Thứ Năm, 3 tháng 6, 2021

LỄ VƯỢT QUA TRONG CHỨC VỤ CỦA CHÚA GIÊ-SU-

Ý nghĩa lễ Vượt Qua là gì? Tôi tin tất cả chúng ta sẽ nói: Lễ vượt qua là nhờ lấy huyết chiên con đổ ra, bôi lên thanh ngang và hai cột cửa mà thiên sứ của Chúa sẽ vượt qua ngôi nhà đó, không xông vào giết chết con đầu lòng trong nhà ấy.

Đó là ý nghĩa của mặt trái, nhưng mặt phải của lễ Vượt qua là gì?  Tôi tin đó là sự giải phóng dân Israel ra khỏi cảnh trạng sống làm nhà nô lệ, để tự do bước theo chân Đức Giê-hô-va trên con đường thánh khiết  của Ngài.

 Có 34 Lễ Vượt qua trong đời sống làm người của Chúa Giê-su và chỉ có 4 lễ Vượt qua trong chức vụ 3, 5 năm của Ngài.  Sự chết của Chúa xảy ra trong lễ Vượt qua thứ tư trong chức vụ Ngài. Khi hiện ra trong vinh quang với Chúa Giê-su trên núi hóa hình, hai ông Môi se và Ê-li đã đàm đạo với Chúa về “sự qua đời của Ngài mà Ngài sắp làm trọn tại Giê-ru-sa-lem” (Lu- ca 9:31).

Theo nguyên ngữ Hi lạp, danh từ “sự qua đời” là exodos, tiếng Anh là Exodus. Exodus là tên sách thứ nhì trong Kinh thánh- Xuất Hành. Chữ nầy có nghĩa an exit, sự thoát ra ngoài, ngụ ý sự qua đời, là thoát ra khỏi cuộc sống nầy để bước vào cuộc sống khác.

 Do đó đối với dân Israel, lễ Vượt qua là thoát ra khỏi kíp lưu dày trong nhà nô lệ tại Ai-cập để bước vào cuộc sống  hầu việc Chúa. Đối với Chúa Giê-su, qua lễ Vượt qua, Ngài thoát ra khỏi cuộc đời Con Người và bước vào cuốc sống của Con Người phục sinh, là Con Đức Chúa Trời. Trong Rô-ma 1: 4 Phao lô nói về nhân tánh của Chúa Giê-su thì “theo thần-linh của sự thánh-khiết, thì nhơn sự từ kẻ chết sống lại đã được chứng minh cách có quyền là Con Đức Chúa Trời, tức là Jêsus Christ,Chúa chúng ta”. Trong tâm linh của Chúa Giê-su có cả Đức Chúa Trời Tam nhất cư ngụ từ ngày Ma-ri bắt đầu có thai. Cho nên sau khi phục sinh, nhân tánh Ngài được gọi là Con Đức Chúa Trời, và thơ Hê bơ-rơ 1:8  còn đi xa hơn  nữa khi nói Chúa phục sinh đó là; “Hỡi Đức Chúa Trời, ngai Chúa còn mãi từ đời đời đến đời đời, Quyền trượng của nước Chúa là quyền trượng ngay  thẳng”.

Là Con hằng hữu không có nhân tánh, Chúa Giê-su là Đức Chúa Trời, đồng đẵng với Đức Chúa Trời,  còn sau khi phục sinh, nhân tánh của Ngài cũng được thần hóa, trở thành Đức Chúa Trời có nhân tánh bên trong.

 Cho nên trong bài nầy tôi muốn trình bày sau khi chính mình thoát ra ngoài, thì đồng thời Ngài cũng đưa dẫn dân Ngài đi theo.

