Thứ Bảy, 11 tháng 12, 2021

Người Gieo Giống

Người gieo giống là thân vị của Chúa Jesus và hạt giống được gieo cũng là chính Chúa như hiện thân Đức Chúa Trời tam nhất. Đấng Christ đã gieo chính Ngài như hạt giống sự sống vào chúng ta.(Mathio 13: 4, 8-- "Kìa, có người gieo đi ra gieo-- Khi người nào nghe lời của nước trời). Đấng Christ là hột giống ngụ ý bởi lời (câu 19)., và chúng ta, những kẻ được chọn của Đức Chúa Trời, là đất đai. Theo quan điểm của Đức Chúa Trời, chúng ta là đất để mọc lên Đấng Christ. Vì vậy, Đấng Christ như lời, là hột giống sự sống được gieo vào chúng ta như là đất. 

   Đấng Christ đã đến trái đất, không chỉ để ở với chúng ta (Em-ma-nu-ên) nhưng cũng như là hột giống được gieo vào bản thể chúng ta. Qua sự nhục hóa, Ngài đã  trở thành hột giống của sự sống, và trong chức vụ mình, Ngài đã gieo hột giống nầy vào nhiều người khác. Điều nầy có nghĩa, Ngài đã gieo chính Ngài như hiện thân Đức Chúa Trời tam nhất vào các tín đồ Ngài. Là Người Gieo, Đấng Christ đã gieo chính Ngài như hột giống sự sống vào tấm lòng chúng ta đến nỗi Ngài có thể sống trong chúng ta, lớn lên trong chúng ta, và được biểu hiện từ trong chúng ta.

Y như hột giống sự sống được trồng xuống đất, thì được trộn lẫn với yếu tố của đất, và lớn lên chung với đất để sản sinh cây trồng, Đấng Christ đã gieo chính Ngài như hạt giống sự sống vào chúng ta như đất, và cả Ngài và chúng ta cùng lớn lên với nhau. Là hạt giống sự sống, Ngài có một loại yếu tố nào đó, và cũng là đất để lớn lên, chúng ta cũng có một loại yếu tố nào đó, hai yếu tố nầy trộn lẫn nhau và lớn lên chung với nhau để thành một cây trồng. Đấy là Thân thể của Đấng Christ được cấu tạo bằng sự sống thần thượng trộn lẫn với nhân tính. Trong thực tại, Thân Thể của Đấng Christ là cây trồng lớn lên từ trong Đấng Christ như hạt giống sự sống, gieo vào lòng con người như đất lớn lên.

Chúng ta cần thấy khải tượng về Đấng Christ, Người Gieo Giống, gieo chính Ngài như hột giống sự sống vào con người. Khải tượng nầy có liên quan khát vọng của lòng Đức Chúa Trời. Ngài khao khát vào trong chúng ta, tuyển dân của Ngài, làm sự sống của chúng ta theo cách trộn lẫn, để làm cho chính Ngài thành yếu tố của chúng ta, và làm cho chúng ta nên sự biểu hiện của Ngài. Đấng Christ, hiện thân của Đức Chúa Trời, đã gieo chính Ngài vào trong bản thể chúng ta. Đấy là một sự việc sâu nhiệm biết bao!

Nhờ gieo chính Ngài như hạt giống sự sống vào chúng ta, Đấng Christ làm cho chúng ta thành cây lúa mì sự sống (câu 30). Là lúa mì sự sống, chúng ta là nhiều hạt, do Đấng Christ sản sinh (Giăng 12:24-- nếu hột lúa mì chẳng rơi xuống đất mà chết, thì cứ chỉ một mình; nhưng nếu chết đi, thì kết quả nhiều). Đức Chúa Trời tam nhất trong sự hiện thân của Ngài, đã được gieo vào bản thể chúng ta, lớn lên thành cây lúa mì, sản sinh nhiều hạt mà có thể được trộn lẫn với nhau thành một thực thể, một Thân Thể của Đấng Christ (1 Cor. 10:17- Bởi chưng chúng ta tuy nhiều, mà là một ổ bánh, một thân thể, vì chúng ta thảy đều có phần trong cùng một ổ bánh đó.). Tư tưởng sâu nhiệm biết bao!


Chiến Thuật Của Ma Quỷ-

Ê-phê-sô 6:12;  Luca 22: 31-34; 2 Cô-rinh-tô 2:11; 1 Phiero 5:8; Math 13:19, 39 "Tất cả những ai nghe lời vương quốc thiên đàng mà không hiểu thì quỷ dữ đến cướp mất hạt giống đã gieo trong lòng họ--Kẻ thù gieo cỏ dại là quỷ dữ,:"

Thật là tốt khi biết đối thủ của bạn, khi mà bạn đang sống trong một cuộc chiến. Và chúng ta đang chiến đấu chống lại thế lực gian ác, vô hình (Eph 6:12). Vì vậy, chúng ta hãy xem xét một số chiến thuật của kẻ thù:

1. Satan cướp đi lời của Đức Chúa Trời đến được tấm lòng chúng ta (Math 13:19

2. Satan truyền bá tà giáo (Math. 13:39).

3. Satan muốn làm cho chúng ta bối rối và từ đó làm suy yếu đức tin của chúng ta (Luca 22: 31-34).

4. Sa-tan muốn chia rẽ các tín đồ (2 Cô 2:11).

5. Sa-tan muốn làm chúng ta nản lòng qua đau khổ và bắt bớ (1 Phi. 5: 8-.

6. Satan bắn những mũi tên nghi ngờ bốc lửa (Eph 6:16).

7. Sa-tan muốn dẫn chúng ta đến sự vô luân (1 Cô 7: 5).

8. Satan ngụy trang để đánh lừa các tín hữu (2 Cor 11:14).

9. Sa-tan đặt những cạm bẫy để người ta không nhận thức được lẽ thật (2 Ti 2:26).

10. Sa-tan muốn ngăn cản sự thông công giữa các tín đồ (1 Tê 2: 17-18).

11. Sa-tan tìm cách ngăn cản sự phục hồi (Xa cha ri. 3: 1-7).

Chúng ta phải ghi nhớ khi lướt Internet và trong nhiều trường hợp khác rằng có một kẻ thù xảo quyệt đang cố gắng làm hại chúng ta. Vì vậy, chúng ta hãy chú ý lời cảnh giác của chúng tôi ngày hôm nay.


