Thứ Hai, 31 tháng 5, 2021

BA ÂN BAN CỦA CHÚA-

Phúc âm Giăng là sách phúc âm về sự sống của Đức Chúa Trời. Sứ đồ Giăng, lúc viết sách nầy đã cao tuổi, gom tụ nhiều nhóm chủ đề như chúng ta đã thấy ‘Đức Con, Đức Cha, và Đức Linh’ trong các chương 5, 6 và 7. Tôi còn thấy Giăng có gom tụ một nhóm chủ đề khác nữa như ‘Sự sống, sự sáng và sự tự do”, “Ngôi Lời, Xác thịt, Hơi thở”; “luật pháp, ân điển, lẽ thật”.

1—Sự sống

Chúa là sự sống, chứ không phải Ngài có sự sống. Sự sống zoe là một phương diện của bản thể Ngài. Ngài là sự sống.

Giăng 1:4, “Trong Ngài có sự sống”- “còn Ta đã đến hầu cho chiên được sự sống và được càng dư dật” (10:10)- “Con ban cho họ sự sống đời đời” (17:2).  Rô-ma 6:23, “nhưng ân ban của Đức Chúa Trời là sự sống đời đời trong Christ Jêsus, Chúa chúng ta”.

Từ ngữ charisma phải dịch là “ân tứ “ theo 1 Cor 12. Nơi đó “ân tứ” là khả năng để làm việc gì. Nhưng Charisma trong Rô ma 6:23 phải dịch là quà tặng là ân ban, đó là sự sống đời đời trong Chúa.

Sự sống zoe ngụ ý cuộc đời trường sinh bât tử của con cái Chúa trong cõi đời đời bất tận, nó cũng ngụ ý một khả năng có thể cảm nhận và tiếp nhận Đức Chúa Trời và những gì thuộc linh thần thượng. Như Giăng 17:3 chép, “Còn sự sống đời đời là nhận biết Cha, tức là Chân Thần duy nhất,cùng Jêsus Christ mà Cha đã sai đến”.

 Giăng 3:3, 5  bày tỏ người đã được tân sinh sẽ có khả năng thấy Chúa và nước Chúa, bước vào và cư trú trong lãnh vực thần thượng. Nếu bạn có sự sống đời đời trong mình, bạn có khả năng cảm nhận, nhìn thấy, và am hiểu Đức Chúa Trời và  Đấng Christ.

 Người vô tín không cảm nhận có Đức Chúa Trời vì họ không sở hữu sự sống đời đời nầy.

2—Sự sáng:

Giăng 1:4,5 “Trong Ngài có sự sống, sự sống là sự sáng của loài người. Sự sáng soi trong tối tăm, mà tối tăm chẳng tiếp nhận”.

Sự sống của Chúa như là khả năng của chúng ta, thì sự sáng như là sự biểu  lộ của Ngài trong chúng ta.

 Anh em không có khả năng biểu lộ Chúa hay tỏa sáng vì anh em không có sự sống, hay đã có nhưng thiếu hụt sự sống. Hãy tìm cách làm cho sự sống Chúa dẫy đầy trong anh em mỗi ngày, tự khắc ánh sáng thần thượng sẽ tỏa sáng ra trong anh em theo mặt luân lí, chưa tỏa sáng theo mặt vật lí như hào quang trên than thể anh em.

 Thi thiên 36: 9, “Vì nguồn sự sống ở nơi Chúa; Trong ánh sáng Chúa chúng tôi thấy sự sáng”. Câu nầy xác quyết sự sáng sẽ lưu xuất từ sự sống dư dật của Chúa ban cho.

 Chúa Giê su phán, “Đức Jêsus lại phán cùng chúng rằng: “Ta là sự sáng của thế gian; ai theo ta hẳn chẳng đi trong tối tăm, nhưng có sự sáng của sự sống” (Giăng 8:12). Khi chúng ta sở hữu sự sống dư dật của Chúa, chúng ta sẽ bước theo Chúa dễ dàng, sẽ bước đi  trong lãnh vực sự sáng đời đời.

