Thứ Sáu, 15 tháng 7, 2022

Bài giảng sáng 15-7-2022

 

Lời Chúc Tiên Tri của Gia Cốp cho 12 con--2-


https://youtu.be/kzQ5IIPnhFg

Thứ Năm, 14 tháng 7, 2022

THÁNH KINH SỬ ĐỊA -2-



 --Phao-lô từ Đa-mách đến An-ti-ốt-

Phao-lô (Nhỏ Thó) còn có tên Hê-bơ-rơ là Sau-lơ (Cầu Xin) là con của người Hê bơ rơ (Phil. 3;5, Công.22:3), chi phái Bên gia min, sinh ra tại Tạt sơ. Dân thành Tạt sơ có công trận với sê sa La mã, nên mọi người sinh ra tại đó đều hưởng quyền quốc tịch La mã (Công. 22; 28)-

  Trong cuộc hành trình bắt bớ Cơ Đốc nhân, trước khi vào Đa mách, Phao lô đã gặp Chúa (Công. 9:1-19). Ngay sau khi tiếp nhận Chúa Giê su và chịu báp-têm, Kinh thánh chép, “Sau-lơ ở với các môn đồ tại Thành Ða-mách vài ngày, rồi ông lập tức vào trong các hội đường giảng rằng Ðức Chúa Jesus là Con Ðức Chúa Trời. Những ai nghe ông giảng đều ngạc nhiên và nói, “Chẳng phải người nầy đã gây tàn hại cho những ai ở Giê-ru-sa-lem kêu cầu danh ấy hay sao? Chẳng phải vì lý do đó mà ông ta đến đây để bắt trói họ và giải về cho các trưởng tế sao?” (Công vụ 9: 19b--21).

Lời Lu ca chép, “Nhưng Sau-lơ càng ngày càng mạnh dạn; ông làm cho những người Do-thái ở Ða-mách phải ngỡ ngàng khi chứng minh cho họ thấy rằng Ðức Chúa Jesus chính là Ðấng Christ. Sau một thời gian dài, người Do-thái lập mưu giết ông, nhưng Sau-lơ đã biết được âm mưu đó. Họ canh các cổng thành cả ngày lẫn đêm để chờ dịp giết ông. Nhưng một đêm kia, các môn đồ của ông đã để ông trong một cái thúng và dòng ông xuống ra ngoài tường thành” (Công 9: 22-25) có lẽ xảy ra sau khi Phao lô đã đi vào trong sa mạc Á-rập 3 năm để được Chúa tập huấn rồi- Ông nói, tôi, “tôi cũng không đi lên Giê-ru-sa-lem để gặp các vị làm sứ đồ trước tôi, nhưng tôi đi vào xứ A-ra-bi, rồi sau đó tôi trở về thành Ða-mách” (Gal. 1;17).

Trong khi sống tại Đa-mách lần thứ hai, Lu ca ghi lại, “sau một thời gian dài, người Do-thái lập mưu giết ông, nhưng Sau-lơ đã biết được âm mưu đó. Họ canh các cổng thành cả ngày lẫn đêm để chờ dịp giết ông. Nhưng một đêm kia, các môn đồ của ông đã để ông trong một cái thúng và dòng ông xuống ra ngoài tường thành” (Công 9: 23-25). Chính Phao-lô cũng tự thuật lại cuộc trốn thoát nầy, xem 2 Cor. 11:32-33. Vua của thành Đa mách vào lúc đó tên là A-rê-ta.

 Từ Đa-mách, nước Syria, Phao lô đi bô hơn vài trăm cây số xuống Giê-ru-sa-lem ở miền năm Israel. Lu ca chép, “Khi ông về đến Giê-ru-sa-lem, ông cố gắng liên kết với các môn đồ, nhưng ai nấy đều e ngại, vì họ không tin rằng ông là môn đồ thật. Nhưng Ba-na-ba đứng ra bảo lãnh ông, đưa ông đến gặp các vị sứ đồ, và nói cho họ biết thể nào ông đã thấy Chúa trên đường, Ngài đã bảo ông những gì, và thể nào ông đã nhân danh Ðức Chúa Jesus giảng dạy cách dạn dĩ ở Ða-mách. Từ đó Sau-lơ ở với họ và được tự do tới lui hoạt động với họ tại Giê-ru-sa-lem. Ông nhân danh Chúa và nói cách mạnh dạn. Ông đàm đạo và tranh luận với những người Do-thái chịu ảnh hưởng của văn hóa Hy-lạp, nhưng những người ấy tìm cách giết ông. Khi anh em nghe điều đó, họ đưa ông xuống Sê-sa-rê, và gởi ông về Tạt-sơ” (Công. 9:26-30).