Vương Quốc Của Đức Chúa Trời-

Ma-thi-ơ 13:43, "Còn người công chính sẽ chiếu sáng như mặt trời trong nước của Cha họ. Ai có tai, hãy lắng nghe"

-

Khi nói về vương quốc của Đức Chúa Trời, tốt nhất là bạn nên phân biệt một số điểm cơ bản:

---Vương quốc của Đức Chúa Trời có hai giai đoạn:

• Giai đoạn hiện tại: Vua vắng bóng. Các môn đồ của Ngài thừa nhận thẩm quyền của Chúa họ, làm chứng và chia sẻ sự từ chối của Ngài trên đất. Ngày nay, họ đang thực hiện những dấu hiệu tốt đẹp về vương quốc sắp đến (Rô-ma 14:17).

• Giai đoạn tương lai: Nhà vua xuất hiện đầy quyền lực và vinh quang và được cả thế giới công nhận. Sau đó, các môn đệ của Chúa chia sẻ quyền cai trị của Ngài. Những người đã từng bị quấy rối sau đó được bình an.

-

--Vương quốc của Đức Chúa Trời có hai lĩnh vực trong giai đoạn tương lai:

• Cõi trần gian: Đây là những người  (dân chiên Mathio 25:31- 46) trên đất được ban phước dưới sự cai trị của Đấng Christ. Đó là vương quốc của Con Người, Ma-thi-ơ 16:28

• Cõi thiên đàng: Đây là những tín đồ trên trời, những người sẽ cùng cai trị với Đấng Christ. Đây được gọi là "Vương quốc của Cha", Ma-thi-ơ 13:43. (Tuy nhiên, vương quốc của Đức Chúa Trời có mối quan hệ với trái đất: bởi vì quyền cai trị từ thiên đàng chỉ về trái đất.)

-

--Vương quốc của Đức Chúa Trời tồn tại từ hai viễn cảnh:

• Có một lãnh vực bên trong của vương quốc Đức Chúa Trời. Những người tham gia vào nó có các phước lành thần thượng. Lối vào khu vực này là sự tái sinh (Giăng 3). Đó là mặt thần thượng.

• Có một cõi bên ngoài của vương quốc Đức Chúa Trời. Những người hướng ngoại có một phần trong điều này. Lối vào đây là sự tuyên xưng của Chúa Giê-su và phép báp têm. Đó là mặt trách nhiệm của con người. (Trong Thiên niên kỷ, khu vực này cũng tồn tại, dưới một dấu hiệu hơi khác.)

Vương quốc của Đức Chúa Trời đóng một vai trò quan trọng trong việc rao giảng của những Cơ đốc nhân đầu tiên. Chúng ta thấy vương quốc được đề cập tổng cộng bảy lần trong Công vụ các sứ đồ, nếu chúng ta bỏ qua câu hỏi của các môn đồ về vương quốc dành cho Y-sơ-ra-ên. Công vụ 1: 3 là câu đầu tiên và Công vụ 28:31 là cuối cùng. Chúng ta cũng nên nói nhiều về vương quốc của Đức Chúa Trời.

Coi Kìa Đa-ni-ên Đang Cầu Nguyện!-

Đa-ni-ên 9: 2-19

Lời cầu nguyện của Đa-ni-ên trong chương 9 chép trong cuốn sách của ông chứa đầy sự giáo huấn cho chúng ta. Cũng có thể học được nhiều điều từ điều này mà Đa-ni-ên đã không nói trong lời cầu nguyện và không làm trong tình huống này:

Khi Đa-ni-ên phát hiện ra trong cuộn sách Giê-rê-mi rằng thời gian Israel bị giam cầm ở Babylon sẽ kéo dài 70 năm, trước tiên ông không chia sẻ ánh sáng mà mình nhận được, mà chuyển nó thành một lời cầu nguyện - đây là điều ông đã từng làm trong sách Đa ni ên  chương 2:19.

Ông  cũng không nhảy cẫng lên vì vui mừng, nhưng tự hạ mình trong cát bụi trước mặt Đức Chúa Trời của mình, vì ông biết về tình trạng khốn khổ của dân tộc mình.

Tuy nhiên, ông không quỳ xuống trong bộ quần áo của một nhân vật cao cấp, mà mặc bao bố và rắc tro lên người. Ông đến với Đức Chúa Trời như một người cầu xin, người không thể khẳng định bất kỳ tuyên bố nào. Bề ngoài của chúng ta cũng vậy, cần đúng chỗ.

Đa-ni-ên không xin lỗi. Ông ấy không nói bóng gió về bất cứ điều gì. Ông không nói: Chúng tôi đã làm sai, nhưng các tổ phụ là những người đi tiên phong; thời kỳ khó khăn; kẻ thù rất tàn bạo, v.v.

