Thứ Bảy, 3 tháng 4, 2021

TA SẼ Ở ĐÂY CHO ĐẾN KHI NGƯƠI TRỞ LẠI-


 

“Ghê-đê-ôn thưa lại rằng: Nếu tôi được ơn trước mặt Chúa, xin  ban cho tôi một dấu rằng chính Chúa phán cùng tôi.  Xin chớ dang khỏi đây cho đến khi tôi trở lại cùng Ngài, đem  của lễ tôi, để trước mặt Ngài. Ngài đáp: Ta sẽ ở đây cho đến khi ngươi trở lại.  Ghê-đê-ôn bèn đi vô, dọn sẵn một con dê con, lấy một ê-pha bột làm những bánh nhỏ không men. Người để thịt trong rổ, đổ nước thịt vào nồi, rồi đem ra dâng các món ấy cho Ngài ở dưới cây thông” (Các Quan xét 6: 17-19).

 Thánh kinh khải thị Chúa của chúng ta là một Đức Chúa Trời kiên nhẫn vô hạn, có khả năng chờ đợi khôn lường. Chúa không hề vội vàng trong công việc, một năm trong thời gian trên trái đất chỉ là một ngày đối với Ngài. Cả cõi đời đời chỉ là một ngày vĩnh cửu trước mặt Chúa.

 Khi Ngài đề ra một việc gì, phát ra tiếng gọi một ai đó, Ngài kiên nhẫn chờ đợi người đó trở lại vâng phục Ngài. Chúa kêu gọi sự tình nguyện, Ngài không ép buộc một ai vâng lời Ngài. Ngài từng phán “Nếu ai muốn theo Ta…”. Chữ “nếu” là thời gian trì hoãn của chúng ta vâng lời Chúa, tức là thời gian Chúa chờ đọi chúng ta trở lại với Ngài sau khi nghe tiếng Ngài gọi. Thời gian kéo dài của chữ “nếu” dài ngắn tùy theo mỗi người.

Kinh thánh  bày tỏ những người trở lại cùng Chúa như sau:

1/--Áp-ram và Tha rê:

Công vụ chương 7: 2,“Đức Chúa Trời vinh hiển đã hiện ra cùng tổ phụ chúng ta là Áp-ra-ham, khi người còn  ở tại Mê-sô-bô-ta-mi, chưa đến ở tại Cha-ran”. Sau khi được Tha Rê (Chậm Trễ) dẫn dắt đến Cha- ran, Áp-ra-ham sống ở đó mãi đến năm cha ông qua đời, thì ông được 135 tuổi, tức là Đức Chúa Trời đã chờ ông đến 60 năm. Sau khi Tha-rê chết, Chúa hiện ra lần thứ hai tại Cha-ran, kêu gọi ông đến Ca-na-an. Như Vậy Chúa đã chờ Áp-ra-ham 60 năm cho đến khi ông trở lại và làm theo lời Chúa kêu gọi lúc đầu.

 2/Giô-na—

 Giô na 1:1,“Có lời Đức Giê-hô-va phán cho Giô-na con trai A-mi-tai như

vầy:  Ngươi khá chỗi dậy! Hãy đi đến thành lớn Ni-ni-ve, và kêu la nghịch cùng nó; vì tội ác chúng nó đã lên thấu trước mặt ta”.

 Giô-na nghe tiếng Chúa xong thì trốn đi, không muốn vâng lời Chúa, vì ông không muốn cho đế quốc A-si-ri ăn năn tội lỗi để thoát cơn đoán phạt của Chúa. A-si-ri là kẻ thù truyền kiếp của Israel.

 Sau khi bị quăng xuống biển, bị cá nuốt, và ở trong bụng cá ba ngày ba đêm, Giô na được con cá lớn đó nhả ra trên đất khô. Tử hải cảng Gia-phô, đất Israel, Giô-na đi tàu trên biển Đại trung Hải về phía Ta-rê-si, Tây Ban nha. Chúng ta không biết con hải vật nầy khạc Giô na lên bờ biển nào? Cho nên cũng vài ba ngày sau  “Lại có lời Đức Giê-hô-va phán cùng Giô-na lần thứ hai mà rằng:  “Ngươi khá chờ dậy! Hãy đi đến thành lớn Ni-ni-ve, và rao cho  nó lời ta đã dạy cho ngươi. Vậy Giô-na chờ dậy và đi đến Ni-ni-ve, theo lịnh của Đức  Giê-hô-va. Vả, Ni-ni-ve là một thành rất lớn, đi mất ba ngày đường.  Giô-na khởi đầu vào trong thành đi một ngày, thì rao giảng và nói rằng: Còn bốn mươi ngày nữa, Ni-ni-ve sẽ bị đổ xuống!” (Giô na 3:1-4).

 Chúa đã kiên nhẫn chờ đợi Giô -na trở lại điểm mà Ngài đã kêu gọi ông đi Ni-ni-ve lần đầu.

 3/-Dân Israel-

Bảy mươi người trong gia đình Gia-cốp sống tại Ai-cập khoảng 4 thế kỉ, đã trở  nên một tập thể đông khoảng vài triệu người. Chúa giới thiệu tập thể nầy với Pha-ra-ôn, vua Ai-cập đương thời, “Giê-hô-va, Đức Chúa Trời của dân Y-sơ-ra-ên có phán như vầy: Hãy cho dân ta đi, đặng nó giữ một lễ cho ta tại đồng vắng” (Xuất 5:1).

 Sau khi đem dân Israel đó ra khỏi Ai-cập, Chúa bày tỏ cho dân Israel mục đích của Ngài là: “Các ngươi sẽ thành một nước thầy tế lễ, cùng một dân tộc thánh cho ta”. Chúa muốn Israel trở thành một vương quốc thầy tế lễ, một dân tộc thánh khiết cho Ngài trên cả trái đất.

