Thứ Năm, 29 tháng 7, 2021

ĐẤNG THỐNG LĨNH—THE ALL-RULER-

Khải huyền 19:6, “Ha-lê-lu-gia! Vì Chúa là Đức Chúa Trời của chúng ta, là Đấng Thống Lĩnh, đang trị vì”.

-

Đấng Thống Lĩnh trị vì vũ trụ,

Kiểm soát mọi tình trạng địa cầu,

Lịch sử loài người Ngài chế ngự,

Cho phép điều ác tiến thế nào!

Dù covid hoành hành dữ tợn,

Vẫn còn Ngài nắm giữ trong tay,

Anh em hỡi, chớ nên hoảng loạn,

Chúa tối cao nào bỏ dân Ngài.

Hodos—July 29, 2021

ĐẤNG THỐNG LĨNH—THE ALL-RULER-

Tôi đã thấy một điều lạ lùng, là hầu hết mỗi sách trong Kinh thánh Chúa đều giới thiệu một Danh xưng đặc biệt của Ngài, để dân Chúa đang lâm vào hòan cảnh  nào đó theo sách đó bày tỏ ra thì họ có thể đến núp mình dưới Danh xưng đó. Vì Châm ngôn 18: 10 chép, “Danh Đức Giê-hô-va vốn một ngọn tháp kiên cố; Kẻ công bình chạy đến đó, gặp được nơi ẩn trú cao”.

 Danh xưng đặc biệt của Chúa trong sách Khải huyền, sách cuối cùng là: “Chúa là Đức Chúa Trời, Đấng hiện có, đã có, và còn đến, là Đấng Toàn năng, phán rằng: “Ta là An-pha và Ô-mê-ga.”(Khải 1:8).

Tôi đã coi qua hầu hết các bản dịch Kinh thánh Anh Văn và Việt văn đều dịch sai Danh “ Đấng Toàn Năng”.

Trong tự điển Hi lạp ghi chữ “ Đấng Toàn Năng” là : pantokratōr. Chữ nầy gồm hai chữ: panto= all, tất cả-- và kratōr: The Ruler= Nhà Cai trị. Tự điển Hi lạp ghi: the all- ruler, that is, God (as absolute and universal sovereign): - Almighty, Omnipoten. Nên dịch là The All-Ruler—Đấng Thống Lĩnh, Đấng Cai trị trên mọi sự mới lột hết ý nghĩa của chữ pantokratōr. Đề nghị anh em sửa lại từ ngữ nầy trong quyển Kinh thánh của mình cho đúng theo nguyên ngữ. Tôi nói trong danh Chúa không nói chơi và nói dối nha.

 Vào thời hậu lưu đày, 42 ngàn người Do thái hồi hương sau cuộc lưu dày Babylon, Chúa cho tiên tri Xa-cha-ri chép Danh Đức Giê-hô-va vạn quân đến 53 lần trong sách Xa-cha-ri để an ủi, trấn tỉnh dân thánh hồi hương ít ỏi và yếu nhược vào thời đó.

Danh xưng Đấng Thống Lĩnh nầy xuất hiện trong sách Khải huyền 9 lần duy nhất với mục đích trấn tỉnh dân Chúa vào giai đoạn cuối cùng khi sa tan sắp hết giờ nên hắn tạo ra lắm điều ác độc như dịch lệ covid, sóng thần, động đất để giết hại nhân loại. Chúa ban Danh lớn Đấng Thống Lĩnh làm nơi ẩn náu của chúng ta. Bạn hãy kêu cầu đến Danh Đấng Thống Lĩnh  giải cứu bạn khỏi những cảnh khổ không lường trước được, nếu xảy ra.

Khải 1:8, “Chúa là Đức Chúa Trời, Đấng hiện có, đã có, và còn đến, là Đấng

Thống Lĩnh, phán rằng: “Ta là An-pha và Ô-mê-ga.”

Khải 4:8, “Thánh thay, thánh thay, thánh thay là Chúa là Đức Chúa Trời,

Đấng Thống Lĩnh, đã có, hiện có, và còn đến!”

 Khải 11:17, “Hỡi Chúa là Đức Chúa Trời, Đấng Thống Lĩnh, Ngài biện có, đã có, chúng tôi cảm tạ Ngài, vì Ngài đã nắm lấy quyền rất lớn của Ngài, mà làm Vua”.

