rao truyền cho họ những đức tính của Đấng đã gọi chúng ta ra khỏi tối tăm vào ánh sáng kỳ diệu của Ngài.

Trong phần này của chúng ta, khía cạnh hợp tác hay tập thể của chức tư tế là tối quan trọng: Chúng ta cùng nhau phục vụ với tư cách là những tư tế thánh để dâng lên những lễ vật ngợi khen và tôn vinh Đức Chúa Trời. Chúng ta cũng cùng nhau phục vụ với tư cách là những tư tế vương giả để lan tỏa ánh sáng và tình yêu thương trong thế giới này. Khi làm như vậy, chúng ta nên nhớ rằng chứng ngôn chung của các tư tế được tạo nên từ chứng ngôn của mỗi tư tế cá nhân. Hơn nữa, chúng ta muốn ghi nhớ rằng chúng ta không chỉ là tư tế của Đức Chúa Trời trong các buổi nhóm họp, mà còn luôn luôn—mỗi ngày trong tuần. Vì vậy, chúng ta nên luôn luôn phục vụ với tư cách là tư tế—trong mọi hoàn cảnh của cuộc sống.

Chính Chúa là Đấng khơi dậy sự thờ phượng trong lòng chúng ta (Ê-phê-sô 5:19). Tuy nhiên, để những suy nghĩ thờ phượng trở thành “trái của môi miệng”, chúng phải được nói ra và bày tỏ bằng lời nói (Hê-bơ-rơ 13:15). Tuy nhiên, chúng ta không được quên rằng các chị em nên giữ im lặng trong các buổi nhóm họp và do đó không nên nói to (1 Cô-rinh-tô 14:34).

Nếu những hy sinh thiêng liêng chúng ta dâng lên Đức Chúa Trời muốn làm đẹp lòng Ngài, thì chúng phải phù hợp với ý muốn của Ngài: sự thờ phượng phải bằng tâm linh và bằng lẽ thật (phù hợp với Lời Ngài) (Giăng 4:24). Hơn nữa, cần nhớ rằng chức tư tế thánh đi trước chức tư tế vương giả (Giăng 10:9). Trước khi chúng ta có thể rao truyền những đức tính của Đấng mà chúng ta đã được kêu gọi, chúng ta phải ở trong sự hiện diện của Ngài. Khi đó, chúng ta cũng mới có thể sống một đời sống làm chứng cho Ngài. Chỉ khi nào chúng ta luôn giữ Ngài trước mắt, chúng ta mới có thể phản ánh những phẩm chất tuyệt vời của Ngài trong những việc làm và lời nói của mình.

Chúng ta có đang phục vụ với tư cách là những thầy tế lễ thánh và vương giả không?

Thứ Tư, 20 tháng 5, 2026

CÂU HỎI THẢO LUẬN XUẤT Ê-DÍP-TÔ KÝ 33

 