 Dân Israel ra khỏi Ai-cập khoảng năm 1450 TCN, cố gắng sống nếp sống vương quốc thầy tế lễ và làm dân thánh của Chúa, nhưng đến thời vua Ô-xia miền Bắc năm 785 TCN, và đời vua Ê-xê-chia năm 725 Nam quốc, qua miệng của tiên tri Ô-sê Chúa tuyên bố công khai rằng: “Sau khi Lô-Ru-ha-ma thôi bú, nàng (vợ Ô-sê) chịu thai và sanh một trai. Đức Giê-hô-va phán rằng: Hãy đặt tên nó là Lô-Am-mi; vì các ngươi chẳng phải là dân ta nữa, và ta sẽ không làm Đức Chúa Trời các ngươi nữa” (Ô-sê 1:8-9). Kể từ thời Ô-sê, Chúa không còn nhìn nhận Israel là tuyển dân của Ngài.

Rồi vào thời chức vụ của Chúa Giê-su, Chúa không còn coi đền thờ tại Jerusalem là nhà của Ngài nữa, nhưng là nhà riêng của chính họ. Chúa phán, “Nầy, nhà các ngươi sẽ bỏ hoang!  Vì, ta bảo, các ngươi sẽ không thấy ta nữa, cho đến lúc các ngươi sẽ nói rằng: Phước cho Đấng nhân danh Chúa mà đến!” (Ma-thi-ơ 23: 38-39).

 Từ thời tiên tri Ô-sê, Chúa phải chờ đợi gần 28 thế kỉ qua, cho đến khi Israel trở lại làm dân thánh khiết của Ngài, là sau khi Chúa Giê-su tái lâm. “Ai đã hề nghe một sự thể nầy? Ai đã hề thấy sự gì giống như vậy? Nước há dễ sanh ra trong một ngày, dân tộc há dễ sanh ra trong một chặp? Mà Si-ôn mới vừa nằm nơi, đã sanh con cái” (Ê-sai 66:8).

 Dân Israel mới sẽ được lập quốc trở thành một dân tộc mới đáp trúng mục tiêu của Đức Chúa Trời đề ra tại núi Si-nai. Từ núi Si-nai, Chúa phải đợi đến khoảng 3500 năm để Israel giủ bụi bặm và đứng lên: “Hỡi Si-ôn, hãy thức dậy, thức dậy, mặc lấy sức mạnh ngươi! Hỡi Giê-ru-sa-lem, là thành thánh, hãy mặc lấy áo đẹp! Vì rày về sau kẻ không chịu  phép cắt bì và kẻ ô uế sẽ không vào nơi ngươi nữa.  Hỡi Giê-ru-sa-lem, hãy chỗi dậy, giũ bụi bặm đi, và ngồi lên;  hỡi con gái Si-ôn, là kẻ phu tù, hãy cởi trói nơi cổ ngươi. Vậy nên dân ta sẽ biết danh ta;thật, trong ngày đó, nó sẽ biết rằng chính ta là Đấng phán rằng: Nầy, ta đây!” (Ê-sai 52:1-2, 6).

4/-Phi-e-rơ; khi Ngươi trở lại-

Trước khi Ngài chết, Chúa báo trước cùng Phi-e-rơ, “Si-môn ơi, Si-môn, nầy, Sa-tan đã đòi sàng sảy ngươi như lúa mì.  Song ta đã cầu nguyện cho ngươi, hầu cho đức tin ngươi không bị  mất. Vậy, đến khi ngươi đã trở lại, thì hãy làm cho vững vàng anh em ngươi” (Lu-ca 22:31-32).

 Phi-e-rơ đã kiêu ngạo chủ quan, tự tin, nên ông đã sa ngã khi chối Chúa ba lần. Vài ba tiếng đồng hồ sau ông đã trở lại với Chúa, Khoảng tuần lễ sau, tại bờ biển Ga-li-lê Chúa đã phục hồi danh dự và uy tín của  ông trước 6 môn đồ đánh cá trên biển Ga-li-lê và ăn sáng với Chúa tại bờ biển đó.

 Chúa tạo cơ hội để ông nói ra trước mặt các anh em là “Con yêu Chúa” ba lần ứng cho ba lần ông đã chối bỏ danh Ngài.

5/-Mác trở lại-

Mác là một cậu ấm, một công tử của một thế gia tại Jerusalem, con trai một quân nhân La mã và mẹ là Ma-ri, người israel. Khi ra đi tập sự hầu việc Chúa lần đầu tiên với Phao-lô và Ba-na-ba, có lời chép về Mác như sau: “Vậy, Sau-lơ và Ba-na-ba đã chịu Thánh Linh sai đi…cũng có Giăng theo làm thừa sai cho họ--Phao-lô với đồng bạn từ Ba-phô giương buồm sang Bẹt-giê thuộc Bam-phi-ly. Nhưng Giăng lìa họ, trở về Giê-ru-sa-lem” (Công 13:4-5, 13).

 Mới ra đi hầu việc Chúa được mấy tháng, Giăng cũng gọi là Mác, đã bỏ cuộc, trở về cùng mẹ tại Giê-ru-sa-lem.

 Sau đó vài ba năm, Ba-na-ba đem ông đi đảo Chíp-rơ huấn luyện ông lần nữa. Cám ơn Chúa 10 năm sau, Mác đã trở lại điểm xuất phát mà Chúa đã gặp ông lần đầu, ông trở nên một thanh niện hữu dụng cho nhà Chúa khi Phi-e-rơ dùng ông làm thông dịch viên tại xứ Ba-by-lôn—“Hội thánh tại Ba-by-lôn, là kẻ được chọn với anh em, chào thăm  anh em, con tôi là Mác cũng vậy” (1 Phi-e-rơ 5:13).

Vài năm sau nữa, Phao-lô rất cần sự hợp tác của Mác, Phao- lô nói với Ti-mô-thê, “chỉ có Lu-ca ở với ta. Hãy đem Mác đến với con, vì người có ích

cho ta về chức vụ” ( 2 Ti-mô-thê 4: 11)

 Mác đã trở lại  điểm xuất phát khi mà Chúa chạm đến ông làn đầu khi ông dâng mình ra đi vì Danh Ngài tại các buổi nhóm trong hội thánh tại An-ti-ốt.