 Đấy là việc Phao-lô lên Giê ru sa lem lần thứ nhất sau khi tin Chúa. Có lẽ ông có nói sự việc nầy như sau: “Ba năm sau tôi đi lên Giê-ru-sa-lem để làm quen với Sê-pha và ở lại với ông ấy mười lăm ngày. Nhưng tôi không gặp một vị sứ đồ nào khác ngoài Gia-cơ em trai Chúa“ (Gal. 1:18-19).

Sự việc tín đồ Do thái giáo tại Giê-ru sa lem muốn giết ông, và anh em Cơ Đốc nhân Do thái ở đó đưa ông về quê hương Tạt sơ. Việc nầy được ông nhắc lại như sau; “Sau đó tôi trở về Giê-ru-sa-lem. Khi tôi cầu nguyện trong đền thờ, tôi bị xuất thần, và tôi thấy Chúa nói với tôi, ‘Hãy mau lên, hãy lập tức rời khỏi Giê-ru-sa-lem, vì họ không chấp nhận lời chứng của con về Ta.’Tôi thưa lại, ‘Lạy Chúa, chính họ biết rõ con đã từng đi từ hội đường nầy đến hội đường khác bắt bỏ tù và đánh đập bất cứ ai tin Ngài. Khi máu của Ê-tiên nhân chứng của Ngài bị đổ ra, con đã đứng xem, tán thành, và giữ áo choàng cho những người giết ông ấy.’Ngài phán với tôi, ‘Hãy đi, vì Ta muốn sai con đến với các dân ngoại ở những nơi xa xăm.’” (Công 22:17-21).

Sau đó một thời gian, tôi không biết mấy tháng, Ba na ba là sứ giả được hội thánh Giê ru sa lem sai đến thành phố An-ti-ốt, xứ Syria, chăm sóc hội thánh non trẻ, có tín đồ Đấng Christ nhóm lại cách hỗn hợp giữa người Do thái và một vài dân tộc khác. Ba na ba thấy một mình không thể đảm đương chăm sóc cả hội thánh An ti ốt, nên Lu ca tường thuật, “Tin ấy đến tai hội thánh tại Giê-ru-sa-lem; họ phái Ba-na-ba đến An-ti-ốt. Khi ông đến nơi và thấy ân sủng của Ðức Chúa Trời, ông vui mừng và khuyên mọi người hãy hết lòng trung tín với Chúa, vì ông là một người tốt, đầy dẫy Ðức Thánh Linh, và đức tin. Bấy giờ có thêm một số đông người nữa tin Chúa. Sau đó ông đi đến Tạt-sơ để tìm Sau-lơ (Phao-lô). Sau khi tìm được ông ấy, ông đưa ông ấy về An-ti-ốt. Rồi trọn một năm, hai người nhóm lại với hội thánh và giảng dạy cho nhiều người; và các môn đồ được gọi là “những Cơ Đốc nhân” đầu tiên ở An-ti-ốt” (Công. 11: 22-26).

 Cám ơn Chúa, rồi tại An-ti-ốt, Đức Thánh Linh đã sai Ba na ba và Phao lô mở đầu cuộc hành trình truyền giáo thứ nhất cho các dân tộc ngoại bang. Và sau đó Chúa còn dùng Phao lô trong ba cuộc hành trình truyền giáo tiếp theo cho đến cuối sách Công vụ các sứ đồ.

Minh Khải 14-7-2022

 

Chủ Nhật, 10 tháng 7, 2022

Bài giảng sáng Chúa Nhật 10-7-2022

 