 Chúng ta cũng dễ phản chiếu sự sáng của Chúa thu hút người khác chạy theo Chúa, chớ không chạy theo chúng ta, như lời cầu nguyện của vua Đa vít ở Thi thiên 43: 3, “Cầu Chúa phát ánh sáng và sự thật của Chúa ra: Nó sẽ dẫn tôi, đưa tôi đến núi thánh và nơi ở của  Chúa”.

 Anh chị em ơi, đừng hướng dẫn ai  bằng ánh sáng của ý kiến mình, tức là sáng kiến của  anh em, hãy để cho ánh sáng của Chúa từ trong họ phát ra  hướng đạo họ.

3- Sự Tự Do:   -Giăng 8:12, 32-

Có một số cặp phản đề trong Tin lành Giăng như: 1/ sự sống và sự chết. 2/Sự sáng và sự tối tăm. 3/ Sự tự do và ách nô lệ. 4/ Lẽ thật av2 lời nói dối.

“Đức Jêsus lại phán cùng chúng rằng: “Ta là sự sáng của thế giới; ai  theo ta hẳn chẳng đi trong tối tăm, nhưng có sự sáng của sự sống--các ngươi sẽ biết lẽ thật, và lẽ thật sẽ giải phóng các  ngươi”.

 Bối cảnh câu chuyện của phúc âm  xảy ra  ở xứ Giu-đê  là vùng đất tôn giáo của đạo Do thái. Do thái giáo như một chuồng chiên đang cầm tù dân chúng bằng luật pháp Cựu ước và những truyền thống của người xưa. Cho nên Chúa nhấn mạnh Ngài là sự sáng đem lại sự giải phóng tự do.

Người Do thái nói với Chúa, “Chúng tôi là dòng giống Áp-ra-ham, chưa hề làm tôi mọi ai. Vậy, sao thầy nói rằng: 'Các ngươi sẽ được tự do?” (Giăng 8:33). Thực  ra họ đang làm nô lệ dưới bộ luật Cựu ước, mà họ không đủ sức vâng giữ được. Họ làm nô lệ cho những truyền thống loài người do tổ phụ học lập ra.

 Ngày nay các anh em có làm nô lệ cho tổ chức tôn giáo nào chăng.  Có những loại giáo hội, càng có lẽ thật đỉnh cao (không thực hành nổi) thì họ càng đặt ta nhiều quy luật ràng buộc tín  đồ. Thí dụ quy luật không được đọc sách bồi linh tác giả khác, không được gặp gỡ  tín đồ giáo hội khác…. Nhiều quy luật bất thành văn đã kiềm tõa  tín đồ trong chuồng chiên nhân tạo, chớ chiên không đươc lên đồng cỏ xanh tươi bao giờ.

 Họ chỉ ăn cỏ khô, ăn đồ hộp quá hạn, và không được  phép tự lên đồng cỏ mà trực tiếp ăn cỏ non.

 Tóm lại anh chi em đã có sự sống đời đời, nguyện anh em có sự sống ấy thật dư dật , hầu từ sự sống của Chúa anh em sẽ  có đây dủ sự sáng và nó sẽ đem anh em vào đồng cỏ xanh tươi cách tư do, mà không bị hệ thống tôn giáo chết chóc nào kiềm kẹp.

Khải Đạo. 24-5-2021

HAI NGƯỜI ANH CẢ ĐÁO ĐỂ-


1  Ê-li-áp

Tiên tri Sa-mu-ên miêu tả “Khi chúng đến, Sa-mu-ên thấy Ê-li-áp, bèn thầm rằng: Quả hẳn,  kẻ chịu xức dầu của Đức Giê-hô-va đương ở trước mặt Ngài.  Nhưng Đức Giê-hô-va phán cùng Sa-mu-ên rằng: Chớ xem về bộ dạng và hình vóc cao lớn của nó, vì ta đã bỏ nó. Đức Giê-hô-va chẳng xem điều gì loài người xem; loài người xem bề ngoài, nhưng Đức Giê-hô-va nhìn thấy trong lòng” (1 Sa mu-ên 16).