6/ Các tôi tớ riêng rẽ của Chúa

Ma-thi-ơ 21: 28-32,"Các ngươi nghĩ sao? Một người kia có hai con trai, đến bảo đứa thứ nhứt rằng: 'Con ơi, hôm nay hãy ra làm vườn nho.' 29 Đứa ấy thưa rằng: 'Tôi không muốn', nhưng sau hối hận rồi đi.  Đoạn,người đến đứa thứ hai, cũng bảo như vậy. Đứa nầy rằng:  'Thưa cha, vâng,' nhưng rồi không đi. Trong hai con đó, đứa nào làm theo ý muốn của cha?"Họ đáp  rằng: "Đứa thứ nhứt." Jêsus phán cùng họ rằng: "Quả thật,ta nói cùng các ngươi, bọn thâu thuế và phường kỵ nữ vào nước Đức Chúa Trời trước các ngươi.   Giăng do đường công nghĩa đến cùng các ngươi, mà các ngươi không tin người,  nhưng bọn thâu thuế và phường kỵ nữ thì tin người; còn các ngươi dẫu thấy vậy,  mà rồi cũng không ăn năn để tin người ”.-

Theo bạn, đứa con thứ nhất, con trưởng ở đây là ai? Do lời Chúa nói, “bọn thâu thuế và phường kỵ nữ vào nước Đức Chúa Trời trước các ngươi”, thì tội nhân của dân ngoại vào nước ngàn năm của Chúa trước dân Israel truyền thống là dân Pha-ri-si…

 Điều tôi nhấn mạnh ở đây là sự cách khoảng thời gian  khi một người gặp Chúa, và thời điểm người ấy trở lại đáp ứng sự đòi hỏi của Chúa.

Khoảng thời gian cách trở như vậy là bao nhiêu năm trong đời sống của bạn? Vài  giờ đồng hồ như Phi-e-rơ, hay mấy ngày như Giô na, hoăc 60 năm như Áp-ra -ham. Đừng để tính cách lần lữa, trì hoản ngăn trở bạn chậm trở lại với Chúa, với sự kêu gọi hay sự đòi hỏi của Chúa mà bạn đã biết rõ ngay từ ban đầu.

Khải Đạo—March 3, 2021

 

Thứ Bảy, 27 tháng 3, 2021

Ý NGHĨA CHỮ “HƯU” TRONG HOA VĂN-

 Những nhà thông thái Trung Hoa, ngay sau khi ra khỏi tháp Ba- bên ở Iraq đã cùng nhau di cư về phương đông, rồi xuôi nam đến vủng Trung nguyên Trung quốc. Họ đã lập quốc tại đó. Vào khoảng thế kỉ 25 TCN, họ đã sáng chế ra loại chữ Trung Hoa tượng hình. Họ đem câu chuyện trong 11 chương đầu tiên của sách Sáng thế kỉ vào kho tàng chữ viết của họ.

Hôm nay tôi muốn bàn về chữ 休 hưu.
Hưu là Thôi, ngưng, ngừng, ngớt, nghỉ ngơi, thôi việc. Chữ “hưu” gồm hai chữ ghép lại. Chữ bên trái là “nhân”, con người đang đứng. Chữ bên trái là “mộc”, cây cối.
Theo ánh sáng của Kinh thánh chữ “hưu” mang hai ý nghĩa sâu sắc:
1--Hưu là ngươi trồng cây:
Theo thông thường, ngươi lớn tuổi, nghỉ hưu công việc công chúng, trở về điền viên chăm lo trồng cây ăn trái, nhất là chăm lo trồng cây kiểng để tiêu khiển. Mọi người già đều sống mật thiết với cây cối trong vườn nhà mình.
Có thể tư tưởng trồng cây như vậy bắt nguồn từ Kinh thánh. Trong Sáng thế kí 2: 15, “Giê-hô-va Đức Chúa Trời đem người ở vào cảnh vườn Ê-đen để trồng và giữ vườn”.
Công việc của những người già sâu nhiệm trong Chúa là phải trồng cây trong cộng đồng, là trồng người, là chăm sóc những cây non trong vườn Chúa.
Tôi rất tâm đắc với lời của Su-la-mít, tượng trưng người tìm kiến Chúa, khi người ví sánh dân Chúa như những cây hương liệu, cây ăn quả trong vườn:
--Nhã ca 4: 12-14, “Em gái ta, tân phụ ta là vườn đóng kín, Là nguồn nước khóa lại, là suối niêm phong. Đám cây mình là vườn địa đàng, Có thạch lựu và trái ngon, Hoa phụng tiên và cây cam tòng; Cam tòng và hồng hoa, xương bồ và nhục quế, Cùng mọi thức cây có mùi thơm, Một dược, lư hội với các hương liệu có danh”.
Vườn đây tượng trưng giáo hội, cộng đồng dân Chúa ngày nay.
--Nhã ca 6:11, “Tôi đi xuống vườn hạnh đào, Đặng xem cây cỏ xanh tươi của trũng, Đặng thử coi vườn nho đã nứt đọt, Thạch lựu đã nở hoa chưa”.
Su la mít là người làm vườn siêng năng chăm sóc cây cối, là chăm sóc nhưng tín đồ đi sau mình
--2. Hưu là người dựa vào cây mà an nghỉ:
1 Phi-e-rơ 2:24, “Chính Ngài gánh tội lỗi chúng ta trong thân thể Ngài trên cây gỗ”. Chúa bị treo mình trên cây gỗ (wood) chớ không trên cây cối còn sống (tree). Nhưng Khải huyền 22: 2, “Bờ sông bên nầy và bên kia đều có cây sự sống ra trái mười hai mùa, mỗi tháng một mùa”. Theo nguyên văn Hi lạp tữ ngữ “cây sự sống” là the wood of life (gỗ chết) của sự sống zoe, đây là gỗ sự sống, không phải Tree of life, cây sự sống như các bản dịch Kinh thánh, và chúng ta đã in trí.
Trong chữ “hưu” có chữ “nhân*(người) dựa vào cây để được hưu trí, được ngừng nghỉ lo toan hay làm việc.
Công việc cứu chuộc của Chúa trên thập tự giá đã xong rồi, đã được trọn vẹn rồi. Đó là nơi linh hồn chúng ta phải dựa vào mà an nghỉ đến đời đời.
Ngay vào thời điểm nầy, năm 2021, vẫn còn giáo phái đang giảng nếu ai không tuân giữ luật Cựu ước, tiêu biểu là không giữ ngày sa bát, thì dù có tin vào công việc cứu chuộc của Chúa trên thập tự giá, người đó cũng không được cứu. ‘ Đó là loại tín đồ chưa được “hưu trí”.
MK.
1
1 bình luận
1 người đã xem