Đa-ni-ên  không khẩn khoản bất cứ điều gì cho bản thân hay cho bạn bè của mình. Ông quan tâm đến sự vinh hiển của Đức Chúa Trời, nơi cư ngụ của Ngài tại Giê-ru-sa-lem và dân tộc Y-sơ-ra-ên của Ngài. Nhưng trước khi yêu cầu, anh ta thú nhận tội lỗi của dân chúng .

Đa-ni-ên không hài lòng với sự hồi hương suông của người Do Thái và việc xây dựng đền thánh ở Giê-ru-sa-lem. Không chỉ là việc bên ngoài cho ông mà thôi. Không, trái tim ông mong muốn có được sự tha thứ và sự chữa lành cho thánh dân có tội. Hãy để khuôn mặt Chúa tỏa sáng trên đền thánh.

Mặc dù cá nhân Đa-ni-ên sống một cuộc đời hoàn hảo và không đáng trách trước sự phán xét của Đức Chúa Trời đối với dân của mình, nhưng ông không chống lại dân của Đức Chúa Trời. Ông không làm điều đó như tiên tri Ê-li, người đã nói: “Chỉ còn lại một mình tôi và họ tìm cách lấy mạng tôi” (1 Các Vua 19). Ê-li đối lập giữa “tôi” và “dân tộc ấy” và đứng lên chống lại Y-sơ-ra-ên (Rô-ma 11: 2). Nhưng Đa-ni-ên nói "chúng tôi" (tổng cộng mười lần) và khiêm nhường làm cho mình hiệp một, đồng nhất với dân thánh trước mặt Đức Chúa Trời.

Nhưng Dân Biết Đức Chúa Trời-

Đa-ni-ên 11:32 "Nhưng dân biết Đức Chúa Trời của họ sẽ chứng tỏ họ mạnh mẽ ... "

Câu này của nhà tiên tri Đa-ni-ên ám chỉ những người thuộc dân Do Thái trung thành với Đức Chúa Trời vào thời vua Sy-ri Antiochus Epiphanes trị vì và không cho phép mình rời khỏi giao ước của Đức Chúa Trời bằng bạo lực hoặc xu nịnh. (khoảng năm 168 trước Công nguyên).

Tôi quan tâm đến câu này đối với bối cảnh của những phát triển hiện tại ở trái đất chúng ta và hơn thế nữa. Mọi người nói chung còn biết Chúa không? Thay vào đó, có vô số vị thần được thiết lập để người ta chạy theo? Quyền lực, sự giàu có, trí thông minh.

Thật không may, chúng ta phải nhận ra rằng một nước phương Tây trước đây là Cơ đốc giáo đã quên đi Chúa của nó. Trong vùng đất của cuộc Cải cách, như nước Đức chẳng hạn, Đức Chúa Trời đã bị loại bỏ một cách có hệ thống khỏi cuộc sống và suy nghĩ của con người. Làm thế nào có thể được diều gì khác hơn là sự bối rối tăng lên?

Ngay cả khi đó, có rất ít người trong dân Y-sơ-ra-ên tin cậy Đức Chúa Trời và Đức Chúa Trời vẫn gọi họ là “dân ta”. Đó chỉ là dân sót nhưng hạ là đại diện cho dân chúng, vì thế mà Đức Chúa Trời công nhận họ. Họ có mối quan hệ cá nhân với Đức Chúa Trời, họ tin cậy vào Ngài và do đó trong thời kỳ đen tối, có một cách khả thi. Họ đã hành động trong sự tin cậy nơi Chúa và tỏ ra mạnh mẽ. Không phải trong sức riêng của một người, nhưng trong sức mạnh của Đức Chúa Trời. Bơi lội ngược dòng nên cần sức mạnh, nhưng trên hết nó đòi hỏi sự tin tưởng vào một Đức Chúa Trời đại.


Chúng ta cũng có nguy cơ bị cuốn theo dòng suy nghĩ chung: “Chúng ta có thể làm được” và “chúng ta sẽ đánh bại”. Chúng ta hãy tin tưởng đặt mình trong tay Chúa, chúng ta hãy sống trong mối quan hệ sống động với Ngài. Chúng ta hãy giữ lấy lời của Chúa và những lời hứa được thực hiện trong đó. Trong khó khăn, chúng tôi muốn thể hiện mình là những người biết Chúa của mình và hành động cho tốt.


Và chúng ta là những người được biết đến nhờ NGÀI. Chúa nhìn thấy bạn trong hoàn cảnh hiện tại của bạn. Ngài nghe thấy lời cầu nguyện của bạn, Ngài ở gần bạn, Ngài hướng dẫn bạn và đưa bạn đến mục tiêu của mình. Chúng ta cảm thấy rõ ràng rằng mình đang sống trong những ngày mà bóng tối ngày càng tăng, nhưng Sao Mai không còn xa nữa. Nó đã có thể trỗi dậy trong trái tim của chúng ta. Sự trông đợi về sự tái lâm của Ngài cho chúng ta can đảm để tiến về phía trước với sự tin cậy nơi Chúa và Đấng Cứu Rỗi của chúng ta

Hai Câu Chuyện Ngụ Ngôn Bị Hiểu Lầm-

Ma-thi-ơ 13: 44-46

“Nước thiên đàng giống như một kho báu được giấu trong cánh đồng, mà một người đã tìm thấy và cất giấu; và vì niềm vui về nó, anh ta đi bán tất cả những gì anh ta có và mua ruộng đó. Một lần nữa vương quốc thiên đàng giống như một thương nhân tìm kiếm những viên ngọc trai đẹp; nhưng khi tìm thấy một viên ngọc có giá trị lớn, ông đã đi bán tất cả những gì mình có mà mua”
Điều thú vị là hai dụ ngôn thường được giải thích như thể mỗi người đàn ông và người lái buôn là hình ảnh của một tội nhân và kho báu và viên ngọc trai là hình ảnh của Chúa Giê-xu Christ. Tội nhân tìm kiếm - và tìm thấy Đấng Christ.