1.    Lễ Vượt Qua Thứ Nhất: 2:13-

Qua lễ Vượt qua thứ nhất Chúa Giê-su khải thị về Ngôi nhà Cha lớn hơn. Ngài mở đầu cho chuyển động xây dựng nhà Cha lớn hơn. Trước khi phục sinh Ngài hứa, “Trong nhà Cha ta có nhiều chỗ ở; bằng chẳng vậy, ta đã nói cho các ngươi rồi. Ta đi để sắm sẵn cho các ngươi một chỗ.  Khi ta đi mà sắm sẵn cho các ngươi một chỗ rồi, thì ta sẽ trở lại, tiếp các ngươi về với ta, hầu cho ta ở đâu, thì các ngươi cũng ở đó.  Nơi ta đi các ngươi đã biết, cũng biết đường nữa.” Thô-ma nói rằng: “Thưa Chúa, chúng tôi chẳng biết Chúa đi đâu,làm sao biết đường được?”  Jêsus phán rằng: “Ta là đường đi, lẽ thật, và sự sống; chẳng bởi  ta thì không ai được đến cùng Cha” (Giăng 14:1-6).

 Đa số con dân Chúa mê tín và tin rằng Chúa Giê-su về thiên đàng và cất nhà cửa bằng vàng bằng ngọc hầu sau nầy cấp phát cho chúng ta. Thực ra Chúa Giê-su vào trong Đức Chúa Trời và thân thể Ngài sau khi sống lại được mở rộng là một Thân thể vĩ đại, có thể chứa nổi hàng triệu chi thể là các tín đồ.

 Giăng 14:23 nói mỗi tín nhân là một chỗ ở (Mone—mansion) của Đức Chúa Trời, và trong Nhà của Cha, tứ là trong Thân thể lớn lớn mà Chúa sẽ xây dựng lại sau 3 ngày, cũng có rất nhiều “chỗ ở”  (mone—mansions).

 Mỗi tín nhân là một mone, và có nhiều mone như vậy trong nhà Cha, hay trong đền thánh, trong thân thể mà Chúa Giê- su lập lại sau khi Ngài chết ba ngày (Giăng 2:19). Cho nên chúng ta đừng coi nhà mà Chúa xây dựng khi Ngài ra đi là nhà cửa bằng vàng ngọc trên trời.  Vì sau ba ngày, Chúa Giê-su đã trở lại đem những tín nhân như Phi-e-rơ, Giăng và cho mỗi người cư trú một chỗ ở trong Đức Chúa Trời. Đó là Nhà của Cha, có nhiều chỗ ở vậy.

2.Lễ Phu-rim  5:1-

Năm sau trong chức vụ của Chúa, thay vì chép về Lễ Vượt Qua, sứ đồ Giăng chép về lễ Phu rim, “Sau việc đó, đến một kỳ lễ của dân Do-thái, Jêsus lên Giê-ru-sa-lem” (Giăng 5:1).

 Nhiều nhà giải kinh dựa vào câu Giăng 5:24, “Quả thật, quả thật, ta nói cùng các ngươi, ai nghe lời ta mà tin  Đấng đã sai ta, thì có sự sống đời đời, không đến sự định tội, song đã vượt khỏi  sự chết mà vào sự sống rồi”.  Vì trong sách Ê-xơ-tê, chúng ta biết dân Isarel thời đó đã vượt khỏi sự chết diệt chủng mà vào sự sống, đã thoát khỏi sự định tội do mưu kế ác độc của Ha-man và vào sự sống bình an.

 Lễ Phu-rim là tháng A-đa  (12) đến trước vào cuối năm, và lễ Vượt qua mà Giăng chương 5 không có chép, xảy ra vào dầu năm mới, nhằm tháng Nisan.

Trong lễ Phu-rim và lễ Vượt qua nầy, Chúa đem dân Ngài thoát khỏi sự định tội  mà vào sự sống đời đời, ra khỏi sự chết mà vào sự sống.

Nhưng dân Chúa đã được vào thiên đàng chưa? Nhiều người  còn lẫn lộn khi nói rằng ngày nay sau khi qua đời, tín nhân được vào thiên đàng. Điều đó sai lầm, vì chúng ta chưa có thân thể phục sinh, và thịt và huyết thiên nhiên nầy không thể hưởng nước Chúa trên thiên đàng.

Cho nên ngày nay, sau khi tin Chúa, tín nhân chỉ được đem vào lãnh vực thần thượng và thuộc linh, đem vào sự sống đời đời về mặt tình trạng, không phải thiên đàng về mặt vị trí hay địa điểm.