Khải 15:3, “Hỡi Chúa là Đức Chúa Trời, Đấng Thống Lĩnh, Công việc Chúa lớn lao thay, lạ lùng thay!”

Khải 16:7, “Phải, lạy Chúa là Đức Chúa Trời, Đấng Thống Lĩnh, Sự phán đoán của Ngài đều thành thật và công nghĩa.”

 Khải. 16:14, “nhóm họp họ cho cuộc chiến tranh trong ngày lớn của Đức Chúa Trời Thống Lĩnh”.

Khải 19:6, ““Ha-lê-lu-gia! Vì Chúa là Đức Chúa Trời của chúng ta, là Đấng

Thống Lĩnh, đang làm Vua”.

Khải. 19:15, “Ngài đạp lò rượu thạnh nộ phừng phừng của Đức Chúa Trời Thống Lĩnh”.

Khải. 21:22, “Trong đó tôi không thấy đền thờ nào, vì Chúa là Đức Chúa Trời, Đấng Thống Lĩnh, và Chiên Con đều là đền thờ của thành”.

 Bạn ơi, trong những năm sau cùng nầy, chớ hoảng loạn, đừng tuyệt vọng, hãy ẩn núp trong Danh Đấng Thống Lĩnh, hãy xin Đấng mang Danh ấy che chở và giải cúu bạn cách an toàn. A men.

Hodos --July 29, 2021

Thứ Sáu, 16 tháng 7, 2021

-Elizabeth Fry-


 