Nhưng đó có phải là ý tưởng? Đó có phải là một cách giải thích hợp lý? Vậy thì việc con người mua cánh đồng (là hình ảnh của thế giới) (Math 13:38) có nghĩa là gì? Làm thế nào một tội nhân mua được thế giới? Và xa hơn nữa: Tội nhân phải bán cái gì để cuối cùng có được Đấng Christ? Đó sẽ là một bước tiến tới công bằng trong công việc.

Đối với dụ ngôn viên ngọc trai: có thể nói về một tội nhân mà anh ta tìm kiếm những viên ngọc trai đẹp không? Anh ta không phải là một người lăn lộn như một con lợn trong vũng phân? Và ở đây, câu hỏi được đặt ra là tội nhân nên bán cái gì?

Tuy nhiên, khi chúng ta nhìn thấy hình ảnh Con Người giữa loài người và giữa người lái buôn (cũng được thể hiện trong Người gieo giống, Math. 13:37), mọi thứ trở nên rõ ràng và đơn giản. Bằng cách từ bỏ quyền của Đấng Mê-si và chết trên thập tự giá, Chúa Giê-su đã có được quyền trên toàn thế giới. Đức Chúa Trời đã nộp mọi sự dưới chân Người (Heb. 2). Và trên thế giới này có một kho báu: những tín đồ, những tín nhân mà Chúa Giê-su đã mua và cũng đã cứu chuộc lại. Ngoài ra, Chúa Jêsus đã ban mọi thứ, kể cả mạng sống của mình, để có được một viên ngọc trai, đó là hội chúng (cộng đồng).

Trong vương quốc thiên đàng, trong Cơ Đốc giáo, có hai điều quý giá được tìm thấy: các tín đồ và hội thánh. Đấng Christ đã xả thân vì các tín đồ và hội thánh trên thập tự giá (Ê-phê-sô 5: 2, 25).

Thứ Năm, 9 tháng 12, 2021

Bóng Tối To Lớn Và Khủng Khiếp-

Sáng thế ký 15:12, "Khi mặt trời vừa lặn, Áp-ram ngủ thiếp đi. Bóng tối dày đặc khủng khiếp phủ xuống bao bọc ông
Áp-ra-ham là tổ phụ của tất cả những ai tin vào Đức Chúa Trời là Đấng đem sự sống từ cõi chết ra ánh sáng và ban lời hứa cho những người đồng thừa kế của Chúa Giê-xu Christ. Nhưng Lời Đức Chúa Trời cho thấy niềm tin này đáng được thử nghiệm! Đức tin sống là một món quà quý giá của Đức Chúa Trời ban cho những người không tin cậy vào xác thịt. Thánh Linh của Đức Chúa Trời dạy người được tuyển chọn hoàn toàn không nhìn vào khả năng và ý chí của họ. Hoàn cảnh được quản lý đến mức những tín đồ này thực sự không còn gì để tin tưởng ngoài lời hứa một khi đã được Chúa trao cho họ.
Lời Đức Chúa Trời cho biết cách các tín đồ đi vào bóng tối và tìm hiểu về những điều khủng khiếp dường như là một phần trong lời hứa mà Đức Chúa Trời đã ban cho họ. Tất cả dường như đang mâu thuẫn với chính nó và chống lại tư duy của Cơ đốc nhân mà người ta đã học được!
Nhưng nếu chúng ta nghiên cứu Lời Đức Chúa Trời kỹ hơn, chúng ta nhanh chóng nhận ra rằng đây là một quy luật, và chúng ta nhận ra con đường này nơi mọi con người của Đức Chúa Trời:
Việc bỏ tù của Giô-sép đã được lên kế hoạch giữa lời hứa và việc thực hiện lời hứa.
Đối với Môi-se, 40 năm kinh nghiệm trên sa mạc đã biệt riêng ông cho sứ mệnh thực tế của mình.
Với Phi-e-rơ, chính sự hiểu biết sâu sắc về bản thân thông qua việc ông chối Chúa, đã biệt riêng ông cho sự kêu gọi ông có tư cách là người chăn bầy mà Chúa Giê-su Christ đã giao phó cho ông.
Và khi chúng ta nhìn thấy người chăn cừu và là người làm hoàn thiện đức tin của chúng ta, Chúa Giê Su Christ - Ngài đã phải bước qua thung lũng bóng tối của sự chết như thế nào trước khi có thể bước vào niềm vui trước mặt Ngài!
Vì vậy, Áp-ra-ham cần biết phải trả giá gì để Chúa cho một dân tộc vĩ đại sống sót. Ông nhìn thấy sự đau khổ của con cái mình trong lò lửa và khói. Tuy nhiên, ở đó, ánh sáng cùng hiện diện của người con trai đã hứa, người đã phải chịu đựng trong ánh sáng rực rỡ của ngọn lửa và cảm thấy đau đớn trong cơ thể mình! Ngài là của lễ mà Áp-ra-ham phải bảo vệ khỏi lũ chim ô uế và đáng ghét của Ba-by-lôn (Khải 18: 2).
Chúng ta đọc trong Sáng thế ký 15:17: “Khi mặt trời đã lặn hẳn và bóng tối phủ xuống, bỗng có một lò lửa bốc khói và một ngọn lửa cháy phừng đi qua giữa các sinh tế bị phân đôi.” Có bao nhiêu tín đồ trải nghiệm mô tả này trong tâm hồn của họ, trái ngược hoàn toàn với kinh nghiệm họ đã có khi được hoán cải, mới tin Chúa, khi họ bắt đầu tin cậy vào Chúa! Ngay sau khi gặp Vua của Salem, người đã ban phước cho Áp-ra-ham, bạn cũng có thể gặp một vị vua khác, hoàng tử bóng tối, người đã biếu tặng cho bạn tất cả những gì thuộc về thế giới này! Và khi bạn có thể giành được chiến thắng trong niềm tin vào sức mạnh của tâm linh mình và được phép nghe lại rằng Chúa là lá chắn và phần thưởng của riêng bạn, thì đột nhiên có sự kinh hoàng và bóng tối lớn, một sự chán nản tràn ngập bạn. Hãy cảnh báo.
Tuy nhiên, bất chấp cuộc đấu tranh của Rô-ma 7 và kinh nghiệm mà những con chim săn mồi (Sáng thế ký 15:11) sau khi dâng của lễ và rút lui khỏi suy nghĩ của bạn khỏi vua Sô đôm, lời hứa và sự chiến thắng của Đức Chúa Trời vẫn còn! Tác giả của một bản tóm tắt nổi tiếng đã từng nói về trải nghiệm này: "Áp-ra-ham, người thừa kế của lời hứa, trải qua sự kinh hoàng và tăm tối của những gì được trình bày với chúng ta ở đây trong các thành ngữ "một lò lửa bốc khói và một ngọn lửa cháy phừng".
Chỉ bằng cách này, trên con đường thử thách, Đức Chúa Trời mới cho phép công việc của Áp-ra-ham thành hiện thực. Khi chúng ta vượt qua nó, chúng ta sẽ bước vào vinh quang của Đức Chúa Trời bởi đức tin!
1 lượt chia sẻ
Thích
Bình luận
Chia sẻ