Chủ đề: Bốn Chân Dung Của Gia-cốp



https://youtu.be/-TM5FMrGL9A

Thứ Sáu, 8 tháng 7, 2022

ĐẤNG CHÂN THẬT



Đang khi nghiên cứu sách Khải Thị, chúng ta cần cẩn thận tránh thuộc linh hóa cảnh thái quá những gì chúng ta đọc. Trời mới và đất mới của Giăng là thiết thực, không phải tưởng tượng, và Giê ru sa lem mới của ông là thiết thực, thiết thực y như Chúa phục sinh là thiết thực. Thuộc linh hóa các điều thần thượng là phương tiện liều lĩnh làm dân chúng không sở hữu được thực tế. Nhiều anh em thân yêu đang chỉ tích trữ lẽ thật thuộc linh và tiên tri, tôi sợ để xây dựng cho chính họ một thế giới hư ảo.
Để thực hiện được điều này phải trốn thoát thực tế, thực y như những người, mà chúng ta đã thấy trước đây, ngày nay đang đủ sẵn sàng sống trong bầu không khí thuộc linh của Ê phê sô nhưng muốn né tranh đối diện sự thách thức thực tiễn của thơ I Cô rinh tô. Nhưng hãy nhớ đây là chính sự lừa đảo mà đã bắt lấy Lao đi xê, khiến cho họ có thể tin lời dối trá.
Dấu hiệu của sự trưởng thành thuộc linh sẽ luôn luôn tỏ rõ khi các điều thần thượng trở nên thiết thực đối với chúng ta, vì cớ Đấng Christ là thiết thực đối với chúng ta. Thực sự, chúng ta thấy Ngài, như sự sống thiết thực, sự thánh khiết thiết thực, như “lẽ thật”; và tôi dùng lẽ thật ở đây theo một ý nghĩa rất khác biệt với cách dùng về chữ đó trước đây khi diễn giảng về “lẽ thật tiên tri”. Nhiều người lẫn lộn lẽ thật và giáo lý, nhưng hai điều này không giống nhau. Giáo lý là điều được giảng trên trái đất về lẽ thật vĩnh cửu. Tôi biết rõ rằng chữ “lẽ thật” của chúng tôi trong Hoa văn là chen– li (chân lý, dịch sát là: giáo lý của thực tế) nhưng thực ra theo ý nghĩa Hi văn chỉ có chen không có li, có thực tế mà không có giáo lý, có “sự thât” mà không có “lí lẽ”. Chúa Jesus phán “các người sẽ biết lẽ thật (Giăng 8:32), chính Ngài thể hiện tất cả những gì chân thật (Khải 3:7 so với I Giăng 5:20) và nhờ đó chúng ta sẽ biết Ngài.
Lẽ thật “ở trong Jesus” (Eph 4:21) và như ân điển, nó “đã đến xuyên qua Jesus Christ (Giăng 1:17) Chúng ta hoan nghinh ân điển Ngài, nhưng chúng ta biết lẽ thật Ngài chăng? Ân điển đã đến cùng chúng ta trong một hành động lịch sử khi Ngài đã phó dâng chính Ngài trên thập tự giá nhưng chắc chắn lẽ thật đã được cột chặt với thân vị và công tác của Ngài cách không kém sút, chớ không chỉ là những gì được diễn giảng suông qua sự rao giảng của Ngài. Do đó, nếu ân điển mở rộng đến chúng ta bây giờ chắc chắn lẽ thật sẽ lan rộng đến chúng ta và bao bọc lấy chúng ta, tức những kẻ, xuyên qua đức tin trong công tác hoàn tất đó, bây giờ được hiệp nhất với Ngài.
Song le đang khi nhiều người biết Ngài như Đường lối và Sự sống, thực ra ngày nay lại hiếm có người biết Ngài là lẽ thật. Đây là một sự thiếu hụt nghiêm trọng, vì chúng tôi đã nói, lẽ thật là thực tế. Trước Ngài và cách xa Ngài không có thực tế, nếu chúng ta có thể bước vào lẽ thật, nếu chúng ta muốn, vì cớ công tác hoàn tất của Ngài còn tồn tại cho chúng ta ở hôm nay như là điều chân thật nhất trong thế giới. Chúng ta là gì trước mặt Đức Chúa Trời, chúng ta là vậy trong thực tế vì cớ những gì Ngài đã thực hiện.