2.Lễ Vượt Qua thứ ba. 6: 2

 Trong thời gian của lễ Vượt qua lần thứ ba trong chức vụ của mình, Chúa Giê-su đã giảng một bài về Bánh Sự sống là chính Ngài.

Bối cảnh lịch sử của bài giảng nầy là dân Israel hồi xưa vào thời Môi-se đã đi lang thang trong đồng vắng, trong tình trạng thất bại chán chường, nhưng Đức Chúa Trời vẫn thành tín nuôi họ bằng ma-na rơi xuống từ trời suốt 40 năm.

Chúa ngụ ý dân Ngài vào thời của Ngài và thời của chúng ta hôm nay, họ cũng đều đang lưu lạc trong sa mạc thuộc hồn, trong đồng vắng tâm lý. Họ cần ăn một loại Ma Na mới, là Bánh hằng sống, là Đấng Christ mà Cha đã gởi đến.

Chúa Giê-su muốn đem dân Chúa thoát ra khỏi đồng vắng để vào sự vui hưởng Bánh hằng sống là thân vị Đấng Christ đến đời đời. Những tín nhân xưa nay vấp phạm và không hiểu nổi câu: “nếu các ngươi không ăn thịt của Con người và uống huyết của Người, thì chẳng có sự sống trong các ngươi đâu” (Giăng 6:53).

Hãy ăn thịt và uống huyết Chúa Giê-su qua lời Kinh thánh, anh chị em sẽ được thoát ta khỏi sa mạc thuộc linh của hội thánh hôm nay và bước vào lãnh vực vui hưởng Đấng Christ hằng sống hiện thực.

4. Lễ Vượt Qua thứ tư:

 Sáng thế kí 2:7 chép, “Giê-hô-va Đức Chúa Trời nắn lên loài người từ bụi đất, hà sinh khí vào lỗ mũi và con người trở nên một hồn sống”.. “Sinh khí” là hơi sự sống.

A-đam, người đầu tiên là một hồn sống, sanh sản ra một nhân loại có hồn sống suốt 4000 năm lịch sử Cựu ước.

 Sau khi phục sinh, Chúa Giê-su đến cùng các môn đồ, Giăng 20: 22 chép, “Ngài phán điều đó rồi, thì hà hơi trên họ mà rằng: “Hãy nhận lãnh Thánh Linh”. “Thánh Linh” theo nguyên văn là “Hơi Thở Thánh”.

Nhờ tiếp lấy Hơi thở thánh, là Thánh Linh, tât cả thánh dân hôm nay là dân của tâm linh, dân thuộc linh, còn dòng A-đam cũ là dân thuộc hồn.

 Chúa Giê-su đã được sinh ra dưới luật pháp (Ga-la-ti 4:4), sinh ra trong Cựu ước, sanh ra trong sáng tạo cũ.

Trong lẽ Vượt qua thứ tư trong chức vụ Ngài, cũng là lễ Vượt qua cuối cùng, Chúa đã chết trong kỳ lễ ấy và trong ngày thứ ba ngày sống lại. Khi sống lại, Chúa Giê su dẫn  những tín nhân Tân ước ra khỏi Cựu ước, khỏi luật pháp Cựu ước và khỏi sáng tạo cũ để bước vào sáng tạo mới, và Tân ước cách trọn vẹn.

 Anh chị em đã thoát ra khỏi Cứu ước và ra khỏi sáng tạo cũ chưa?. Những ai còn tối tăm, lo phục hồi luật pháp lễ nghi Cựu ước, như tuân thủ ngày sa bát, là bằng chứng họ chưa được Vượt qua gì cả.  1 Cô- rinh-tô 14:20-22 cũng bày tỏ rằng nói tiếng lạ là một chi tiết của luật pháp Cựu ước, tức là thuộc về sáng tạo cũ. Những người luyện tập nói tiếng lạ, tìm cách  nhóm họp ngày sa bát, phuc hồi chế độ ăn thú vật tinh sạch---tất cả họ đều còn ở trong nhà nô lệ tại Ai-cập. Thật đáng thương thay!