Được Giải Cứu - Để Làm Gì?

Công vụ 5:19; 12:4

Chúng ta đã đọc hai lần trong sách Công vụ rằng Phi-e-rơ vào tù (Công vụ 5:19; 12: 4). Cả hai lần ông đều được thiên thần giải cứu ra khỏi tù một cách thần kỳ. Lần thứ hai, người ta thậm chí có thể cho rằng ông ta sẽ bị hành quyết vào ngày hôm sau. Khi giải cứu Phi-e-rơ, Đức Chúa Trời không chỉ thể hiện rõ sự toàn năng và chăm sóc của Ngài đối với Phi-e-rơ, mà còn nói rõ với Phi-e-rơ rằng thời giờ của ông rời khỏi trái đất chưa đến. Không, Đức Chúa Trời muốn tiếp tục sử dụng Phi-e-rơ. Nếu Đức Chúa Trời làm cho điều đó thật rõ ràng, thì Phi-e-rơ có thể lãng phí một giây thời gian còn lại của mình khi mà ông đã không dâng cho Chúa điều gì đó không?
Đức Chúa Trời gửi thiên thần của mình đến, giải thoát tôi tớ của mình khỏi ngục tù và do đó cứu ông khỏi cái chết nhất định. Phi-e-rơ có nên bận rộn làm điều gì đó không liên quan và không hoàn toàn sốt sắng làm những công việc mà Đức Chúa Trời đã để ông còn ở lại trên đất nầy để làm không?
Và chúng ta? Chẳng phải chúng ta cũng đã được giải thoát một cách kỳ diệu khỏi ách nô lệ của tội lỗi và được cứu khỏi cái chết vĩnh viễn chắc chắn sao? Chúng ta có nên lãng phí thời gian của mình với những điều tầm thường và vụn vặt và không cống hiến hết mình cho những công việc mà Đức Chúa Trời vẫn để chúng ta ở đây để làm trên trái đất không?

Thứ Tư, 8 tháng 12, 2021

Lót Và Mặt Tích Cực-

2. Phi-e-rơ 2:8; Sáng thế ký 19, "Vì người công chính ấy, sống ở giữa họ ngày này qua ngày kia, hồn công chính của ông bị đau xót vì những hành động trái phép mà ông nghe và thấy".