CÂU HỎI 1-
--Trong Xuất 33:1-6 Tại sao Chúa phạt dân Y-sơ-ra-ên?
Vì họ thờ bò con vàng, 1 vị thần Ai cập
--Thái độ của họ ra sao trước lời Chúa qua Môi-se?
Họ buồn rầu, hạ mình, để tang, không đeo trang sức nữa.
CÂU HỎI 2--
--Trong Xuất 33: 7-10, tại sao Môi-se lại đem dựng trại xa ra ngoài trại quân?
Vì giữa toàn bộ trại quân Israel có bầu không khí thờ thần tượng chưa được xử lý. Chỉ dân Lê- vi tinh sạch. Heb. 13: 12
--Thái độ của dân chúng lúc này ra sao?
Dân chúng sợ sệt, hỗ thẹn, vì họ đã thờ bò con vàng cả tháng.
--Điều này dạy con cái Chúa ngày nay như thế nào?
Chúng ta nên ăn năn và hổ thẹn về tội mình làm trước đây.
CÂU HỎI 3
--Trong Xuất 33: 11-16 lý do vì sao Giô-suê không ra khỏi trại (câu11).
Để học theo gương thầy mình, ở trong trại một mình để học tập nói chuyện riêng với Chúa.
--Thái độ nầy nói lên điều gì?
Đoàn hậu tấn phải học theo gương mẫu người đi trước-- Heb. 13: 7
--Bài học chính trong đoạn Kinh văn 33:11-16 là gì?
Vì Israel ham thích thần tượng, Chúa sẽ còn dẫn họ vào đất hứa, nhưng Ngài o muốn ngự giữa họ, vì họ ham thần tượng, Chúa không còn muốn cho họ cảm biết sự hiện diện của Ngài. Môi se không đồng ý với Chúa về điều nầy.
CÂU HỎI 4
--Xin giải thích rõ ý nghĩa của sự vinh quang của Chúa và ân điển của Ngài qua Xuất 33: 17-23.
-- Ân điển (ơn) Chúa là sự ban phước, về vật chất và thuộc linh, là phương tiện để con cái Chúa tiến lên, còn vinh quang là kết cuộc của Chúa. Vinh quang Chúa sẽ phô bày khi Chúa đạt được mục đích, kế họach hành động của Ngài. Môi- se muốn thấy vinh quang của Chúa giữa một dân thánh hư hoại, say mê thần tượng. Ngụ ý ông đã nản lòng về dân thánh, nên ông muốn thấy vinh quang của Chúa, muốn thấy trước kết cuộc vinh hiển của Ngài, để yên tâm. Dù Israel hư hoại đến thế nào, cuối cùng vinh quang của Chúa cũng se hiện ra