BỨC TRANH VÀ THỰC TRẠNG DÂN THÁNH NGÀY NAY-


 

BỨC TRANH VÀ THỰC TRẠNG DÂN THÁNH NGÀY NAY-
Các quan xét 5:
Trong dòng lịch sử của dân tộc Việt nam của chúng ta gần nửa thế kỉ qua, chúng ta thường được nghe những lời ca tụng về: “Các bà mẹ Việt Nam anh hùng”. Trong lịch sử của tuyển dân Israel Cựu ước, chúng ta cũng được nghe những lời ca tụng về “Bà Mẹ Trong Israel”. Người ta tin rằng tiên tri Sa mu ên là soạn giả sách Các quan xét. Ông chép, “Trong ngày của Sam-ga, con trai A-nát, Trong ngày của Gia-ên, các đại lộ bị bỏ hoang, Khách bộ hành phải đi tránh vào các con đường nhỏ. Cuộc sống ở nông thôn đã ngưng lại, Nó đã ngưng lại cho đến khi tôi, Là Đê-bô-ra, chổi dậy, Tôi chổi dậy như một người mẹ trong Y-sơ-ra-ên” (Các quan xét 5:6-7).
Sau khi cùng tướng quân Ba-rác lãnh đạo đoàn quân đánh thắng quân Ca-na-an, bà Đê-bô ra đã cảm tác một bài hát dài, có thế sánh ngang hàng các thi thiên trong quyến Thánh ca của hội chúng Đức Jehovah thời Cựu ước.
Qua bài hát nầy, tôi mượn lời của Đê-bô-ra để phác họa về “Bức Tranh Và Thực Trạng Dân Thánh Ngày Nay”.
1. Những Người Đắc Thắng:
--Câu 2--"Những quan trưởng (leaders) đã cầm quyền quản trị trong Israel, Và bá tánh dâng mình cách vui lòng! For that leaders led in Israel, For that the people willingly offered themselves, Bless Jehovah!”
Khi nào có những ông quản nhiệm thuộc linh, đầy ơn Chúa, tức khắc sẽ có nhiều thánh đồ tình nguyện dâng minh, hay dâng tiền cách vui lòng.Trong thời Cựu ước, hễ có một vị vua tốt thì tự nhiên có nhiều con dân Chúa nhiệt thành hầu việc Chúa, không cần lạc quyên tiền hay chiêu mộ người hầu việc Chúa, như chấp sự, cán sự,..v.vv. Và ngược lại.
Chữ “quan trưởng” ở đây là “leaders” người lãnh đạo. Thực ra dân Chúa chưa hiểu “sự cai trị” nhà Chúa là gì? Cai trị là làm leaders. Làm người dẫn dường, chớ không làm giám đốc, ngồi ghế bành xỉ ngón tay, còn mình thì không đụng ngón tay vào công việc. Mathio 20: 28 nói “cai trị” là cấp dưỡng, là cung cấp (to minister), là làm nô lệ cộng đồng. Ê-sai 3:7 cũng nói ai có thể cho hội chúng ăn, người đó là nhà cai trị- “Vì trong nhà ta không có bánh cũng chẳng có áo choàng; Các ngươi không nên chỉ-định ta cai-trị dân-chúng".
Nếu bạn không thể đào đâu ra lương thực thuộc linh, hay có lời khải thị cập nhật, thì đừng “cai trị” cộng đồng dân Chúa.
--Câu 3--“Hỡi các vua, hãy nghe; hỡi các quan trưởng (princes), khá lắng tai! Ta sẽ hát cho Đức Giê-hô-va-- Hear, ye kings; give ear, ye princes, I, [even] I, will sing to Jehovah; I will hymn to Jehovah the God of Israel”.
Tại sao trong Các quan xét 21: 25 nói vào thời ấy không có vua chúa nào cả, mà sao câu nầy nói đến các vua và các quan trưởng?.
Vua ở đây không là chức vị, vương vị để hành quyền, mà là một tình trạng thuộc linh cao hơn những người đồng thời, một tính cách vương giả ưu việt hơn các đồng bạn.
Sách Ma-thi-ơ chép 8 lần nói Chúa Giê-su ở trên núi khi Ngài dạy dỗ quần chúng, Ngài ở trên núi để cầu thay cho các môn đồ chèo thuyền trong đêm tối giông bão, Ngài biến hình trên núi hóa hình, Ngài dạy bài giảng Mathio 5-7 ở trên núi, Ngài ở trên núi khi bị bắt và Ngài đứng trên một núi ở Ga-li-lê để truyền đại mạng lệnh môn đồ hóa muôn dân. Vào lúc nầy, Chúa Giê-su là Vua trong tình trạng thuộc linh của Ngài, chớ chưa làm vua theo nghĩa bề ngoài. Cho nên giữa vòng chúng ta có những tín đồ, không nhất thiết là mục tử quản nhiệm, đang có lối sống như vua chúa thuộc linh, có khả năng đứng trên cao mới ban bánh của Đức Chúa Trời cho quần chúng xung quanh mình.
Có nhiều vua chúa hống hách giữa dân Chúa ngày nay, nhưng rất ít người làm “vua” theo ý nghĩa giảng dạy, cho người khác ăn, vì họ đang ở “trên cao” trong vương vị thuộc linh, ẩn giấu.
--Câu 7-- Cho đến chừng ta là Đê-bô-ra chỗi dậy Như một người mẹ trong Israel.
Phao lô nói ông là nhũ mẫu con cái thuộc linh của ông. “Nhưng chúng tôi đã trở nên mềm mại giữa anh em, như người mẹ cho con bú, dịu-dàng săn-sóc chính con mình” (1 Tê. 2:7). Tôi thấy nhiều bà chủ la hét, hà khắc con dân Chúa, như đà điểu đối xử khắc khổ con cái mình (Gióp 39:19), nhưng ít thấy chị nuôi, chưa thấy nhiều nhũ mẫu như Đê-bô-ra, như Phao lô dịu dàng chăm sóc con dân Chúa. Xin Chúa dấy lên nhiều bà mẹ như Đê-bô-ra.
--Câu 9—“Lòng ta ái mộ các quan trưởng (governors) của Israel, Là những người trong dân chúng dâng mình cách vui lòng- My heart is toward the governors of Israel, who offered themselves willingly among the people. Bless Jehovah!”