Ngày nay chúng ta yêu thích những màu sắc tươi sáng. Mọi bản cáo bạch đều làm chứng cho điều này. Nhưng ngay cả ngày nay, khi nói đến con người, chúng ta thường chỉ có hai màu trắng đen trong suy nghĩ của mình. Theo cách nghĩ này, Áp-ra-ham là người trắng bạch và Lót sẽ là người đen đúa. Nhưng không đơn giản như vậy đâu. Áp-ra-ham cũng mắc nhiều sai lầm (mà Kinh thánh không giấu giếm chúng ta) và với Lót, chúng ta có thấy được những điều tích cực (mặc dù thường chỉ mơ hồ). --Hãy xem xét một số điểm: Lót đã không bị căng thẳng, hay kiệt lực. Tội ác của Sô-đôm ngày nào cũng hành hạ ông -2 Phi 2: 8-. Lót tôn trọng hôn nhân. Bởi vì chính ông đã kết hôn và một số con gái của ông cũng vậy. Đồng tính luyến ái và “hôn nhân hoang dã”, vốn được coi là đương nhiên ở Sô -đôm, không phải là lựa chọn cho anh ta. Vì con cái ông có hôn nhân đàng hoàng. Lót cũng không tin vào việc giao hợp trước hôn nhân, vì cả hai con gái út của ông, những người đang sống ở nhà, đều còn trinh -Sáng 19: 8-. Lót rất hiếu khách. Anh ta tiếp đón hai người đàn ông (thiên thần) đã đến thăm anh ta. Lót tin lời Đức Chúa Trời do hai thiên thần truyền đến. Lot đứng lên cho những người khác. Anh ấy đã làm mọi thứ để bảo vệ hai người khách đàn ông (thiên thần) khỏi những người Sô-đôm đang cuồng nhiệt hoành hành. Lót công bố thông điệp về sự phán xét sắp xảy ra. Người ta phải công nhận rằng Lót cố gắng vì sự trong sạch về đạo đức và cũng để mắt đến những người khác, con rễ của minh. Anh ta nổi bật rõ ràng so với những người khác ở Sô-đôm. Nhưng Lót không có ảnh hưởng đến những người khác. Sự cô lập và lời chứng của anh ta chỉ đơn sơ là quá yếu đối với điều đó. Lót không phải là "muối của đất". Có người đã nói rất đúng: Vợ của Lót đã chết vì thiếu điều mà Lót lẽ ra Lót phải có trong đời sống của ông: muối.

Hôn nhân đồng tính?

Mặc dù Kinh Thánh nói về vấn đề tình dục đồng tính, nhưng lại không nói đích danh về hôn nhân đồng tính. Nhưng rõ ràng là Kinh Thánh lên án tình dục đồng tính là phi đạo đức và phi tự nhiên. Trong Lê-vi Ký 18:22 xác nhận quan hệ tình dục đồng tính là tội lỗi đáng gớm ghiếc. Rô-ma 1:26-27 tuyên bố ham muốn và hành vi quan hệ tình dục đồng tính là điều đáng xấu hổ, phi tự nhiên, mang tính xác thịt, và thiếu đứng đắn. 1 Cô-rinh-tô 6:9 viết rằng người đồng tính là không công chính và sẽ không được thừa hưởng nước thiên đàng. Vì Kinh Thánh lên án ham muốn cũng như là hành vi quan hệ tình dục đồng tính nên việc "kết hôn" đồng tính không phải là ý muốn của Chúa, và đúng hơn, nó là tội lỗi.
Bất kỳ khi nào Kinh Thánh đề cập tới hôn nhân, thì nó đều giữa một người nam và người nữ, Sáng Thế Ký 2:24, mô tả là người nam sẽ rời bỏ cha mẹ mình và trở nên hiệp một với vợ. Trong những phân đoạn hướng dẫn về hôn nhân, như là 1 Cô-rinh-tô 7:2-16 và Ê-phê-sô 5:23-33, Kinh Thánh rõ ràng xác nhận hôn nhân là giữa một người nam và một người nữ. Nói theo Kinh Thánh, hôn nhân chính là sự kết hiệp trọn đời của một người nam và một người nữ, vì mục đích chính là xây dựng một gia đình và cung cấp một môi trường ổn định cho gia đình đó.
Không phải chỉ có Kinh Thánh mới thể hiện quan điểm như vậy về hôn nhân. Quan điểm của Kinh Thánh cũng là hiểu biết toàn cầu về hôn nhân trong bất kỳ nền văn mình của lịch sử thế giới. Lịch sử chống lại hôn nhân đồng tính. Ngành tâm lý học thế tục hiện đại cũng nhận ra rằng đàn ông và phụ nữ về tâm lý và cảm xúc là bổ sung cho nhau. Về mặt gia đình, các nhà tâm lý học quả quyết rằng sự kết hợp giữa người nam và nữ, trong đó cả vợ và chồng là một hình mẫu về giới tính tạo ra môi trường tốt nhất để nuôi dạy một đứa trẻ ổn định. Tâm lý học cũng chống lại hôn nhân đồng tính. Về mặt tự nhiên, rõ ràng, là đàn ông và phụ nữ sinh ra để "dành cho nhau" về mặt tình dục. Nếu mục đích tự nhiên của việc quan hệ tình dục là sinh sản, thì mối quan hệ giữa một người nam và người nữ sẽ thực hiện được mục đích này. Tự nhiên chống lại hôn nhân đồng tính.
Nếu như Kinh Thánh, lịch sử, tâm lý học và tự nhiên đều ủng hộ hôn nhân giữa người nam và người nữ — tại sao vấn đề này lại gây tranh cãi? Tại sao những người không ủng hộ hôn nhân đồng tính lại bị cho là thù ghét, cuống tín cố chấp, cho dù họ cố trình bày sự bất đồng của mình một cách tôn trọng nhất? Tại sao phong trào đồng tính lại thúc đẩy hôn nhân đồng tính một cách hung hăng như vậy trong khi hầu hết mọi người, có tôn giáo hay không tôn giáo đều ủng hộ, hoặc tối thiểu là không chống lại việc một cặp đồng tính cũng có quyền kết hợp dân sự như là những cặp vợ chồng dị tính khác.
Câu trả lời là, theo như Kinh Thánh, mỗi người vốn biết rằng quan hệ tình dục đồng tính là phi tự nhiên và đạo đức, và cách duy nhất để áp chế sự hiểu biết vốn có này là bình thường hóa vấn đề quan hệ tình dục đồng tính và tấn công bất kỳ sự phản ứng nào. Cách tốt nhất để bình thướng hóa vấn đề đó là đặt hôn nhân đồng tính ngang hàng với hôn nhân truyền thông của hai người có giới tính khác nhau. Rô-ma 1:18-32 có nói về điều này. Chúng ta biết lẽ thật vì Chúa đã nói rõ ràng. Lẽ thật bị từ chối và thay thế bằng giả dối. Giả dối được đề cao, lẽ thật bị áp chế và tấn công. Sự công kích và tức giận từ phía phong trào quyền cho người đồng tính dành cho bất kỳ ai phản đối họ chứng tỏ quan điểm của họ không có khả năng biện hộ. Bảo vệ một quan điểm yếu đuối bằng cách lên giọng là một mánh lới lâu đời trong tranh luận. Có lẽ Rô-ma 1:31 là bản mô tả chính xác nhất về động cơ của phong trào quyền người đồng tính, "dại dột, bội tín, không có tình người, không có lòng thương xót."
Ủng hộ hôn nhân đồng tính là chấp thuận với lối sống của mối quan hệ đồng tính, một điều mà Kinh Thánh dứt khoát lên án là tội lỗi.
Cơ Đốc nhân nên đứng vững chống lại quan điểm hôn nhân đồng tính. Hơn nữa, chúng ta có những lập luận hợp lý và vững vàng chống lại hôn nhân đồng tính mà không cần viện tới Kinh Thánh. Một người không cần phải là Cơ Đốc nhân để nhận thấy hôn nhân đồng tính là giữa một người và người nữ.
Theo Kinh Thánh, hôn nhân là do Chúa thiết lập giữa người nam và người nữ (Sáng Thế Ký 2:21-24; Ma-thi-ơ 19:4-6). Hôn nhân đồng tính là một hình thức bóp méo hôn nhân và là sự sỉ nhục với Chúa, Đấng tạo nên hôn nhân. Là Cơ Đốc nhân, chúng ta không chấp nhận nhưng cũng không phớt lờ tội lỗi. Thay vào đó, chúng ta nên chia sẻ tình yêu của Chúa và sự tha thứ tội lỗi của Ngài là điều luôn sẵn sàng dành cho mọi người, bao gồm người đồng tính, thông qua Chúa Giê-xu Christ. Chúng ta nói lẽ thật trong tình yêu thương (Ê-phê-sô 4:15) và bảo vệ lẽ thật một cách "ôn tồn và trân trọng" (1 Phi-e-rơ 3:15). Là Cơ Đốc nhân, khi chúng ta đứng lên bảo vệ lẽ thật thì hệ quả có thể là bị tấn công cá nhân, sỉ nhục, và bắt bớ, chúng ta nên nhớ lời của Chúa Giê-xu: "Nếu thế gian ghét các con thì hãy biết rằng thế gian đã ghét Ta trước các con. 19Nếu các con thuộc về thế gian thì thế gian hẳn yêu thương những người thuộc về mình. Nhưng vì các con không thuộc về thế gian, và Ta đã lựa chọn các con từ giữa thế gian, nên thế gian ghét các con." (Giăng 15:18-19).
5 người đã xem
Thích
Bình luận
Chia sẻ