 Minh Khải June 3, 2021

 

 

Thứ Hai, 31 tháng 5, 2021

NHỮNG NGUỜI CON GÁI ĐỨC TIN CỦA CHÚA-

 Về một phương diện của lẽ thật thì, “Tại đây không còn phân biệt nam giới hay nữ giới, vì tất cả anh em đều là một trong Christ Jêsus “(Ga-la-ti 3:27). Nhưng trong nếp sống gia đình hay sinh hoạt giáo hội của Chúa, thì người nam được Chúa chỉ định có quyền hơn người nữ chút đỉnh.

Đọc lại Thánh kinh tôi cảm động khi nhìn lại những người con gái đức tin của Đức Chúa Trời:

1.An-ne: 1 Sa-mu-ên 1:-2:

An-ne sống trong hoàn cảnh khắc nghiệt của gia đình. Dù được chồng yêu, nhưng vì nàng son sẻ nên bị người vợ thứ của chồng bắt bớ cay độc triền miên. Giữa bóng tối cay đắng, thù hận, cạnh tranh của gia đình, nàng lại còn sống trong bóng tối của sự hoang loạn trong đền thánh của Chúa vào thời đó. Nhưng người phụ nữ nầy dù biết bằng kinh nghiệm khi mình đã được, “Đức Giê-hô-va khiến cho chết, cho sống; Ngài đem người xuống âm phủ, rồi lại đem lên khỏi đó”.

Nhờ quá trình trung thành với Chúa khi bị bạc đãi, nàng chỉ “dốc đổ nỗi lòng tôi trước mặt Đức Giê-hô-va” chớ không hề thố lộ nỗi sầu khổ với ai ngay cả với chồng minh. Cuối cùng người con gái đức tin nầy của Chúa đã từng khổ thì nay, “đói không còn đói nữa. Người đàn bà hiếm muộn, sinh nở bảy lần, kẻ khốn cùng ra khỏi bụi đất, …người nghèo khổ lên từ đống tro tàn, Đặt họ ngồi cạnh người quyền quý, Và cho họ thừa hưởng chỗ cao sang”.

Hỡi các chị em, hãy trung tín với Chúa trong mọi hoàn cảnh bị dày vò, chà đạp, cuối cùng các bạn sẽ nhận lãnh mão triều vinh quang trong nước ngàn năm của Chúa.

2. Đê-bô-ra –Thẩm phán 4:-5:.

Sự thật về quyền giảng rao lời Kinh thánhtrong một giới hạn nào đó  của nữ giới vẫn chưa ngã ngũ sao bao lần tranh luận của các nhà giải kinh. Phao lô nói :”Ta không cho phép người nữ dạy dỗ hay cai trị người nam mà phải yên lặng” (1 Ti-mô-thê 2:12). “Ta” đây là Phao-lô, không phải Chúa. Nhưng khi đọc sách thẩm phán chúng ta thấy, “Trong lúc đó, nữ tiên tri Đê-bô-ra, vợ của Láp-bi-đốt, làm quan  xét của dân Y-sơ-ra-ên.  Bà thường ngồi dưới cây chà là Đê-bô-ra, trong vùng đồi núi Ép-ra-im, khoảng giữa Ra-ma và Bê-tên, và dân Y-sơ-ra-ên đến với bà để được phân  xử”. Phao lô cấm phụ nữ  dạy Kinh thánh, cấm cai trị người nam. Nhưng ở đây Đê-bô-ra làm Thẩm phán xử đoán dân thánh thời đó, và “cai trị” người nam là Ba-rác..

 Người con gái nầy của Chúa sao có thẩm quyền, “Bà sai gọi Ba-rác,con trai A-bi-nô-am, từ Kê-đe trong đất Nép-ta-li đến…”. bà cai trị Ba-rác rồi còn gì?