Chữ “quan trưởng” trong câu 2 là leaders (người dẫn dắt), còn chữ “quan trưởng” trong câu nầy là governors—nhà cai trị. Khi những người chăn chiên được người khác ái mộ, kính trọng, đưa đến kết quả là có nhiều người vui lòng, tình nguyện dâng đời mình, dâng hiến của cải cho Chúa.
--Câu 13—“Bấy giờ, kẻ còn sót lại trong những người cao quý đều xuống, Đến cùng các tráng sĩ đặng ra trận” Câu nầy dịch trật nhiều. Then come down, thou, the remnant of nobles, [as his] people; Jehovah! come down with me in the midst of the mighty ones”.
Bản Truyền thống dịch sai câu nầy. Những người cao quý là các người có tính cách vua chúa đều đến cùng tôi, là Đê-bô-ra, chớ không đến cùng ai khác. Chúa dấy Đê-bô-ra lên, như một thanh nam châm có sự thu hút con dân Chúa đến với Chúa. Giăng báp tít chỉ đường môn đồ mình đến cùng Chiên Con. Ngôi sao dẫn dường các nhà thông thái đến cùng Tân vương Do Thái mới sinh. Đừng ai thu hút dân thánh đến với mình như Áp-sa-lôm, như A-bi-mê-léc, con riêng của Ghi-đê-ôn ở Si-chem, hay như vua bá đạo Giê-rô-bô-am thu hút hết 10 chí phái Israel. Những người thu hút dân chúng đến với mình sẽ gặp thảm cảnh trong hồi kết.
--Câu 14-- Các quan trưởng (governors) đến từ Ma-ki, Và những kẻ cầm cây phủ việt đến từ Sa-bu-lôn.-- Out of Machir came down governors, And out of Zebulun they that handled the staff of the ruler (bản Darby).
Đây là một câu Kinh thánh dễ bị dịch sai và hiểu lầm. Bản TKTC dịch: “Từ Ma-kia các chỉ-huy-trưởng đi xuống, Và từ Sa-bu-lôn những kẻ nắm cây gậy của thầy thông-giáo ấy”. Bản Dịch Mới 2002 dịch “Những vị tư lệnh từ Ma-ki kéo đến, Và những người cầm gậy cầm quân từ Sa-bu-lôn tiến ra”.
Các quan trưởng (governors) cầm gậy nhà cai trị, không cầm phủ việt của vua chúa. Cây gậy nói lên quyền uy, quyền bính của các mục tử, của những người có trách nhiệm trong cộng đồng dân Chúa. Chúa tạo tác họ từ đồng vắng, trong hậu cảnh nào đó chúng ta không biết được, nhưng đúng giờ của Chúa, Ngài sẽ cho họ xuất hiện để dẫn dắt dân thánh. Họ không xuất thân từ các trường Kinh thánh của tôn giáo, hay của một phe đãng Cơ Đốc nào đó đưa ra hầu gành giật uy thế cho phe mình. Họ là người của Chúa, xuất hiện hầu việc Chúa mà thôi.
--Câu 15-- “Các quan trưởng của Y-sa-ca đều theo Đê-bô-ra, Y-sa-ca và Ba-rác đồng một ý nhau- And the princes in Issachar were with Deborah; And Issachar, like Barak”.
Đê-bô-ra là mẹ, là thầy của Ba-rác, hai người là một, như Phao-lô với Ti-mô-thê. Các quan trưởng Y-ca-sa, kẻ thì theo Đê-bô-ra, người thì hợp tác với Ba-rác cũng được cả. Đê-bô-ra không có quyền lãnh đạo độc chiếm, không muốn lôi kéo mọi người theo mình. Tôi không thấy điều như vậy trong nhà Chúa. Tôi chỉ thấy sự thanh trừng những đối thủ đồng thời để mình có địa vị độc tôn, không chia bớt quyền lực, địa vị cho bất cứ ai. Đê-bô-ra không như vậy.
--Câu 18--, “Sa-bu-lôn và Nép-ta-li, là dân tộc liều mạng mình Ở trên các nơi cao của đồng ruộng.- Zebulun is a people [that] jeoparded their lives unto death, Naphtali also, on the high places of the field”.
Bản Dịch mới 2002 dịch câu nầy thật tuyệt vời, “Sa-bu-luân là những hào kiệt coi thường cái chết; Nép-ta-li cũng vậy, sẵn sàng hy sinh mạng sống ở chốn sa trường”.
Các quan xét 4: 6 nói chỉ có 10 ngàn quân từ Sa-bu-lôn và Nép-ta-li dâng mình bước theo Đê-bô-ra và Ba-rác trong cuộc chuyển động nầy. Đặc biệt Đê-bô-ra nói đến tình trạng “liều mạng” của hai chi phái vùng Ga-li-lê nầy.
Giô-tham, nói về Ghi-đê ôn, bố mình “Vì cha tôi chiến đấu cho quý vị, liều mình mà giải cứu quý vị khỏi tay dân Ma-đi-an”(Các quan xét 9:17). Chữ liều mình ở đây là endangered his life—nguy hiễm cho mạng sống. Phao lô nói về hai người bạn của mình là A-qui-la và Bê-rít -sin, “là hai người liều chết để cứu mạng sống tôi” (Rô ma 16:4) Bản TKTC dịch, “họ vì sinh mạng của tôi đã đánh liều chính cái cổ của họ”.
Rải rác trong cả lịch sử giáo hội, hàng ngàn hàng vạn người đã liều thân, liều mình vì vinh quang của Chúa, để rao phúc âm những vùng chưa có dấu chân người gieo giống, để liều mình rao giảng những lẽ thật hầu lật đổ những hệ thống tôn giáo tối tăm. Xin Chúa dấy lên nhiều thánh đồ liều mình vì cớ chính nghĩa của Ngài ngay hôm nay.
2. Những Người Thất Bại:
--Câu 10—“Hỡi các người cỡi con lừa bạch, Ngồi trên thảm, Đi bộ trên đường cái, khá hát mừng”. BDM “Hỡi các người cưỡi lừa trắng, Ngồi trên yên bọc nhung, Và những người đi bộ trên đường cái, hãy hát mừng”- Bản TKTC “Các ngươi, những kẻ cỡi lừa trắng, Các ngươi, những kẻ ngồi trên các tấm thảm giàu, Và các ngươi, những kẻ đi trên đường—hát lên!” Bản Darby “Ye that ride on white she-asses, ye that sit on carpets, and ye that walk by the way, consider”.