Ê-li-áp tìm cách dìm David từ rất sớm, bắt em út chăn chiên cho mình và cho gia đình. Tại sao không nhờ gia nhân chăn chiên mà bắt thằng em  thơ dại xông pha chiến đấu với  gấu và sư tử? Vì David đã nói khi chăn chiên ông đã giết một con sư tử và một con gấu. Tại sao Ê-li-áp lướt quyền của cha già, Gie-sê?

Ngày tiên tri Sa-mu-ên xức dầu cho Đa-vít, Ê-li-áp càng chất chứa thêm tư tưởng đố kị em mình. Quả thật Ê-li-áp bất chấp kẻ chịu xức dầu sẽ làm tân vương ngày sau, là em út của mình, anh cứ thù ghét em mình.

 Tại chiến trường, em mình nghe lời cha già đến thăm ba anh của mình, coi có bình an giữa lằn tên mũi đạn hay không. David đem thứ ăn cho các anh mình, thế mà Ê-li-áp đành hồ đồ mở miệng tuôn tràn những lời cay đắng hằn học: “Nhưng Ê-li-áp, anh cả người, nghe Đa-vít nói như vậy, nổi giận người, mà nói rằng: Cớ sao mầy đến đây? Mầy bỏ ít con chiên của chúng ta trong đồng vắng cho ai? Tao biết tánh kiêu ngạo và sự tinh nghịch của lòng mầy. Ấy đặng xem tranh chiến nên mầy mới đến”.

 Ô một người anh cả!. Trong đời sống theo Chúa của mình, từ ngày đầu anh em tin Chúa, gia nhập hội thánh, anh chị em có gặp những người anh cả đáo để như vậy, hằn học, cản đường tiến lên của anh chị em không? Có ai bắt bớ, xỉa xói anh chị em không? Những con người chỉ nhìn anh em với con mắt như ngọn đèn đỏ, không hề bật đèn xanh nhìn anh chị em bao giờ.

 Cám ơn Chúa, David đã vựợt qua, và cuối cùng Ê-li-ap và con cái của ông cũng sống nhờ vào vương quyền mà Chúa ban cho David.

2.    Anh cả của người con trai hoang đàng:

Lu ca diễn tả về chàng: “Khi ấy con trai cả ở ngoài đồng, trở về gần đến nhà, thì nghe tiếng đàn ca nhảy múa,  bèn gọi một tôi tớ mà hỏi ấy là việc gì.  Nó thưa rằng:'Em cậu về, nên cha cậu đã làm thịt bò con mập, vì  được em về bình yên mạnh khoẻ.' Song con cả tức giận, không chịu vào. Cha ra khuyên nó.  Nhưng nó đáp cùng cha rằng: 'Nầy, con hầu việc cha đã bấy nhiêu  năm, chưa từng trái mạng cha, mà cha chẳng hề cho con một con dê con để ăn mừng  với bạn hữu con.  Nhưng nay con của cha kia, là đứa đã ăn nuốt gia sản cha với  phường kỵ nữ rồi trở về, thì cha lại vì nó làm thịt bò con mập!' Người cha nói rằng: 'Con ơi, con ở cùng cha luôn, hết thảy của  cha là của con.  Nhưng lấy làm phải lắm mà ăn mừng và vui vẻ,vì em con đây đã  chết mà lại sống, đã mất mà lại tìm được'” (Lu-ca 15).

Anh nầy tượng trưng cho dân Cựu ước đang sống trong thời Tân ước, đang lao nhọc dưới gánh nặng của bộ luật Cựu ước. Lạo động cực khổ mà thiếu ăn thuộc linh, không dám ăn, thiếu vui hưởng kho tàng nhà Cha hằng ngày.