 CÂU HỎI THẢO LUẬN XUẤT Ê-DÍP-TÔ KÝ 33 CÂU HỎI 1-CÂU HỎI THẢO LUẬN XUẤT Ê-DÍP-TÔ KÝ 33 CÂU HỎI 1- --Trong Xuất 33:1-6 Tại sao Chúa phạt dân Y-sơ-ra-ên? Vì họ thờ bò con vàng, 1 vị thần Ai cập --Thái độ của họ ra sao trước lời Chúa qua Môi-se? Họ buồn rầu, hạ mình, để tang, không đeo trang sức nữa. CÂU HỎI 2-- --Trong Xuất 33: 7-10, tại sao Môi-se lại đem dựng trại xa ra ngoài trại quân? Vì giữa toàn bộ trại quân Israel có bầu không khí thờ thần tượng chưa được xử lý. Chỉ dân Lê- vi tinh sạch. Heb. 13: 12 --Thái độ của dân chúng lúc này ra sao? Dân chúng sợ sệt, hỗ thẹn, vì họ đã thờ bò con vàng cả tháng. --Điều này dạy con cái Chúa ngày nay như thế nào? Chúng ta nên ăn năn và hổ thẹn về tội mình làm trước đây. CÂU HỎI 3 --Trong Xuất 33: 11-16 lý do vì sao Giô-suê không ra khỏi trại (câu11). Để học theo gương thầy mình, ở trong trại một mình để học tập nói chuyện riêng với Chúa. --Thái độ nầy nói lên điều gì? Đoàn hậu tấn phải học theo gương mẫu người đi trước-- Heb. 13: 7 --Bài học chính trong đoạn Kinh văn 33:11-16 là gì? Vì Israel ham thích thần tượng, Chúa sẽ còn dẫn họ vào đất hứa, nhưng Ngài o muốn ngự giữa họ, vì họ ham thần tượng, Chúa không còn muốn cho họ cảm biết sự hiện diện của Ngài. Môi se không đồng ý với Chúa về điều nầy. CÂU HỎI 4 --Xin giải thích rõ ý nghĩa của sự vinh quang của Chúa và ân điển của Ngài qua Xuất 33: 17-23. -- Ân điển (ơn) Chúa là sự ban phước, về vật chất và thuộc linh, là phương tiện để con cái Chúa tiến lên, còn vinh quang là kết cuộc của Chúa. Vinh quang Chúa sẽ phô bày khi Chúa đạt được mục đích, kế họach hành động của Ngài. Môi- se muốn thấy vinh quang của Chúa giữa một dân thánh hư hoại, say mê thần tượng. Ngụ ý ông đã nản lòng về dân thánh, nên ông muốn thấy vinh quang của Chúa, muốn thấy trước kết cuộc vinh hiển của Ngài, để yên tâm. Dù Israel hư hoại đến thế nào, cuối cùng vinh quang của Chúa cũng se hiện ra. --Trong Xuất 33:1-6 Tại sao Chúa phạt dân Y-sơ-ra-ên? Vì họ thờ bò con vàng, 1 vị thần Ai cập --Thái độ của họ ra sao trước lời Chúa qua Môi-se? Họ buồn rầu, hạ mình, để tang, không đeo trang sức nữa. CÂU HỎI 2-- --Trong Xuất 33: 7-10, tại sao Môi-se lại đem dựng trại xa ra ngoài trại quân? Vì giữa toàn bộ trại quân Israel có bầu không khí thờ thần tượng chưa được xử lý. Chỉ dân Lê- vi tinh sạch. Heb. 13: 12 --Thái độ của dân chúng lúc này ra sao? Dân chúng sợ sệt, hỗ thẹn, vì họ đã thờ bò con vàng cả tháng. --Điều này dạy con cái Chúa ngày nay như thế nào? Chúng ta nên ăn năn và hổ thẹn về tội mình làm trước đây. CÂU HỎI 3 --Trong Xuất 33: 11-16 lý do vì sao Giô-suê không ra khỏi trại (câu11). Để học theo gương thầy mình, ở trong trại một mình để học tập nói chuyện riêng với Chúa. --Thái độ nầy nói lên điều gì? Đoàn hậu tấn phải học theo gương mẫu người đi trước-- Heb. 13: 7 --Bài học chính trong đoạn Kinh văn 33:11-16 là gì? Vì Israel ham thích thần tượng, Chúa sẽ còn dẫn họ vào đất hứa, nhưng Ngài o muốn ngự giữa họ, vì họ ham thần tượng, Chúa không còn muốn cho họ cảm biết sự hiện diện của Ngài. Môi se không đồng ý với Chúa về điều nầy. CÂU HỎI 4 --Xin giải thích rõ ý nghĩa của sự vinh quang của Chúa và ân điển của Ngài qua Xuất 33: 17-23. -- Ân điển (ơn) Chúa là sự ban phước, về vật chất và thuộc linh, là phương tiện để con cái Chúa tiến lên, còn vinh quang là kết cuộc của Chúa. Vinh quang Chúa sẽ phô bày khi Chúa đạt được mục đích, kế họach hành động của Ngài. Môi- se muốn thấy vinh quang của Chúa giữa một dân thánh hư hoại, say mê thần tượng. Ngụ ý ông đã nản lòng về dân thánh, nên ông muốn thấy vinh quang của Chúa, muốn thấy trước kết cuộc vinh hiển của Ngài, để yên tâm. Dù Israel hư hoại đến thế nào, cuối cùng vinh quang của Chúa cũng se hiện ra.

Những đau khổ trong ngày cưới

 


Ca sĩ chuyên nghiệp Ruthanna Metzger được mời hát tại đám cưới của một người bạn giàu có. Sau khi lễ cưới kết thúc, cô và chồng đến dự tiệc chiêu đãi tại tòa tháp Columbia ở Seattle, một trong những tòa nhà chọc trời cao nhất thế giới. Khi thang máy lên đến tầng điều hành, cô gặp người quản lý nhà hàng đang chào đón khách.
Khi ông ta tìm tên cô, tên cô không có trong sổ ghi chép. Metzger trả lời, “Chắc chắn có nhầm lẫn, tôi là ca sĩ, tôi vừa hát cho đám cưới.” Người quản lý nhà hàng dẫn họ đến thang máy dành cho nhân viên và nói rằng ông ta có lệnh nghiêm ngặt không cho phép bất cứ ai vào dự tiệc chiêu đãi nếu không có tên trong danh sách, bất kể họ là ai. Khi họ quay trở lại nhà để xe, Ruthanna nhận ra rằng trong lịch trình bận rộn cố gắng biểu diễn cho đám cưới, cô đã quên xác nhận tham dự tiệc chiêu đãi.
Rất nhiều người cũng giống như Ruthanna Metzger. Họ sẽ bỏ lỡ Bữa Tiệc Cưới của Chiên Con vì họ đã không đặt chỗ thông qua sự cứu rỗi. Khi chúng ta đứng trước mặt Chúa Kitô để trình bày về cuộc đời mình, việc chúng ta sống tốt đến đâu không quan trọng, điều quan trọng duy nhất là tên của chúng ta có được ghi trong sách của Ngài hay không.