Chúa Đã Cho Chúng Ta Thời Gian-

Sáng thế ký 19: 20; Lu-ca 19: 5-6

Có một câu nói mà những người đương thời vô cùng yêu thích, đó là: “Đức Chúa Trời cho ta thời gian, chẳng nói gì đến sự vội vàng”.
Câu nói này chứa đựng một sự thật và một lời nói dối. Luôn luôn nguy hiểm khi sự thật và dối trá được đặt quá gần nhau. Sự thật là Chúa đã cho thời gian. Lời nói dối là: Chúa không nói gì về sự vội vàng.
Chúa đã nói về sự vội vàng. Có những lúc bạn nên vội vàng:
Một ví dụ từ Cựu ước: Đức Chúa Trời bảo Lót hãy nhanh chóng trốn thoát đến Xoa trước khi Ngài cho phép sự phán xét tấn công Sô-đôm và Gô-mô-rơ và các thành phố xung quanh. “Nhanh lên, đến đó; vì Ta không thể làm được gì cho đến khi ngươi đến đó ”(Sáng 19:20).
Một ví dụ trong Tân Ước: Chúa Giê-su phán với ông Xa-chê hãy nhanh chóng tiếp nhận Ngài: “Khi đến nơi, Đức Chúa Jêsus nhìn lên, thấy ông và nói với ông: Xa-chê, mau xuống đi, vì hôm nay. Ta sẽ ở trong nhà ngươi”(Luca 19: 5-6).
Vì vậy: chúng ta hãy mau mau thoát khỏi sự phán xét và mau mắn đón nhận Đấng Cứu Thế!

Há Là Việc Nhỏ Sao?