 Cuối chương 20 và đầu chương 21 trong sách Ma-thi-ơ, Chúa  kể hai ẩn dụ về những kẻ làm vườn nho và những kẻ dự tiệc cưới. Hai ẩn dụ nầy nói lên hai hạng loại con dân Chúa hôm nay. Người làm vườn, lao động cực nhọc ám chỉ dân Tân ước mà còn vất vả nỗ lực tuân thủ luật pháp Cựu ước, y như người anh cả nầy tự thú:  'Nầy, con hầu việc cha đã bấy nhiêu  năm, chưa từng trái mạng cha”. Anh chị em có thấy những người đang vật vả  theo đuổi cách phục hồi ngày sa bát hôm nay không? Đáng thương lắm thay! Họ không vui hưởng gì trong  kho tàng nhà Cha.

 Những người ngồi dự tiệc cưới tượng trưng dân Tân ước biết sự giàu có Chúa ban cho mình và quyền mình được tận hưởng trong sự giàu có ấy; “cha lại vì nó làm thịt bò con  mập”.

Lòng anh hẹp hòi nên anh nghĩ Cha anh cũng hẹp dạ như anh. Anh không biết  quyền tận hưởng kho tàng Cha dành cho mình. Anh sống đói rách kham khổ, gò bó dưới gánh nặng làm vườn Cựu ước, nên anh cũng muốn mọi người tín đồ tin Chúa sau mình cũng nghèo đói thuộc linh như anh vậy, phải lam lũ thuộc linh như anh mới được..

 Hodos—May 27, 2021

MI-RI-AM VÀ MI-CANH-

Mi-ri-am và Mi-canh được Đức Thánh Linh đặt đối ứng với nhau trong Kinh thánh để diễn tả thái độ tư tưởng của hai gia tộc tiếp sau hai biến cố vĩ đại của lịch sử dân Đức Chúa Trời. Mi-ri-am phát biểu tốt sau khi cuộc giải phóng thành công đem cả một dân tộc ra khỏi nhà nô-lệ tại Ai-cập. Mi- canh biểu lộ tấm lòng và thái độ trịch thượng của một gia tộc hoàng gia sau khi dân Chúa chiếm được Jerusalem và rước rương chứng cớ của Chúa về thành thánh thành công.

1-    Mi-ri-am:

Nhiều bức tranh vẻ hình bà Mi-ri-am như một phụ nữ ở độ tuổi 45, hay 50 là sai lầm. Vì khi ra mắt vua Pha-ra-ôn, thì Kinh thánh chép, “khi hai người tâu cùng Pha-ra-ôn, thì Môi-se tuổi đã được tám mươi còn A-rôn tám mươi ba” (Xuất 7:7). Nếu A-rôn 83, thì bà chị Mi-ri-am phải 85 hay 86 tuổi mới đúng.

Một lão bà 86 còn có thể làm ca sĩ, và là người hướng dẫn đoàn ca công phụ nữ đánh trống cơm nhày múa ngợi khen Chúa. Một cụ bà tuổi 86 mà nhảy múa được sao?

 Lịch sử kể lại chuyện một nữ hoàng xứ Scotland, đã lột vương miện trong giờ thờ phượng Chúa trong giáo đường giao hội Cải Chánh, vì bà nhìn nhận sự thấp hèn của mình trước mặt Đấng oai nghiêm vĩ đại đang ngự trên ngôi cao sang, mà  hết cả quyền lực vinh quang của vương quốc bà chư đáng làm một bệ chân của Ngài.

 Đó là lí đo, dù ở tuổi U 90, Mi-ri-am cũng cố gắng nhảy múa, ca hát và hướng dẫn cả một ca đoàn phụ nữ chúc tụng Chúa theo bài ca mà Môi se xuất khẩu thành thơ ngày sau khi dân Israel lên bờ bên kia của Biển Đỏ xong xuôi. Theo tôi nhảy múa khác với khiêu vũ.