Đê-bô-ra phân trần, “Trong ngày Sam-ga, con trai A-nát,Vào thời Gia-ên, những đường cái bị bỏ hoang, Khách bộ hành lần theo các lối quanh co. Các làng mạc Y-sơ-ra-ên bị bỏ hoang Cho đến khi tôi là Đê-bô-ra trỗi dậy, Như một người mẹ trong Y-sơ-ra-ên”

Trong đời tôi, tôi đã thấy nhiều gia đình, chồng bỏ trách nhiệm gia trưởng, một số các cộng đồng dân Chúa nam giới rút đầu, co cổ không đứng lên hầu việc Chúa, nên các người con gái đức tin ở đó phải được Chúa dấy lên như Đê-bô-ra. Nhiều mục tử không được sự xúc dầu, thiếu khải thị tươi…mới, cả ngày chỉ  bê cái Ti vi mà vui hưởng trong đó, đo đó vợ anh phải làm bài giảng cho anh, phải xông vào lãnh vực đáng lẽ chỉ dành cho nam giới.

Bạn ơi,  có bao giờ bạn thắc mắc lí do tại sao Ba-rác không có sự khải thị từ Chúa mà Đê-bô-ra thì có?

3.An-ne- Lu-ca 2:

Ông  Lu-ca viết, “Cũng có nữ tiên tri An-ne, con gái của Pha-nu-ên, về bộ tộc A-se, tuổi đã cao. Sau khi kết hôn, bà đã sống với chồng được bảy năm,  rồi ở góa, đến nay đã tám mươi bốn tuổi. Bà chẳng hề rời khỏi  đền thờ, cứ đêm ngày phục vụ Chúa, kiêng ăn và cầu nguyện.  Vào giờ ấy, bà cũng đến đó, ca ngợi Đức Chúa Trời và nói về con  trẻ cho mọi người đang trông đợi sự giải cứu  thành Giê-ru-sa-lem”.

 Đây là một người con gái đức tin cao niên của Chúa. Đức Thánh Linh đã cho bà có một địa vị thuộc linh cao và sự tôn trọng trong đoạn Kinh thánh tại đây đến đời đời. Ngày kia, tất cả các chị em có đọc bài nầy sẽ gặp bà chị cao quý nầy trong nước Chúa và phải ngã mũ kính chào.

 Với cái tuổi quá cổ lai hi, tôi hầu như chưa thấy những người con gái đức tin như vầy của Chúa. Chứa thấy những quả phụ dâng trọn thì giờ làm công tác cầu nguyện cầu thay cho các dân tộc, cho các nước, cầu thay cho mọi người thánh đồ mình quen biết, cộng thêm sự kiêng ăn để lời cầu nguyện có kiến hiệu thêm.

 Xin lỗi các chị em, tôi không vơ đũa cả nắm, tôi thường xuyên thấy những cảnh tượng mà Kinh thánh vạch trần như sau: “Bà nào thực sự góa bụa, sống một mình, đặt hi vọng nơi Đức Chúa  Trời thì cứ bền lòng ngày đêm cầu nguyện nài xin.  Nhưng quả phụ nào sống xa hoa trụy lạc thì dù sống cũng như chết” (1 Ti-mô-thê 5: 5-6).

 Nhiều quả phụ trẻ, “họ còn học thói ăn không ngồi rồi, la cà từ nhà nầy sang nhà khác; đã thế, họ còn ngồi lê đôi mách, xen vào chuyện người khác, nói những điều không đáng nói” (1 Tim. 5:13)

Tôi cầu nguyện Chúa sẽ có được nhiều người con gái đức tin có đời sống cầu nguyện cầu thay cho Việt Nam  như bà chị An-ne tại đền thờ thành Jerusalem xưa.

4. Quả phụ nghèo: Mác 12:41-44-

“Đức Chúa Jêsus ngồi đối diện với thùng lạc hiến, và quan sát dân chúng khi họ bỏ tiền vào thùng.  Nhiều người giàu bỏ vào rất nhiều tiền. Cũng có một bà góa  nghèo đến bỏ vào thùng hai đồng tiền nhỏ, trị giá một phần tư xu.  Ngài gọi các môn đồ đến và bảo: “Thật, Ta bảo các con, bà góa  nghèo nầy đã bỏ tiền vào thùng lạc hiến nhiều hơn tất cả những người khác.  Vì những người khác lấy tiền dư bạc thừa mà dâng; còn bà góa  nầy, rất nghèo túng nhưng đã dâng hết những gì mình có, là tất cả những gì để nuôi sống mình.”