Điều nầy có một diễn tiến quan trọng trong kinh nghiệm thực tiễn của chúng ta. Sự trở ngại theo lý thuyết của tôi luôn luôn là đây, tôi là gì ở đây, đều rất thường khải thị tất cả điều gì sai lầm nhiều. Công tác của Đấng Christ đã tạo cho tôi là một điều, nhưng những gì tôi kinh nghiệm trên trái đất lại rất thường tỏ ra là nghịch lại với sự thật về điều đó. Làm thế nào tôi làm tốt sự mâu thuẫn đó? Làm sao tôi sống để đến nổi phẩm hạnh tôi ở đây biểu hiện cách cương quyết cho điều tôi biết là chơn thật ở đó chớ?
Xuyên qua thập tự giá, điều tôi phải thấy là điều mà Đức Chúa Trời đã làm cho tôi trở nên là gì trong Ngài, là điều thiết thực. Đó là nền tảng của mọi kinh nghiệm Cơ Đốc nhân chân thật của tôi. Không có gì khác nhờ mỹ đức của việc ở trong Đấng Christ, điều gì tôi đã trở nên là lẽ thật vĩnh cửu. Lỗi lầm duy nhất của tôi sẽ là cứ bận bịu nơi các cảm xúc và kinh nghiệm của mình, các nỗ lực và lỗi lầm của mình, các nỗi nghi ngờ và hi vọng của mình, chớ không buộc chặt đức tin tôi nơi Đấng chân thật.
Mọi sự tập trung nơi Ngài. Chúng ta thấy Đấng Christ trên thập tự giá tại chính trung tâm của kinh văn. Chúng ta đã được bao hàm trong sự chết của Ngài và khi Ngài đã phục sinh chúng ta phục sinh với Ngài, các chi thể của Thân Thể Ngài. Giăng khải thị Ngài cho chúng ta vì Ngài hằng hữu hôm nay và ngợi khen Đức Chúa Trời, sự thăng thiên và vinh quang của Ngài thuộc về chúng ta! Nhưng chúng ta rút niềm xác tín của chúng ta về các điều này từ đâu? Không từ các cảm xúc của chúng ta, nhưng từ thực tế của thân vị và công tác của Ngài. Những gì Đấng Christ đã làm là chỗ an nghỉ của đức tin chúng ta. Đó không phải là các cảm xúc của chúng ta, thậm chí cũng không phải tri thức của chúng ta mà có thể giải phóng chúng ta. Đó là lẽ thật, là sự thật (Giăng 8:32) Điều Giăng 8:32 bày tỏ cho chúng ta là mãi đến khi chúng ta thấy được các điều này, chúng ta cứ còn bị ách nô lệ, nhưng vì cớ công tác của Đấng Christ là thiết thực và vì cớ những gì chúng ta đã trở nên trong Ngài là lẽ thật, sự khám phá suông về các thực tế này cũng mở đường cho chúng, rồi nhờ chính bản chất của chúng, giúp chấm dứt ách nô lệ của chúng ta.
Đây là giá trị lớn lao đến với chúng ta từ sự tiết lộ mới mẻ của Giăng về Chúa Jesus. Nhìn theo một tầm mức loài người suông– thí dụ, từ quan điểm của một tù nhân La Mã ở trên đảo gọi là Bát mô – sự toàn thắng của Đấng Christ là thực tế không giống mấy đối với bất cứ điều gì chúng ta có thể nghĩ về nên điều đó có như vậy và cũng có như vậy hôm nay. Chúng ta nhìn vào xã hội, nhìn vào Cơ đốc giáo bề ngoài, thấy ách nô lệ, sự áp chế, hư hỏng và bất cứ điều gì khác trừ sự tự do. Nên chúng ta cầu nguyện và cầu xin sự đắc thắng và đang khi làm như vậy đem lại sự nói dối cho sự toàn thắng của Gô gô tha. Lẽ thật, thực tế vinh diệu là điều Christ đã chinh phục rồi, chớ không phải Ngài sắp chiếm hữu điều gì Đức Chúa Trời đang làm ngày nay là những điều đã thực hiện rồi trong Christ. Nhu cầu tối thượng của chúng ta là phải thấy được thực sự đó.
“Cầu Chúa phát sinh ánh sáng và sự thật của Chúa ra” (Thi 43:3) Hai điều này liên kết với nhau. Sự thật đã được hoàn bị trong Đấng Christ nhưng nhu cầu của lòng chúng ta là phải có được ánh sáng Đức Chúa Trời soi rọi trên lẽ thật đó. Lẽ thật, được rao giảng mà không có ánh sáng trở nên giáo lý. Còn có ánh sáng thần thượng nó trở nên sự khải thị. Nó luôn luôn đến cùng chúng ta như một giáo lý này hay giáo lý kia. Nhưng lẽ thật, sự thật, thực tế vĩnh cửu là chính mình Đấng Christ và rồi nhờ ân điển Ngài những gì Đức Chúa Trời đã làm cho chúng ta đều ở trong Ngài.
W.N.