 Dân Âu Mỹ, dù ở tuổi 80 vẫn có thể có người, có từng cặp nam nữ khiêu vũ rất đẹp mắt. Nhưng ở đây là nhảy múa vui mừng trong lễ hội.

“Nữ tiên tri Mi-ri-am, là chị của A-rôn, tay cầm trống cơm, các  đàn bà đều đi ra theo người, cầm trống cơm và múa.  Mi-ri-am đáp lại rằng:  Hãy ca tụng Đức Giê-hô-va, vì Ngài rất vinh hiển oai nghiêm;  Ngài đã liệng xuống biển ngựa và người cỡi ngựa” (Xuất 15)..

Nếu trong cộng đồng dân Chúa ngày nay có nhiều Bà Chị U 90 như vậy, hạ mình, còn đầu tàu ca hát và nhảy múa để chúc tạ Chúa, giáo hội sẽ phát triển vững mạnh.

2-    Mi-Canh;

Đây là công nương của hoàng đế đầu tiên là  Sau-lơ, là người yêu, là vợ chính thức, và là hoàng hậu đệ nhất của vua David.

 Đa vít lên ngôi tại Jerusalem tuổi 37, và tuổi của Mi canh cũng phải 35, 36 chớ không thể nhỏ hơn.

 Trong khi David là bậc đế vương, đã cỡi bỏ vương bào, khoác ê-phót như một thầy tế lễ tầm thường, đã nhảy múa trước cái rương giao ước của Chúa, với chủ tâm hạ mình xuốngvà  tôn vinh Chúa là Đấng đã nhấc ông từ bụi đất lên ngôi vua. Đối với dân chúng ông tỏ mình là vua, nhưng đối trước mặt Chúa ông coi mình như một đầy tớ  hèn mạt, tầm thường.

 Kinh thánh chép, “Nhưng khi rương của Đức Giê-hô-va vào thành Đa-vít, thì Mi-canh, con gái của  Sau-lơ, dòm ngang qua cửa sổ, thấy Đa-vít múa nhảy trước mặt Đức Giê-hô-va, thì trong lòng khinh bỉ người” (2 Sa. 6:16).

 Với tấm lòng hồ hỡi, phấn khởi khi rước được cái rương vào vị trí ông  dự định thành công. Ông mặc lại vương bào, giơ tay lên chúc phước cho toàn dân, và tặng cho mỗi người dự lễ một ổ bánh, một miếng thịt và một bánh nho.  Ông vội vàng về nhà để chúc phước cho vợ con, thì  ngạc nhiên cho ông biết dường nào khi “Mi-canh, con gái của Sau-lơ, đến đón người, mà nói rằng: Hôm  nay vua Y-sơ-ra-ên được vinh hiển thay, mà ở trần trước mặt các con đòi của tôi  tớ vua, làm như một kẻ không ra gì vậy! 21 Đa-vít đáp với Mi-canh rằng: Ấy tại trước mặt Đức Giê-hô-va,  là Đấng đã chọn lấy ta làm hơn cha nàng và cả nhà người, lập ta làm vua chúa  Y-sơ-ra-ên, là dân của Đức Giê-hô-va; phải, trước mặt Đức Giê-hô-va, ta có hát  múa. Ta sẽ hạ mình xuống nhiều hơn nữa, tự xem mình là hèn mạt; dầu  vậy, những con đòi nàng nói đó lại sẽ tôn kính ta.  Vì vậy, Mi-canh, con gái Sau-lơ, không sanh con cho đến ngày nàng thác” (2 Sa. 6:16, 20-23).

