Chủ Nhật, 31 tháng 7, 2011

LINH TÂM TRÍ

          LINH TÂM TRÍ

Chiến địa là hồn người tái sinh,
Nơi phân thắng bại giữa thân -linh.
Trí theo xác thịt thì luôn chết,
Trí hướng theo linh ắt sống vinh.
Sự sống, an bình linh thoả mãn,
Nặng nề, chết chóc khổ hồn mình.
Ôi xin Chúa cấp linh tâm trí,
Để chúng tôi sinh hoạt hiển vinh.

* La 8:6; Eph.4:23


CƠ ĐỐC NHÂN PHILAĐENPHI

CƠ ĐỐC NHÂN PHILAĐENPHI

          Theo ý nghĩa ở Khải 3:7; 12:11, chúng ta có thể tìm ra các loại cơ đốc nhân Philađenphi như sau:

          1- Cơ đốc nhân yêu mến Đức Chúa Trời. II Ti 3:4 dùng chữ Philotheos : “những kẻ yêu mến Đức Chúa Trời”. Đó cũng là tên của quí nhân quan chức, người được Luca đề tặng hai sách Luca và Sứ đồ. Đọc ngược là “Theophilơ” (Sứ 1:1). Sự yêu mến Chúa là yếu nghĩa của Sách Phục truyền (6:5; 10:12, 11:1, 19:9), được sứ đồ Gia cơ nêu thành hòn đá thử vàng để đánh giá những ai được mão miện và hưởng vương quốc (Gia 1:12; 2:5). Rất nhiều anh em trong sự khôi phục chưa thực sự yêu mến Đức Chúa Trời. Vua Đavít và vua Exêchia được mô tả là người yêu mến Đức Chúa Trời.

          2- Cơ đốc nhân yêu mến lời Đức Chúa Trời. Trong hội thánh tại Lamã có một thánh đồ tên là Philologos (yêu mến Logos)- La 16:15. Các cơ đốc nhân yêu mến kinh thánh như Exơra, Timôthê, Phaolô, G.Campell Morgan, v.v… Nhiều anh em ham thích đọc bài của các sứ giả mà quên đọc chính kinh thánh, vì họ không thật sự yêu lời Chúa.

          3- Cơ đốc nhân yêu chồng. Tít 2:4. Sara là phụ nữ đắc thắng kính trọng chồng, yêu chồng (I Phi 3: 5-6)- Phierơ gọi các bậc nữ lưu ấy là “các đàn bà thánh”, thí dụ là Anne, Ạc sa vợ Ốt niên, vợ nhà cải chánh Martin Luther.
          4- Cơ đốc nhân yêu con trẻ
          - Chúa quở trách những ai ngăn con trẻ đến cùng Ngài. Thánh đồ lớn tuổi thường dễ có khuynh hướng khinh dễ các thanh thiếu niên trong Chúa về tác phong và trình độ. Timôthê là thực chứng cho việc đó (ITi 4:12, ICô 16:10)

          5- Cơ đốc nhân yêu mến khách. “ Chớ quên tiếp đãi khách, bởi có kẻ làm điều đó, đã tiếp đãi thiên sứ ( sứ giả) mà không biết” ( Hê 13:1). Lót tiếp đãi thiên sứ mà không biết. Chữ “ thiên sứ” nghĩa đen là “ sứ giả”, cũng ngụ ý các tôi tớ Chúa trong xác thể. Anh Gai út trong thời sứ đồ Giăng đã tiếp đãi và đưa đường anh em công nhân lữ khách. Việc làm đó cụ Giăng bảo là đồng công với lẽ thật.

6. Cơ đốc nhân yêu anh em. Từ “ Philadenphi” có nghĩa tình yêu thương anh em. Các giáo hội xuyên tạc từ liệu này và phỉ báng “ anh em là bậy bạ”. Phao lô khuyên ta coi “ trai trẻ như anh em.., gái trẻ như chị em, song phải thanh sạch mọi bề”. Satan sợ chúng ta kinh nghiệm tình thương yêu huynh đệ thuộc linh, thánh khiết, vì sự kiện đó khai tử hệ thống phẩm trật giáo hội – Math 23: 8 – 9.

7. Cơ đốc nhân giúp đỡ sứ giả của Chúa. “ Ai tiếp đãi các ngươi ấy là tiếp đãi ta, ai tiếp đãi ta là tiếp đãi  Đấng sai  ta. Ai vì danh tiên tri mà tiếp đãi tiên tri, thì sẽ được phần thưởng của tiên tri, ai vì danh người công nghĩa mà tiếp đãi người công nghĩa, thì sẽ được phần thưởng của người công nghĩa”. Người công nghĩa là thánh đồ thông thường, tiên tri là sứ giả, đầy tớ do ân thiên triệu của Chúa. Ai giúp đỡ tiên tri sẽ được phần thưởng lớn hơn. Êbếtmêlết cứu thoát tiên tri Giêrêmi  khỏi chết dưới hố sâu, Chúa ban thưởng là giải cứu ông khỏi  cơn diệt vong khi thành Giêsusalem  bị quân thù phá vỡ; tượng trưng đại nạn (Giê 38: 7 – 13; 39: 16 – 18). Ônêsiphôrơ an ủi và phục sự sứ đồ Phao lô, nên Phao lô  xin Chúa thương xót  ban cho anh ấy vào vương  quốc Thiên hi niên (II Ti 1: 16 –18). Nữ chấp sự  Phêbê  bảo trợ cho sứ đồ Phaolô (La 16:1).