Nền tảng của sự vĩ đại -

 


- William Carey thường được gọi là cha đẻ của phong trào truyền giáo hiện đại. Năm 1793, ông đến Ấn Độ để rao giảng Tin Mừng của Chúa Giê-su Christ và mãi mãi thay đổi diện mạo tâm linh của đất nước này. Ông đã dịch nhiều phần Kinh Thánh sang hơn bốn mươi ngôn ngữ. Cuộc đời ông có thể được tóm tắt bằng câu nói nổi tiếng của ông: “Hãy mong đợi những điều vĩ đại từ Chúa; hãy cố gắng làm những điều vĩ đại cho Chúa.” Nhưng ở tuổi 70, Carey đã viết bức thư này cho con trai mình bày tỏ sự bất mãn với tội lỗi và bản thân:
“Hôm nay tôi đã 70 tuổi, một tượng đài của lòng thương xót và sự tốt lành của Chúa, mặc dù khi nhìn lại cuộc đời mình, tôi thấy có rất nhiều điều mà lẽ ra tôi phải khiêm nhường và phủ phục; tội lỗi trực tiếp và rõ ràng của tôi là vô số, sự sao nhãng của tôi trong công việc của Chúa là rất lớn, tôi đã không thúc đẩy sự nghiệp của Ngài, cũng không tìm kiếm vinh quang và danh dự của Ngài như lẽ ra tôi phải làm, bất chấp tất cả những điều này, tôi vẫn được tha thứ cho đến bây giờ, và vẫn được giữ lại trong công việc của Ngài, và tôi tin rằng tôi được đón nhận vào ân huệ thiêng liêng thông qua Ngài.”
Thật đáng kinh ngạc khi một người đã đạt được nhiều thành tựu trong công việc của Chúa vẫn tự coi mình là một tội nhân, thậm chí có thể là một người thất bại; thế nhưng chính thái độ khiêm nhường đó đã tạo nền tảng cho William Carey làm những việc vĩ đại cho Chúa. Spurgeon từng nói: “Khiêm nhường là biết đánh giá đúng về bản thân mình.” Tôi muốn nói thêm rằng đó cũng là biết đánh giá đúng về Chúa. Carey đã làm được cả hai điều đó.

Vì tôi không hổ thẹn về Tin Mừng

 