Lời phát biểu với ý khinh dể của Mi-canh đối với vua David đã phản ảnh tâm trạng và động cơ trong lòng vua Sau-lơ, khi ông cực chẳng đã phải thú nhận tội lỗi mình với Sa-mu-ên mà thôi, chớ không hề biết hạ mình xuống trước mặt Chúa là Đấng lập ông lên ngôi vua.  Ông nói, “Nhưng dân chúng có chọn trong của cướp, chiên và bò, là vật tốt nhứt về của đáng tận diệt, đặng dâng cho Giê-hô-va Đức Chúa Trời CỦA ÔNG tại Ghinh-ganh. Tôi có phạm tội. Tôi đã can  phạm mạng lịnh Đức Giê-hô-va và lời của ông. Tôi sợ dân chúng, nên nghe theo tiếng  của họ.  Bây giờ, xin ông hãy tha tội tôi, trở lại cùng tôi, thì tôi  sẽ sấp mình xuống trước mặt Đức Giê-hô-va” (1 Sa. 15: 21, 24-25).

 Sau lơ và Mi canh,  cha nào con nấy, không thật sự tôn kính Chúa, chỉ dựa vào Ngài như vị Thần hộ mạng mà thôi, cha con đều tìm vinh quang cho mình.

Tóm lại Mi-ri-am dù cao tuổi nhưng hạ mình xuống, nhảy múa tôn vinh Chúa, còn Mi-ri-am còn trẻ, vừa không nhảy múa tôn vinh Chúa, lại khinh bỉ chồng mình và phát biểu những lời ngu dại.

 Tác giả sách 2 Sa-mu-ên, có lẽ là Xa-bút, con trai tiên tri Na-than (1 Các vua 4:5) đã nhận xét và kết luận câu chuyện đối đáp giữa hai vợ chồng vua Đa vít và Mi- canh rằng: “Vì vậy, Mi-canh, con gái Sau-lơ, không sanh con cho đến ngày nàng thác”- Đó là  sự phán xét của Đức Chúa Trời trên Mi-canh trong 35 năm sau đó, cho đến ngày nàng chết.

Hodos, 2021

CÁC ÂN TỨ CỦA ĐỨC THÁNH LINH-


 

Có hai từ ngữ là dorea và charisma đều được dịch là ân tứ, dễ làm cho con dân Chúa  lẫn lộn trong ý nghĩa và cách sử dụng. Dorea nên được là ân ban, ban tứ, quà tặng  và tiếng Anh là bounty hay gift. Còn chữ charisma cũng dịch là ân tứ, đúng ra chữ nầy nên dịch là năng khiếu, năng tài là dễ hiểu hơn.

1.    Ân Ban: quà tặng, vật tặng ( Greek: dorea; English : bounty)

Rô ma 6:23, “Vì tiền công của tội lỗi là sự chết, nhưng ân ban (charisma) của Đức Chúa Trời là sự sống đời đời trong Christ Jêsus, Chúa chúng ta”

Công vụ 2:38, “Phi-e-rơ bảo rằng: “Hãy ăn năn, ai nấy phải nhơn danh Jêsus Christ chịu báp-têm, để tội mình được tha, rồi sẽ nhận lãnh an ban  (dorea) là Thánh Linh”.

Hê-bơ rơ 6:4, “Vì chưng kẻ đã được soi sáng một lần, đã nếm ân ban (dorea) trên trời, đã có phần trong Thánh Linh”.

Sau khi tin Chúa, Đức Chúa Trời ban quà tặng cho chúng ta. Đó không phải là khả năng làm việc cho Chúa, mà là sự sống đời đời và Đức Thánh Linh như hai “vật” gia bảo.

 Đức Thánh Linh là quà tặng, còn sự sống đời đời cũng là quà tặng  nhưng trong đó có khả năng để làm việc. Do đó tác giả thơ hê-bơ-rơ gọi đó là quà tặng thuộc trời.

2.    Năng Khiếu- Greek : Charisma; English: endowment: tài năng thiên phú

Ít có bản Kinh thánh dịch từ ngữ charisma là the special endowments:  tài năng, khả năng thiên phú, hay supernatural energy, năng lục siêu nhiên.