Nhà cải tạo nhà tù - Vào đầu những năm 1800, các nhà tù ở Anh là hố của sự khiếm nhã và tàn bạo. Ý tưởng là để trừng phạt, không phải cải tạo tù nhân. Hầu hết mọi người đều nghĩ rằng đây là cách mà mọi thứ nên làm hoặc tin rằng không thể làm gì để thay đổi hệ thống cố hữu này . Elizabeth Fry đã không đồng ý về cả hai cách điều hành và thúc đẩy một số cải cách nhà tù mà chúng ta vẫn thực hiện ngày nay. Điều kiện kinh hoàng Là con gái của một chủ ngân hàng người Anh, Elizabeth 20 tuổi kết hôn với Joseph Fry, một nhà buôn trà giàu có. Bả đến với Chúa nhanh chóng, cuối cùng là số 11. Khi bà hiến dâng cuộc đời mình cho Chúa Giê-su Christ ở tuổi 18, bà muốn giúp đỡ những người bị áp bức. Vì vậy, là một cô dâu trẻ và một người mẹ, bà đã tặng thuốc và quần áo cho những người vô gia cư và giúp thành lập Sisters of Devonshire Square, một trường dưỡng lão. Năm 1813, ở tuổi 33, sự chú ý của bà chuyển sang các nữ tù nhân trong nhà tù Newgate ở London. Bà bắt đầu đến thăm nhà tù gần như hàng ngày, và những gì bà thấy ở đó khiến bà kinh hoàng. Tại Newgate, những phụ nữ đang chờ xét xử vì tội ăn trộm táo bị nhét vào cùng phòng giam với những phụ nữ đã bị kết tội giết người hoặc giả mạo (cả hai đều là tội ác). Phụ nữ ăn, đại tiện và ngủ trong cùng một khu vực kín. Nếu một tù nhân có con, họ sẽ cùng cô ta vào tù và sống trong những điều kiện vô nhân đạo tương tự. Đối với những người không có sự giúp đỡ từ gia đình, bạn bè hoặc tổ chức từ thiện, các lựa chọn là ăn xin và ăn cắp thức ăn, hoặc chết đói. Nhiều phụ nữ cũng xin rượu, khỏa thân và say xỉn. Cảnh những đứa trẻ bám lấy mẹ khi chúng bị lôi lên giá treo cổ là một cảnh được diễn đi diễn lại nhiều lần. Cuộc sống tốt đẹp hơn cho các tù nhân Các quan chức nhà tù đã cảnh báo Fry về những rủi ro mà bà phải đối mặt khi đến thăm các nhà tù (tiếp xúc với bạo lực và bệnh tật), nhưng bà gạt những lời cảnh báo sang một bên. Bên cạnh việc an ủi phụ nữ, bà dạy họ cách vệ sinh cơ bản, may vá và chăn bông (để họ có thể kiếm sống khi được thả). Bà đọc Kinh thánh cho các bạn tù và tặng Kinh thánh. Bà đã can thiệp cho những người phụ nữ bị tử hình, và nếu lời cầu xin của bà không thành công, bà sẽ cùng những người phụ nữ lên đoạn đầu đài và an ủi họ trong những giây phút cuối cùng. Để mở rộng nỗ lực của mình, vào năm 1816, bà thành lập Hiệp hội Cải thiện Nữ tù nhân Newgate "để cung cấp quần áo, hướng dẫn và việc làm cho phụ nữ; giới thiệu cho họ kiến ​​thức về Kinh thánh và hình thành họ, càng nhiều càng tốt, những thói quen tỉnh táo, trật tự và công nghiệp, những thứ có thể khiến họ trở nên ngoan ngoãn và hòa bình khi ở trong tù, và đáng kính khi họ rời khỏi nó. " Những cải cách cụ thể mà bà vận động bao gồm: tách biệt tù nhân nam và nữ, công việc được trả lương cho tù nhân, nữ cai ngục cho tù nhân nữ và nhà ở của tội phạm dựa trên tội ác của họ. Ngoài Newgate Đối với các nhà quan sát thế kỷ 19, những nỗ lực của Fry đã tạo ra một điều kỳ diệu: nhiều tù nhân được cho là ngông cuồng và bất khiết đã trở nên có trật tự, kỷ luật , hiền lành và sùng đạo dưới sự chăm sóc của bà. Các thị trưởng và cảnh sát trưởng từ các khu vực xung quanh đã đến thăm Newgate và bắt đầu tiến hành cải cách trong các nhà tù của chính họ. Năm 1818, Fry đưa ra lời khai trước Hạ viện về tình trạng các nhà tù ở Anh, điều này góp phần vào Đạo luật Cải cách Nhà tù năm 1823. Mối quan tâm của Fry mở rộng đến những phụ nữ sống trong những ngôi nhà nửa vời, nơi bà giới thiệu giáo dục, kỷ luật và hướng dẫn Kinh thánh. Bà đã giúp thành lập một nơi trú ẩn ban đêm ở London (1820) và thành lập các hội đoàn để phục vụ các gia đình lang thang. Bà cũng thúc đẩy các ý tưởng cải cách nhà tù của mình ở Pháp, Bỉ, Hà Lan và Đức. Cho đến khi qua đời vào năm 1845 ở tuổi 65, bà đã đến thăm mọi con tàu kết án chở các nữ tù nhân đến các thuộc địa của Anh. Ý tưởng của Fry đã truyền cảm hứng cho các thế hệ tiếp theo để kết hợp công bằng xã hội và công bố phúc âm Chúa đến với các tù nhân , đồng thời định hình lại cách các tù nhân bị đối xử, kể từ đó. “Cảm tạ ơn Chúa đã dùng một người nữ yếu đuối trở nên một người mạnh mẽ phi thường , mà Chúa đã dùng bà Fry truyền rao phúc âm của Chúa đến những nữ tù nhân cô đơn trong tù và ngoài xã hội đã ruồng bỏ và áp bức họ! Và đánh thức lương tâm của thế giới trong tình yêu Chúa Jesus đã ban cho chúng ta. Amen

Thứ Sáu, 11 tháng 6, 2021

NHỮNG TÊN HỌ CỦA LUCIFER-

Tôi muốn tương giao cùng anh em về các tên họ của Sa-tan. Tên riêng, tên cúng cơm của sa-tan là Lucifer, và 6 tên khác nữa, tất cả là 7 tên.

1.    Lucifer: Ê-sai 14:

“Hỡi sao mai, con trai của sáng sớm kia, sao ngươi từ trời sa xuống! Hỡi kẻ giày đạp các nước kia, ngươi bị chặt xuống đất là thể nào”.

Chúa dùng vua Ba-by-lôn ví sánh cho sa-tan. Trong nguyên văn Hê-bơ-rơ, chữ Sao mai là “hêylêl”, có nghĩa đen là brightness; the morning star, Lucifer. Nên chữ Lucifer có nghĩa là người mang ánh sáng. Lucifer là thiên sứ trưởng trên mọi thiên sứ trưởng khác. Sau khi sa ngã hắn bị đuổi khỏi thiên dàng, không bao giờ được trở lại. Vào ngày thứ 2 khi Chúa tái tạo phục hồi trái đất và bầu trời quanh trái đất thì Lucifer  và các thiên sứ sa ngã theo hắn chiếm lấy khoảng không xây dụng chỗ ở của chúng nó trong 6000 năm qua.