Vì tôi không hổ thẹn về Tin Mừng của Chúa Giê-su Christ.
Khi sứ đồ Phi-e-rơ đứng trước đám đông sau khi được đầy dẫy Đức Thánh Linh, ông đã rao giảng như thế nào? Chẳng phải ông đã tuyên bố rằng họ đã đóng đinh Đấng Christ trên thập tự giá sao? Và chẳng phải lòng họ đã bị xé lòng khi nghe điều đó sao?
Còn Ê-tiên thì sao? Khi ông nói chuyện với các vị lãnh đạo tôn giáo, ông có dịu giọng không, hay ông gọi họ là cứng đầu, chống lại Đức Thánh Linh? Chúng ta biết kết cục của ông và của sứ đồ Phao-lô như thế nào.
Chính Phao-lô nói rằng ông không hổ thẹn về Tin Mừng của Chúa Giê-su Christ, vì đó là quyền năng của Đức Chúa Trời để cứu rỗi. Vậy câu hỏi thực sự là: Tin Mừng là gì? Toàn bộ Tin Mừng, chứ không chỉ những phần không gây khó chịu.
Thập tự giá là sự chướng ngại cho những người đang hư mất. Tin Mừng đối diện với những người vẫn còn trong tội lỗi của họ. Khi lẽ thật được nói ra, nó sẽ thấu suốt tấm lòng. Nếu không, thì có lẽ điều đang được rao giảng đã bị tước bỏ đi sức nặng và tội lỗi của đồi Can-va.
Có lẽ một phần điểm yếu mà chúng ta thấy trong Giáo hội ngày nay, đặc biệt là ở những nơi như Anh, xuất phát từ những thế hệ được nuôi dạy để tránh làm mất lòng người khác bằng mọi giá. Một đức tin sợ làm phật lòng bất cứ ai, ngay cả khi sự thật bị đe dọa, sẽ trở nên trống rỗng.
Cốt lõi của Phúc Âm là lời của Chúa Giê-su:
“Ta là đường đi, là lẽ thật, và là sự sống. Không ai đến với Cha nếu không qua Ta.”
Không có cách nào trình bày lẽ thật đó mà không làm phật lòng một thế giới chống lại nó.
Nếu một người nói chỉ để làm phật lòng người khác, thì tấm lòng của người đó đã sai lạc. Nhưng nếu trong lòng người đó có một ngọn lửa, được chính Chúa thắp lên, thì người đó phải nói. Và nếu lẽ thật đó làm xáo trộn, nếu nó làm phiền lòng những người đang sống thoải mái, thì cứ để như vậy.
Vì tôi không hổ thẹn về Tin Mừng
Vì tôi không hổ thẹn về Tin Mừng của Chúa Giê-su Christ.
Khi sứ đồ Phi-e-rơ đứng trước đám đông sau khi được đầy dẫy Đức Thánh Linh, ông đã rao giảng như thế nào? Chẳng phải ông đã tuyên bố rằng họ đã đóng đinh Đấng Christ trên thập tự giá sao? Và chẳng phải lòng họ đã bị xé lòng khi nghe điều đó sao?
Còn Ê-tiên thì sao? Khi ông nói chuyện với các vị lãnh đạo tôn giáo, ông có dịu giọng không, hay ông gọi họ là cứng đầu, chống lại Đức Thánh Linh? Chúng ta biết kết cục của ông và của sứ đồ Phao-lô như thế nào.
Chính Phao-lô nói rằng ông không hổ thẹn về Tin Mừng của Chúa Giê-su Christ, vì đó là quyền năng của Đức Chúa Trời để cứu rỗi. Vậy câu hỏi thực sự là: Tin Mừng là gì? Toàn bộ Tin Mừng, chứ không chỉ những phần không gây khó chịu.
Thập tự giá là sự chướng ngại cho những người đang hư mất. Tin Mừng đối diện với những người vẫn còn trong tội lỗi của họ. Khi lẽ thật được nói ra, nó sẽ thấu suốt tấm lòng. Nếu không, thì có lẽ điều đang được rao giảng đã bị tước bỏ đi sức nặng và tội lỗi của đồi Can-va.
Có lẽ một phần điểm yếu mà chúng ta thấy trong Giáo hội ngày nay, đặc biệt là ở những nơi như Anh, xuất phát từ những thế hệ được nuôi dạy để tránh làm mất lòng người khác bằng mọi giá. Một đức tin sợ làm phật lòng bất cứ ai, ngay cả khi sự thật bị đe dọa, sẽ trở nên trống rỗng.
Cốt lõi của Phúc Âm là lời của Chúa Giê-su:
“Ta là đường đi, là lẽ thật, và là sự sống. Không ai đến với Cha nếu không qua Ta.”
Không có cách nào trình bày lẽ thật đó mà không làm phật lòng một thế giới chống lại nó.
Nếu một người nói chỉ để làm phật lòng người khác, thì tấm lòng của người đó đã sai lạc. Nhưng nếu trong lòng người đó có một ngọn lửa, được chính Chúa thắp lên, thì người đó phải nói. Và nếu lẽ thật đó làm xáo trộn, nếu nó làm phiền lòng những người đang sống thoải mái, thì cứ để như vậy.
Ẩn bớt