Có ba hạng lọai tín đồ trong giáo hội ngày nay. Người thì cỡi lừa trắng, theo ngôn ngữ hiện đại, họ có xe Rolls-Royce chẳng hạn; kẻ thì sống trong tư gia như cung điện, ngồi chễm chệ trên ghế bành có bọc nhung, và còn rất nhiều người đi bộ, chân đất, hoặc đi xe đạp, honda cũ mèm. Vua Sa-lô-môn hóm hỉnh quan sát ”Ta đã thấy kẻ tôi tớ đi ngựa, còn quan trưởng đi bộ như tôi tớ vậy” (Truyền 10:7) “I have seen servants upon horses, and princes walking as servants upon the earth”.
Tôi đã từng thăm viếng những ngôi nhà nền đất, vách bằng rơm nhồi bùn, mái tranh thấp lè tè, và cũng được thấy những cung điện xa xỉ của thánh đồ tự xưng là môn đệ của Con Người không chỗ gối đầu..
Trong giáo hội ngày nay có những tín đồ công tử, có những tín đồ sống theo lối sống giai cấp thượng lưu. Có nhiều tín đồ có tính cách thuộc linh vương giả, sống như quan trưởng thuộc linh, phải cúi đầu cuốc bộ trước sự khinh chê của hạng tín đồ thượng lưu trong hội thánh. Thân phận thuộc linh mình là tôi tớ ma-môn, là tôi tớ của tổ chức tôn giáo Cơ Đốc lạm quyền, nhưng nhìn bề ngoài, hạng thánh đồ thương lưu đó đang sống trên nhung lụa êm ấm, phè phởn., như những đại gia thế tục.
--Câu 15, 16—"Còn trong các gia tộc của Ru-bên, Người ta cứ đắn đo suy nghĩ trong lòng -- In the divisions of Reuben there were great resolves of heart! In the divisions of Reuben there were great deliberations of heart!”
Câu nầy lặp lại hai lần ngụ ý nhấn mạnh đến tình trạng trù trừ của dân Ru-bên không quyết tâm theo Đê-bô-ra phụng sự Chúa. Giô suê 18 nói 7 chi phái lần lữa không quyết tâm chiếm xứ thánh. Tình trạng trù trừ, suy nghĩ đắn đo, nhưng giẫm chân tại chỗ trước tiếng gọi, trước sự chuyển động của Chúa, Họ mất cơ hội hầu việc Chúa đến đời đời. Cơ hội hầu việc Chúa mở ra cho chúng ta như con chim sẻ, nếu chúng ta không nắm bắt cơ hội, cơ hội sẽ bay mất, chúng ta mất mát trầm trọng. Vì câu tiếp theo nói về Ru-bên “còn nán trễ trong các ràn chiên”
--Câu 17 – “Ga-la-át vẫn còn ở mãi bên kia sông Giô-đanh; Còn Đan, sao ngươi cứ lẩn quẩn trên các chiếc thuyền? A-se vẫn ngồi bất động bên bờ biển, Đành lòng an cư bên các bãi thuyền - Gilead abode beyond Jordan; And Dan, why did he remain in ships? Asher sat on the sea-shore, And abode in his creeks”.
Câu Kinh thánh nầy vạch trần đa số thánh đồ đang hưởng nhàn, chỉ lo cho bản thân, không lưu tâm, mang gánh nặng, cầu nguyện, góp phần vào cuộc tranh chiến từ các thời đại của đoàn người đắc thăng đi đầu chiến tuyến, đánh trận cho vinh quang của Đức Chúa Trời và sự an lạc của đại bộ phận dân thánh.
Có dân Ma -na-se ở Ga-la-át, bên kia sông Giô đanh, có Đan ở miền Bắc, có A-se ờ bờ biển phía Tây, Đời sống theo Chúa của họ trôi lềnh bềnh, sống lần lữa, sống nhàn hạ, không chịu thắt lưng, mang ách của Chúa. Tôi thấy đa số tín đồ ngày nay sống như vậy. Đã yên trí mình có cái vé vào thiên đàng, nên cứ nhàn nhã, không căng thẳng chiến đấu, chỉ lo hưởng thụ cuộc sống đời nầy. Ê-xê-chi-ên 22:13 chép, “thế mà trong các ngươi có sự vui mừng hớn hở. Người ta mổ bò, giết chiên, ăn thịt,uống rượu: Hãy ăn uống đi, vì ngày mai chúng ta sẽ chết!”. Sa tan không bao giờ tấn công lọai tín đồ đó, vì họ đã chiến bại rồi.
---- Hãy rủa sả, rủa sả dân cư của nó! Vì chúng nó không đến tiếp trợ Đức Giê-hô-va, Không đến tiếp trợ Đức Giê-hô-va giữa các dõng sĩ! Curse Meroz, saith the Angel of Jehovah; Curse, curse the inhabitants thereof; For they came not to the help of Jehovah, To the help of Jehovah among the mighty”.
Kết Luận:
Thiên Sứ Đức Jehovah trong câu Kinh thánh nầy là Đấng Christ trước khi giáng sinh. Ngài lên tiếng rủa sả những người dân nào của Chúa đã không đến giúp đở hay tiếp trợ cho dân Chúa đánh giặc.
Cuộc chến thăng nầy là công lao của những người dân đắc thắng, có tư cách vua chúa, liều minh hi sinh việc Chúa và an hem mình. Những tín đồ thất bại ám chỉ người người sống xa xỉ , nhàn hạ, không tiếp trợ những người hi sinh bước ra chiến đâu. Bạn al2 người đắc thắng hay người thất bại?
Có thể là hình ảnh về 3 người và văn bản cho biết 'Ûazor Lake Galilee Deborah Deborah haggoyim Judges Bethel 4:4 Ramah Dead Sea Judge of Israel Knowing-Jesus.com'
Phi Lê và Quang Cao
1 bình luận
3 lượt chia sẻ
Thích
Bình luận
Chia sẻ