 Đây có một người con gái đức tin của Chúa đã già nua. Bà chị nầy rất nghèo nàn và cô độc, nhưng khi mang tiền dâng lên cho Đức Chúa Trời thì, “đã dâng hết những gì mình có, là tất cả những gì để nuôi sống mình”.

Vào thời ấy cũng như thời nay, các nhà lãnh đạo dân Chúa đều giàu có, lượng tiền họ dâng thì lớn hơn lượng tiền dâng của mọi người, nhưng so về tỉ lệ thì họ dâng tiền it hơn chi em nầy. Họ dâng một phần nhỏ trong phần thừa thải của mình. Nên khi nghe Chúa giảng về tánh ham tiền, thì “người Pha-ri-si là kẻ ham tiền tài, nghe mọi điều đó, bèn chê cười Ngài” (Lu ca 16:14”.

 Tôi cũng thường cầu nguyện cho cuộc sống của các phụ nữ thiếu thốn trong  vòng dân Chúa mà tôi biết.

 Hodos. May 11, 2021

CHUYỆN KỂ: NÓI TIẾNG PHI CHÂU-

 Năm mươi năm về trước, khi tôi còn học tại Trường Kinh thánh tại Nha Trang, một giáo sư là người Hoa kỳ kể cho chúng tôi, các sinh viện, nghe một câu chuyện thật sau đây:

 Một cặp vợ chồng người Phi-luật Tân, xuất thân từ một chi hội Tin Lành quê nhà đi truyền giáo tại Phi châu, giảng cho một sắc tộc  tại lục địa đen đó.

Hôm đó ông bà mới về lại hội thánh quê nhà ở Phi luật Tân để nghỉ hạn trong một năm. Trong đêm đầu tiên ông bà đến tham dự buổi nhóm cầu nguyện của chi hội quê nhà , là chi hội đã dâng tiền tài trợ cho chức vụ ông bà tại Phi châu.

Đến giờ mỗi tín đồ trong hội thánh cầu nguyện từng người một. Một lt sau có một nam tín đồ cầu nguyện bằng tiếng lạ, không phải độc âm như “la ba da, la ba da, la ba da.”. mà cầu nguyện lớn tiếng bằng một thổ ngữ lạ lùng, không ai biết  một cách lạ lùng..

 Ông bà tín đồ vốn là giáo sĩ bỗng giật mình vì hiểu ra người tín đồ cầu nguyện bằng tiếng lạ đó,  là ông ta đang phỉ báng Đức Chúa Trời—mà chính người cầu nguyện tưởng mình đầy dẫy Đức Linh Linh, cũng không biết gì cả.

 Thật may mắn, cám ơn Chúa, vì ông bà giáo sĩ khi truyền gíao bên Phi Châu cũng biết vài thổ ngữ Phi châu nên mới hiểu nội dung lời cầu nguyện bằng tiếng lạ đó.

 Bạn ơi đừng biện luận khi bạn không có người thông dịch, nhưng bạn bụng bảo dạ rằng tôi cầu nguyện tiếng thiêng liêng, tiếng của thiên sứ mà.

 Bạn có dám quả quyết rằng bạn không bị tà linh thúc đẩy và chiếm hữu để nói ra lời của nó mà bạn tưởng là lời thiêng liêng chăng?

 Xin Chúa thương xót tỉnh ngộ bạn và ban ánh sáng cho bạn.

MK.

 

TỘI LỖI VÀ CÁC TỘI LỖI-

Tội lỗi (sin) và các tội lỗi (sins) là một lẽ thật khó hiểu.

Giáo hội Tin lành dịch chữ “sin” là nguyên tội và chữ “sins” là kỷ tôi. Họ lập ra một giáo lý:- “nguyên tội” là tội trong  bản tánh, kỷ tội là hành vi của mỗi cá nhân.