8. Cơ đốc nhân liều mạng sống vì Chúa.
Các đồng công và trưởng lão tại Giêsusalem giới thiệu Banaba và Phaolô cùng các hội thánh các nơi rằng: “ Là hai người đã liều mạng sống (hồn) mình vì danh Chúa chúng ta là Jésus Christ” ( Sứ 15:2 – 6).
“ Bêritsin và Aguila, bạn đồng công với tôi trong Christ Jésus. Họ vì mạng sống tôi mà đưa cổ ra nên chẳng những chỉ một mình tôi cảm tạ họ nhưng cả các hội thánh các dân tộc cũng vậy” (La 16: 3 – 4).

9. Cơ đốc nhân vui lòng dâng mình. “ Amasa, con trai của Xiếcri, là người vui lòng dâng mình cho Đức Giêhôva” ( II Sử 17: 16). “ Lòng ta ái mộ các quan trưởng của Ysơraên, là những người dâng mình cách vui lòng , Đáng ngợi khen Đức Giêhôva” ( Quan 5: 2, 9). Sulamít người yêu của vua Salômôn làm tiêu biểu cho người đắc thắng của Salômôn lớn hơn, là Jêsus. Sulamít được vinh hạnh sinh hoạt với đoàn chí nguyện tại Mahanaim (Nhã 6:11-13).

          10- Cơ đốc nhân rộng rãi dâng tiền. Người đắc thắng không phục sự mamôn , hay dùng mamôn để chủ trị các thánh đồ. Sau buổi lễ dâng hiếu, vua Đavít cầu nguyện: “nhưng tôi là ai, và dân tôi là gì, mà chúng tôi có sức dâng cách vui lòng như vậy? Vì mọi vật đều do nơi Chúa mà đến, và những vật chúng tôi đã dâng cho Chúa chẳng qua là đã thuộc về Chúa “- cũng xem gương anh em Côrinhtô (II Cô 9:).

          11- Cơ đốc nhân yêu mến sự hiện ra của Christ Jésus. Phao lô nói: “Chúa là quan án công nghĩa, sẽ ban mão ấy cho ta trong ngày đó, chẳng những cho ta mà thôi, nhưng cũng cho mọi kẻ yêu mến sự hiện ra của Ngài nữa” (II Ti 4:8). Có một nhà chăm sóc bầy của Chúa phải phiền trách một anh em rằng đừng giảng Chúa tái làm nữa kẻo e anh em thách đồ bối rối. Chỉ có cơ đốc nhân Philađenphi mới sẵn sàng gặp Chúa tái lâm, và thực sự mong Chúa đến ngay hôm nay./.


HAI BƯỚC XƯNG NGHĨA CỦA TÍN ĐỒ

HAI BƯỚC XƯNG NGHĨA CỦA TÍN ĐỒ


Rô. 3:24, “nhờ ân điển Ngài mà  họ được xưng nghĩa  nhưng không bởi sự cứu chuộc
                  trong Christ Jesus”.
Rô. 3:26, “ để hiện nay bày tỏ sự công nghĩa Ngài, hầu chứng minh chính mình Ngài
                 là công nghĩa  mà xưng nghĩa cho kẻ tin đến Jesus”
I Cor.6:11, “ trong anh em vốn cũng có những kẻ như thế, nhưng trong danh Chúa Jesus 
                     và trong Linh của Đức Chúa Trời  chúng ta, thì anh em đã được rữa sạch, đã
                     được thánh hoá và được xưng nghĩa rồi”

   Trong Hán tự thì chữ “nghĩa” gồm có hai chữ: chữ “dương”, nghĩa là con dê, hay con chiên, nằm trên, bao phủ lấy chữ thứ hai là chữ “ngã”, có nghĩa là tôi, bản ngã. “Nghĩa” không phải là ân nghĩa, công chính, ngay thẳng mà là kể như vô tội, vì sự bao phủ của Chúa Jesus, Chiên con của Đức Chúa Trời .

   Anh em thường nói “xưng công chính”, tôi thích nói” xưng nghĩa’ chính xác hơn. 
   Xưng nghĩa là gì? Sự xưng nghĩa là hành động của Đức Chúa Trời, qua đó Ngài ưng thuận, phê chuẩn, tán thành, nhìn nhận con người theo tiêu chuẩn công nghĩa của Ngài. Đức Chúa Trời có thể xưng nghĩa, biện minh, biện chính ai tin Chúa Jesus như là vô tội, là công nghĩa trước mặt Ngài trên nền tảng sự cứu chuộc của Christ. Xưng nghĩa là tuyên bố ai đó là vô tội, là công nghĩa, là được trắng án.