Thứ Tư, 24 tháng 3, 2021

TIÊU MÒN KHỎI MIỀN ĐẤT LÀNH-


 


Phục truyền 28:15-21 chép:

“15 Nhưng nếu ngươi không nghe theo tiếng phán của Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi, không cẩn thận làm theo các điều răn và luật pháp của Ngài mà ta truyền cho ngươi ngày nay, thì nầy là mọi sự rủa sả sẽ giáng xuống trên mình  ngươi và theo kịp ngươi:

16 Ngươi sẽ bị rủa sả ở trong thành và ngoài đồng ruộng,

17 cái giỏ và thùng nhồi bột của ngươi cũng bị rủa sả,

18 hoa quả của thân thể ngươi, bông trái của đất ruộng ngươi,  luôn với lứa đẻ của bò cái và chiên cái ngươi, đều sẽ bị rủa sả!

19 Ngươi sẽ bị rủa sả khi đi ra và lúc đi vào.

20 Vì cớ ngươi làm điều ác, và lìa bỏ Đức Giê-hô-va, nên trong  mọi công việc ngươi bắt tay làm, Ngài sẽ khiến giáng cho ngươi sự rủa sả, kinh khủng, và hăm dọa cho đến chừng nào ngươi bị hủy diệt và chết mất vội vàng.

21 Đức Giê-hô-va sẽ khiến ôn dịch đeo đuổi ngươi cho đến chừng  nào nó diệt ngươi mất khỏi đất mà ngươi sẽ vào nhận lấy”.

Chữ “rủa sả” xuất hiện nhiều lần, tương đương với chữ “khốn thay” cũng xuất hiện nhiều lần trong Ma-thi-ơ 23, ngụ ý sự chết giáng trên thánh dân, nói lên tình trạng có nọc sự chết đang hành hạ những người chủ  mới trên đất Ca-na-an., hay trong hội thánh ngày nay.

Đất lành là gì?

Đừng nghĩ rằng chỉ có Witness Lee của Living Stream Ministry biết áp dụng đất hứa Ca-na-an là Đấng Christ tổng bào hàm. Tôi đọc sách của các ông như John Nelson Darby của hội Anh em Tây phương, ông T. Austin- Sparks và nhiều người khác nữa, họ đã sớm thấy Đất hứa là cơ nghiệp là phần hưởng hiện tại của  mọi thánh đồ ngay trong đời nầy, là các nơi ở trên trời trong Đấng Christ về mặt tình trạng cùng tính cách thuộc linh.

Vào lúc Môi-se giảng những lời trên đây dân Israel chưa vào vui hưởng tài nguyên của Đất hứa, nhưng Môi se cảnh cáo trước cùng họ rằng:  họ có thể bị “diệt ngươi mất khỏi đất mà ngươi sẽ vào nhận lấy”

Động từ “diệt khỏi” theo nguyên ngữ là : kâlâh dịch là  to end, to cease, be finished, perish. consume (away), determine, destroy (utterly), be (when . . . were) done, (be an) end (of), expire, (cause to) fail, faint, finish, fulfil, X fully, X have, leave (off), long, bring to pass, wholly reap, make clean riddance, spend, quite take away, waste.

 Nên dịch là  tiêu mòn đi, tiêu trừ đi, tận diệt, nhưng tiêu mòn là đúng nhất, ám chỉ một tình trạng tan rả, thối lui từ từ, bị cấm vận vui hưởng tài nguyện đất lành.

&& Môi se nói trước các nguyên nhân:

1—Không nghe theo tiếng phán của Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi”.

Hầu hết các loại giáo hội đều bất tuân lời Kinh thánh ở một mức độ nào đó. Các loại hệ phái Tin Lành thì bất tuân khi không bài trừ đảng Ni cô la, đảng tăng lữ cầm quyền, ăn trên ngồi trước trên dân thánh, trong khi Chúa muốn mọi thánh đồ đều bình đẳng nhau như là anh em. Mathio 23: 8-12, “Nhưng các con đừng để người ta gọi mình là thầy vì các con chỉ  có một Thầy còn tất cả đều là anh em.  Và đừng gọi ai dưới đất là cha của các con. Vì các con chỉ có  một Cha trên trời.  Cũng đừng chịu cho ai gọi mình là người lãnh đạo vì các con chỉ có một vị lãnh đạo là Đấng Christ.  Còn giữa vòng các con, ai là người lớn nhất sẽ làm đầy tớ cho  các con.  Ai tự tôn cao sẽ bị hạ xuống, còn ai hạ mình xuống thì được tôn cao”. Khải huyền 2: 6, “Nhưng con có điều này khá là con ghét các việc làm của bọn  Ni-cô-la mà Ta cũng ghét nữa”-

 Hội Anh em dám sửa đổi lời Kinh thánh trong nhiều lãnh vực như làm cho hội thánh địa phương trở thành hội thánh thống nhất hoàn vũ. Sửa đổi lời Kinh thánh về sự nhóm họp., về chức vụ lgiảng ời kinh thánh.

2—Cái giỏ và thùng nhồi bột”:

Cái giỏ và thùng nhồi bột tượng trưng nguồn lương thực thuộc linh nuôi dưỡng dân thánh trong mọi hệ phái, như trường Kinh Thánh, các khóa huấn luyện, các tòa giảng.

Những sinh hoạt nầy ngày nay rất rầm rộ, nhưng tất cả ở dưới sự rủa sả của Chúa khi Ngài nói trước, "Khốn thay cho các ngươi, kẻ văn sĩ và người Pha-ri-si, là bọn giả hình kia! Vì các ngươi đi khắp hải lục để khiến một người nhập giáo; khi đã  nhập rồi, thì các ngươi lại khiến người ấy trở nên con cái địa ngục gấp hai các ngươi."Khốn thay cho các ngươi, là kẻ mù mà lại dẫn đường…” (Ma-thi-ơ 23:15-16).