 Giáo hội khôi phục dịch chữ “sin” là tội và sins là tội phạm.

 Khi dịch Kinh thánh chúng ta phải chuyển ý sao cho càng lấy hết ý nghĩa thì càng tốt. Dịch Kinh thánh không phải là giải nghĩa Kinh thánh. Hai cách dịch trên đây là giải nghĩa Kinh thánh chứ không phải dịch sát nghĩa. Hai trường phái trên đều phạm lỗi lầm khi dịch Kinh thánh. Hai từ ngữ “sin” và “sins” nên dịch là “tội lỗi” và “các tội lỗi”-

1-    Tội lỗi (sin) là một thân vị, một nguyên tắc:

Sáng thế kí 4:7 chép, “Nếu ngươi làm lành, há chẳng ngước mặt lên sao? Còn như chẳng làm lành, thì tội lỗi (sin) rình đợi trước cửa, thèm ngươi lắm; nhưng ngươi phải quản trị nó.

Giăng 1:29, “Sáng ngày sau Giăng thấy Jêsus đến cùng mình, thì nói rằng:“Kìa, Chiên con của Đức Chúa Trời là Đấng cất tội lỗi (sin) của thế giới đi”

 Thi thiên 32:1, “Phước thay cho người nào được, được che phủ tội lỗi mình!

Trong cả ba câu kinh tháh trên bày tỏ tội lỗi số ít (sin) là một thân vị, đó là chính sa-tan.

     2. Các tội lỗi (sins) là hành vi của con người.

Mi-chê 7:19, “Ngài sẽ còn thương xót chúng tôi,… ném  hết thảy các tội lỗi (sins) chúng nó xuống đáy biển”.

 Hê-bơ-rơ 10: 4, “Vì huyết của bò đực và dê đực hẳn không thể cất các tội lỗi (sins) được.

Sau 1000 năm bình an Chúa sẽ cất tội lỗi (sin) ra khỏi vũ trụ, và quản thúc nó trong hồ lửa đời đời.

Trong thời Cựu ước, huyết của bò đực, dê đực không thể cất các tội lỗi, là hành vi của con người ra khỏi con người được.

 3. Tội lỗi (sin) và các tội lỗi (sins) trong thơ Rô-ma:

Trong thơ Rô-ma, Phao lô đúc kết ý nghĩa sâu sắc về Tội lỗi (sin) và các tội lỗi (sins).

--a/ Rô ma : Từ 1:1 đến 5:11 –

Chữ tội lỗi (sin) xuất hiện 3 lần và chữ “các tỗi lỗi” (sins)  xuất hiện rất nhiều lần.

Chúa xử lí các sins, là các hành vi của tội nhân bằng cách tha thứ và xóa bỏ  chúng nó.

 Rô 4:25, “Ngài đã bị nộp vì các tội lỗi chúng ta”

-b/ Từ 5:12—8:39

Danh từ “tội lỗi” (sin) xuất hiện 39 lần, và dường như không có chữ “các tội lỗi” (sins) xuất hiện.

 Rô ma 7:20, “Song nếu tôi làm điều tôi không muốn, thì chẳng còn phải là tôi  làm điều đó nữa, bèn là tội lỗi ở trong tôi”

 Ga la ti 2:20 nói “không phải tôi  mà là Đấng christ” thì Rô ma 7:20 nói không phải tôi mà tôi lỗi ở trong tôi.

 Thế thì “tội lỗi” nằm ngoài cửa đợi Ca-in là thân vị, là chính  sa-tan, và tội lỗi nội trú  trong Phao lô đã chế phục ông, cũng là một than vị, đó là sa-tan.

Chúng ta cần huyết của Đấng Christ xóa bôi và tha thứ các tội lỗi (sins) của chúng ta, nhưng chúng ta cần đến luật của sự sống (Rô ma 8:2) giải phóng chúng ta khỏi thân vị là sa tan, và tội lỗi nội cư bên trong chúng ta.

 Tội lỗi là một thân vị, là sa-tan. Khi nó nội cư trong chúng ta, chúng ta sinh ra nhiều bông trái là những sins, những hành vi tội ô.