    Thơ Rô ma  chương 3 và 4 phô bày hai bước mà Đức Chúa Trời xưng nghĩa người tín đồ. Rô ma chương ba nói về sự xưng nghĩa khách quan, sự xưng nghĩa theo địa vị do sự chết của Christ hoàn thành. Rô ma chương 4 trình bày sự xưng nghĩa chủ quan, theo tâm tính do sự phục sanh của Christ thực hiện.

   Trong bước thứ nhất, khi một người ăn năn tội lỗi mình, quay về với Chúa, tiếp nhận Chúa Jesus làm Cứu Chúa mình. Dựa trên sự cứu chuộc cùng đền tội của Chúa Jesus, Linh Chúa sẽ làm cho mọi sự việc như sự tha thứ tội lỗi, sự rửa sạch, sự giải hoà, sự cứu chuộc của Chúa  trở nên có hiệu lực trên người đó ngay giờ phút đó. Kết quả, mọi sự việc đó đem cho người mới tin đến địa vị được xưng nghĩa theo địa vị, một thánh đồ công nghĩa khách quan.
    Trong bước thứ hai, người tín đồ cần được xưng nghĩa trong bản chất, cần trở nên người công chính, ngay thẳng trong tâm tính. Đó là sự công nghĩa thực nghiệm do sự phục sinh của Chúa Jesus thực hiện.

   Sáng 15:5 chép, “ Apraham tin Đức Chúa Trời  thì Ngài kể sự đó là công nghĩa cho người”. Chỉ cần tin lời Chúa, Ápraham được xưng nghĩa về địa vị. Ngay sau đó Apraham cậy năng lực xác thịt hầu việc Đức Chúa Trời là sinh ra Íchmaen, để thành toàn kế hoạch Đức Chúa Trời về người thừa kế mà Ngài hứa cho ông. Nên khoảng 13 năm sau, Đức Chúa Trời hiện ra và truyền lịnh Apraham phải chịu cắt bì. Cho nên, để được xưng nghĩa về mặt chủ quan, xác thịt và khả năng thiên nhiên của chúng ta cần được cắt bỏ.

   Đại đa số tín đồ chỉ được cứu rỗi, được xưng nghĩa về mặt địa vị, nhưng họ không được xưng nghĩa bên trong để trở nên người công nghĩa thực sự. Họ còn bất nghĩa và bất chính. Nên đây là công tác sâu hơn của Đức Chúa Trời khi kêu gọi dân Ngài ra khỏi mọi điều gì khác hơn Đức Chúa Trời và đem họ trở lại chính Ngài, để họ tin cậy Ngài hơn tin cậy mình.

    Sự xưng nghĩa bước thứ hai nầy liên quan sự sống, để con người trở nên các người thừa kế hoàn thành mục đích của Đức Chúa Trời. Ngài muốn chiếm được nhiều con giống như Con đầu lòng của Ngài ( Rô. 8:29-30), có sinh hoạt vương quốc ngay hôm nay ( Rô. 14:17).

     Khải 19:8 chép, cũng đã cho nàng ( Cô Dâu của Christ ) mặc bằng vải gai mịn, sáng láng, tinh sạch; vì vải gai mịn ấy là các sự công nghĩa ( các việc làm công nghĩa) của các thánh đồ”
    Đây là đôi điều vượt quá sự công nghĩa ban cấp. Sự công nghĩa ban cấp thì miễn phí, dành cho mọi tín đồ, giúp họ đáp ứng sự đòi hỏi của Đức Chúa Trời công nghĩa. Đó là sự công nghĩa bởi đức tin. Nhưng tại đây có sự công nghĩa liên quan đến tính cách, đến sự biến đổi, đến đôi điều gì đó được truyền vào tín đồ, và là phương diện thực tiễn của sự công nghĩa trong sự sống. Đây là sự công nghĩa chủ quan của tín đồ đắc thắng, giúp họ đáp ứng sự đòi hỏi của Đấng Christ đắc thắng.

   “Các việc làm công nghĩa của các thánh đồ”- chứ không còn là các việc làm xác thịt, do khả năng thiên nhiên, như việc làm của Apraham.- Đó là sự đồng hoá theo hình ảnh Ngài. Đó là Cô Dâu, Vợ của Chiên Con, và khi Chúa có được điều đó, Ngài thoả mãn. Ngài đích thực thoả mãn, và cả thiên đàng cũng thoả mãn./,

Đức Chúa Trời Trong Thơ La mã


Đức Chúa Trời trong thơ La mã,
Có nhiều hình thể để phô bày,
Hiện thực, gần gũi với ta nay,
Dân thánh vui hưởng Ngài tất cả.