 Cho nên anh chị em phải phân biệt hai loại ban tứ (ân tứ) nầy . Một là quà tặng làm sở hữu, thứ hai là ân tứ, là năng khiếu, là tài năng thiên phú, thiên bẩm, giúp cho chúng ta có khả năng làm những việc siêu nhiên như nói tiếng ngoại quốc (tiếng lạ), làm việc quyền năng, có năng khiếu hiểu được lời khôn ngoan và lời tri thức trong Kinh thánh.

1 Cô-rinh-tô 1:7, “đến đỗi anh em không thua kém một ân tứ (charisma) nào cả”. Tín đồ hội thánh Cô-rinh-tô dẫy đầy nhưng tài năng thiên phú, như nói tiếng mới, khả năng hiểu tri thức Kinh thánh.

 Nhưng để cụ thể hóa vấn đề về các ân tứ (năng khiếu) Phao-lô phân chia các charisma siêu nhiên ra làm hai loại:

a/Các ân tứ ân điển:

1 Cor. 12: 7- 9, “Nhưng Thánh Linh hiển hiện trong mỗi người, để ai nấy đều được ich lợi.  Vậy, người nầy nhờ Thánh Linh ban cho lời khôn ngoan, kẻ kia cũng nhờ một Thánh Linh ấy ban cho lời tri thức,  kẻ khác nữa cũng nhờ một Thánh Linh ấy mà được đức tin…”.

 Lời khôn ngoan, lời tri thức về kinh văn Kinh thánh không phải là khẳ năng dễ có được. Đó là sự tạo tác kinh văn kinh thánh trong đời sống những người nào đó, do họ học tập, làm cho Lời ấy đầy dẫy trong họ, rồi qua một quá trình thử nghiệm mấy chục năm, để lời ấy sáp nhập vào bản thể họ. Tình trạng tánh tình họ tương đương lời kinh thánh. Nói cách khác, họ phải kinh nghiệm rất nhiều câu kinh thánh như Kinh thánh đòi hỏi, sau đó họ sẽ hiểu Kinh thánh thấu đáo và có khả năng giảng những câu mình kinh nghiệm cách có hiệu lực. Muốn có được nhữg ân tứ nầy, người ta phải trả giá rất cao, là từ bỏ bản ngã.

b/Các ân tứ siêu nhiên:

 1 Cor. 12: 9-10, “ lại kẻ khác nữa cũng nhờ một Thánh Linh ấy mà được ân tứ chữa bịnh;  còn người nầy thì được làm việc quyền năng, kẻ kia thì được nói tiên tri, người khác thì được phân biệt các linh, kẻ nọ thì được nói các thứ  tiếng,và người khác thì được thông dịch các thứ tiếng ấy”.

Đây là những khả năng siêu nhiên, những tài năng thiên bẩm, những năng lục siêu nhiên để nói tiếng ngoại quốc (tiếng lạ), làm những việc quyền năng, chữa bệnh.

 Chúa biết tánh  con người thích những ân tứ siêu nhiên như chữa bệnh, nói tiếng ngoại quốc để nổi danh, nên Phao lô được Chúa cảm thúc viết trước, “Nhưng vẫn cùng một Thánh Linh ấy vận dụng cả các ân tứ đó mà phân phát cho mỗi người tuỳ ý Ngài muốn” (Câu 11)

 Anh chi em ơi, đừng mong muốn tho ý  muốn của mình về  một ân tứ nào đó như nói tiếng ngoại quốc, chữa bệnh, hoặc ân tứ lời khôn ngoan để giảng dạy. Hãy đầu phục Chúa, Ngài sẽ phân phát loại ân tứ nào đó cho mọi người dâng mình, theo ý muốn Ngài ban ân tứ gì cho bạn.

 Đúng ra đừng lập luyện ân tứ cho người khác, vì chúng ta không phải là Chúa mà quyết định phân phát ân tứ loại nào cho bất cứ ai,

 MK. May 31, 2021