Khải  huyền 12:9 nói 4 tên khác của Lucifer như sau: “Con rồng lớn bị quăng xuống, tức là con rắn xưa, gọi là Ma quỷ  và Sa-tan”.

2.    Con rắn xưa:

Sáng thế kí 3 : 1, “Vả, trong các loài thú đồng mà Giê-hô-va Đức Chúa Trời đã làm nên, có con rắn là giống quỉ quyệt hơn hết. Rắn nói cùng người nữ rằng: Mà chi! Đức Chúa Trời há có phán dặn các ngươi không được phép ăn trái các cây trong vườn sao?”.

 Chúng ta không biết Lucifer đã dùng con rắn cụ thể trong vườn hay nó hóa phép thánh con rắn khi tiếp cập bà Ê-va. Nhưng chữ Con Rắn trở thành tên của nó.

3.    Con rồng:

Rắn thì bó bằng bụng trên đất, Lucifer lên khoảng không để sống, nên hắn được Kinh thánh sách Khải huyền gọi là con rồng. Rắn thì điều ngoa, cong quẹo, rồng thì bí hiểm, quỷ quyệt.

4.    Ma quỷ

Ma-thi-ơ 4:1, “Bấy giờ Thánh Linh đưa Jêsus đến đồng vắng để chịu ma quỷ cám dỗ”. Chữ ma quỷ đây là the devil khác với các quỷ nhỏ (demon), là lính của Lucifer. Chữ devil xuất hiện chừng 35 lần trong Kinh thánh Tân ước. Nguyên ngữ Hi lạp là: diabolos, có nghĩa đen là slander, kẻ vu khống, kẻ phỉ báng, kẻ gièm pha.

 Ngoài 35 danh từ Ma quỷ còn có tính từ diabolos. Anh văn dịch là slanderous, công kích có tính vu khống, phỉ báng, vu cáo người ta, gièm pha. Chữ nầy xuất hiện  3 lần ở:

1 Ti. 3:11- Đờn bà cũng vậy, …chớ nói gièm

2 Ti. 3:3- không thân tình, cừu hờn, hay nói gièm

Tít 2:3-- Các bà già cũng vậy,  đừng nói gièm

5.    Sa- tan

Chữ Sa-tan xuất hiện gần 35 lần, nghĩa đen là adversary, kẻ thù của Chúa.

Ma-thi-ơ 4:10, “Đức Jêsus bèn phán cùng nó rằng: "Ớ Sa-tan, hãy lui đi!”

6.    Bê-ên xê-bun

Trong nguyên ngữ Hi lạp là: Beelzeboul. Chữ nầy có nghĩadung god”, thần của đống phân, vua bầy ruồi xanh bay trên đống phân, theo gốc từ ngữ của  tiếng Canh-đê.

 “Song người Pha-ri-si nghe vậy thì nói rằng: "Người nầy không  đuổi quỉ được trừ phi nhờ Bê-ên-xê-bun, chủ quỉ, thôi."  Jêsus biết ý tưởng họ, bèn phán cùng họ rằng: "Hễ nước nào tự chia xé thì bị phá hoang, hễ thành hay là nhà nào mà tự chia xé thì không đứng nổi.  Nếu Sa-tan đuổi Sa-tan, thì tự nó chia xé, nước nó đứng sao  nổi?  Còn nếu ta nhờ Bê-ên-xê-bun mà đuổi quỉ, thì con trai các ngươi nhờ ai mà đuổi quỉ ư? Bởi vậy, chúng nó sẽ là kẻ định tội các ngươi” (Ma-thi-ơ 12;24-27).

Tóm lại Lucifer có 6 tên khác nhau.

 

7.    Bê-li-an:

2 Cô- rinh-tô 6:15, “Đấng Christ và Bê-li-an nào có tương hoà chi?”

 Bê-li-an al2 tên gọi của sa-tan. Chũ nầy chép 1 lần duy nhất trong Kinh tân ước. Nguyên ngữ là: Belial, có nguồn gốc từ tiếng Hê-bơ-rơ có nghĩa worthlessness, không có giá trị, vô lại, vô ích, không  ra gì.

 Barzillai- 9-6-2021