 Chữ “khốn thay” đồng nghĩa với chữ “rủa sả”. Người ta bôn ba đi khắp các hải lục môn đồ hóa các dân theo giáo lí của giáo phái họ, chứ không môn đồ hóa dân chúng  làm môn đồ của Chúa Giê-su. Họ đui mù thuộc linh mà dám dạy dỗ người khác về ngày sa bát, về Đức Chúa Trời tam nhất, về thần vị của Chúa Giê-su, về hội thánh hoàn vũ…

3—Hoa quả của thân thể ngươi”-

Bông trái thân thể là hậu tự, con cháu. Ô-sê 2:4 “Ta sẽ không thương xót con cái nàng, Vì chúng là con cái gian dâm”.

 Một mặt các giáo hội đều có sự gia tăng số lượng tín đồ, là điều tốt, nhưng về phẩm chất bông trái, về tính cách của tín đồ mới, Chúa không chấp nhận., Chúa muốn nhả họ ra.

4—Bông trái của đất ruộng ngươi”.

Đất ruộng là nơi sản xuất lương thực mới, ngụ ý  các giáo hội ngày nay thiếu lương thực thuộc linh trầm trọng. Họ không thiếu sách vở bồi linh, hay thiếu bản văn Kinh thánh như hồi ba thế kỉ đầu tiên của hội thánh đầu tiên, hay như các vùng đất đặc biệt đang khan hiếm Kinh thánh. Nhưng dân Chúa ngày nay thiếu hụt lời khải thị, y như thời của tiên tri Sa-mu-ên còn ở vào tuổi thiều niên, “Sa-mu-ên thơ ấu phục sự Đức Giê-hô-va tại trước mặt Hê-li. Trong lúc đó, lời của  Đức Giê-hô-va lấy làm hiếm hoi, và những sự hiện thấy chẳng năng có-Sa-mu-ên trở nên khôn lớn, Đức Giê-hô-va ở cùng người: Ngài  chẳng để một lời nào của người ra hư (rơi xuống đất).  Từ Đan cho đến Bê-e-Sê-ba, cả Y-sơ-ra-ên đều biết rằng Sa-mu-ên được lập làm tiên tri của Đức Giê-hô-va.  Đức Giê-hô-va cứ hiện ra tại Si-lô, vì ấy tại Si-lô mà Đức Giê-hô-va đã khải thị cùng Sa-mu-ên, bởi lời  của Đức Jehovah”. Động từ “khiến cho biết” là “khải thị” theo nguyên văn Hê-bơ rơ.And Jehovah appeared again at Shiloh; for Jehovah revealed himself to Samuel at Shiloh by the word of Jehovah”.

5—Bị rủa sả khi đi ra và lúc đi vào”.

Đi ra đi vào là nếp sống hăng ngày trong đời sống riêng và nếp sống của giáo hội chung, tất cả  đều bị sự phán xét, sự rủa sả của Chúa.

6—Diệt ngươi mất khỏi đất mà ngươi sẽ vào nhận lấy”.

Đất đây là bình diện thuộc linh cao, mà theo Ê-phê-sô 1:3 là: “các nơi trên trời”. Đấy không phải thiên đàng về vị trí mà là các nơi trên trời trong tình trạng, trong địa vị thuộc linh hiện thực của cuộc sống tại đây. Dù ta sống làm dân bước đi trên trái đất, nhưng tình trạng thuộc linh của chúng ta ở trong lòng, trong tâm linh là dân thuộc trời, đồng ngồi với Đấng Christ trên các thế lực của các quỷ, các thiên sứ ác hiện nay.

 Sau khi Chúa mở đạo tại Việt nam năm 1911, dù hội thánh còn thô sơ, nhưng tình trạng thuộc linh và tính cách của thánh dồ tốt hơn nhiều so với tín đồ ngày nay cả trăm lần. Sau năm 1980, khi hội anh em được khải đạo tại Việt Nam, Chúa ban cho các thánh đồ một thời kì tươi mới, như vui hưởng thổ sản Ca na an trong nếp sống hội thánh dù còn rất thô sơ vào 6, 7 năm đầu tiên đó.

Ngày nay, nói về mặt giáo hội tập thể, hầu hết dân Chúa trên nước Việt nam bị trục xuất khỏi đất lành, bị tiêu mòn khỏi sự vui hưởng các phong phú tươi mới thuộc linh của buổi đầu, bị cấm vận, bị chặn lại đối với cây sự sống. Ngày nay, tất cả chỉ còn là văn tự chết, bài giảng đúng quy cách nhưng không có sự sống, không truyền đạt được sự khải thị tươi mới của người giảng, mà chỉ có tri thức của các giáo chủ, của các nhà thần học khô cằn. Hầu như không có nhiều tiên tri Sa-mu-ên với lời khải thị xuất hiện phụng sự Chúa và dân Ngài.  Vì chỉ có sự khải thị mới giải phóng và cấp dưỡng dân Chúa, còn văn tự, dù là văn tự từ đỉnh cao, là kinh viện văn tự Kinh thánh, cũng chỉ cầm tù và  làm bần cùng hóa dân Chúa càng them mà thôi.

 1 Sa-mu-ên 4:1, “Lời của Sa-mu-ên được rao truyền cho cả Israel”. Câu nầy tiếp ngay sau  1 Sa mu-ên 3:21. Chúng ta đọc lại, “Đức Jehovah đã cứ hiện ra tại Si-lô, vì Đức Jehovah đã khải thị chính mình Ngài cho Sa-mu-ên tại Si-lô bằng lời của Đức Jehovah. Lời của Sa-mu-ên được rao truyền cho cả Israel”.

 Không có được lời khải thị tươi mới hằng ngày, chúng ta sẽ bị tiêu mòn, bị trục xuất, bị cất phần hưởng phong phú từ miền đất đượm sữa và mật nầy, là Đấng Christ hằng sống. Nói cách khác, chúng ta như ông bà A-đam, bị chặn không hái được trái cây sự sống, nên phải hái trái cây biết điều thiện điều ác, là tri thức văn tự Kinh thánh siêu đẳng và chết đói cách thê thảm như người dân Pha-ri si thời Chúa Giê-su. Xin Chúa thương xót chúng ta.

Khải Đạo- March, 24, 2021