Sáng thế ký 19: 18-22

Đức Chúa Trời đã quyết định hỏa táng Sô-đôm và các thành phố xung quanh vì tội lỗi của họ. Lót công chính sẽ không bị chết trong sự phán xét này. Vì vậy Chúa đã sai hai thiên thần đến kéo anh và những người thân yêu của anh ra khỏi thành phố này.
Khi Lót đã ra ngoài thành Sô-đôm, các thiên sứ hướng dẫn ông lên núi để tự cứu mình. Nhưng Lót đã phản ứng như thế nào? “Lót nói với họ: Không, thưa ngài! Ngài thấy đó, đầy tớ của ngài đã đã được ân trong mắt Ngài, và ngài đã thực hiện lòng tốt của ngài, điều mà ngài đã chỉ dẫn cho tôi để giữ cho linh hồn tôi được sống; nhưng tôi không thể tự cứu mình trên núi, bất hạnh có thể ập đến khiến tôi chết. Hãy nhìn xem, thành phố này ở gần, tôi có thể chạy trốn ở đó, và nó nhỏ; hãy để tôi tự cứu mình ở đó (thành Xoa có nhỏ không?), để linh hồn tôi có thể sống sót ... Đó là lý do tại sao thành phố nầy được đặt cho cái tên Xoa [sự nhỏ bé].
Ngay cả khi Chúa dung tha cho Xoa và Lót, điều đó không chứng tỏ rằng có điều gì đó đẹp lòng Chúa. Chắc chắn không phải như vậy. Lót không nên chạy trốn khỏi một "thành phố của tội nhân" to lớn để đến "thành phố của tội nhân" nhỏ bé. Anh ta nên tách mình ra khỏi toàn bộ môi trường đồng tính xấu xa và đi đến những ngọn núi. Vì theo Sáng 14:1-2, Xoa nằm trong danh sách 5 thành phố đồng loại-- đồng tính
Chúng ta cũng phải được tách biệt khỏi các tội lỗi. Đôi khi chúng ta thấy rằng chúng ta nên tránh những tội lỗi lớn lao. Nhưng há có phải lúc đó chúng ta lại nghĩ rằng chúng ta có thể cho phép mình “phạm tội nhỏ”? Bạn có phạm tội lỗi nhỏ nhen trong đời mình không? Bạn không muốn phá vỡ hoàn toàn đối với tội lỗi sao?

Giống Như Sô-đôm Và Gô-mô-rơ-

Sáng thế ký 19

Trong nền văn hóa của chúng ta, cụm từ “Giống Như Sô-đôm và Gô-mô-rơ” đã và vẫn được sử dụng không thường xuyên để thể hiện sự sa đọa về mặt đạo đức của một sự vật. Thường thì biểu thức này không còn được biết đến hoặc chỉ được sử dụng một cách mỉa mai. Ví dụ, một người nào đó cảm thấy phiền vì hành động sai trái và một người khác xoa dịu họ bằng cách nói một cách phóng đại: “Nó giống như Sô-đôm và Gô-mô-rơ” - để đưa sự việc vào góc nhìn bằng cách phóng đại.
Nhưng Sô-đôm Và Gô-mô-rơ đang nói về điều gì và những thành phố này có liên quan gì đến Cơ đốc giáo ngày nay?
Hai thành phố này nói về tội lỗi vô luân sâu sắc mà con người có thể đi qua xác thịt của họ dưới tác động của ma quỷ. Điều này càng có liên quan, vì nó không liên quan đến các cá nhân mà là toàn bộ thành phố.
Tội lỗi của những thành phố này là gian dâm và độc ác (xin xem Giu-đe 7). Trong Sáng thế ký19: 4 -9, chúng ta cũng thấy tại hai thành phố đó có nạn hiếp dâm, đồng tính luyến ái và bạo lực. Kinh thánh cũng kể về lòng kiêu hãnh và sự dư dật của nó, nhưng thiếu quan tâm đến người nghèo (xin xem Ê-xê-chi-ên 16: 49).
Tội lỗi của những thành phố này lớn đến nỗi Đức Chúa Trời phải phá hủy chúng. Và như vậy sẽ đến lúc cuối cùng: Tội lỗi của thế giới này đã xấu xa vô cùng trước mắt Đức Chúa Trời, nhưng nó sẽ gia tăng cho đến khi Chúa Giê-su ra mặt phán xét (Lu-ca 17:29, 30).
Những gì được thể hiện trong Sô-đôm và Gô-mô-rơ, một mặt là do sự tự do hóa mạnh mẽ trong lĩnh vực tình dục (ví dụ như lồng ghép giới tính được đề cập ở đây), nhưng mặt khác là do một phong trào phản đối dưới hình thức cực đoan hóa. và bạo lực liên quan (ví dụ như sự tiến bộ của Hồi giáo). Và điều đó thậm chí có thể khiến chúng ta sợ hãi. Nhưng từ Lời Đức Chúa Trời, chúng ta có thể biết rằng điều này cuối cùng sẽ chỉ ra một điều gì đó lớn lao.-- Chúa đến.
Vì tội lỗi khủng khiếp của hai thành phố này đã và đang trở nên đen tối trên thế giới trong lúc này - Sô-đôm và Gô-mô-rơ có ý nghĩa đối với chúng ta rằng Chúa của chúng ta sẽ không tránh xa. Chúng ta có thể thấy từ "dấu hiệu của thời đại" nầy rằng sẽ không bao lâu nữa Chúa sẽ trở lại. Cho dù chúng ta có còn sống để xem Chúa hay không - Chúa sẽ đến sớm.

Đồng Tính Luyến Ai-

ê-vi Ký 18: 22; Lê-vi Ký 20: 13; Sáng thế ký 19; Thẩm phán 19: 22-24; Rô-ma 1: 26-27; 1 Cô-rinh-tô 6: 9-11; 1 Ti-mô-thê 1:9.10

Kinh Thánh nói gì về đồng tính luyến ái? Hãy xem xét một số điểm xuất hiện lặp đi lặp lại trong bối cảnh này. Đó chỉ là về những lập luận (yêu cầu) dựa trên Kinh thánh, không phải về những cân nhắc khác.
--Bảy Lập luận được sử dụng để biện minh cho đồng tính luyến ái
-1- Đức Chúa Trời là tình yêu và do đó tình yêu là Đức Chúa Trời. Cũng là tình yêu giữa nam và nam, nữ và nữ.
Trả lời: tình yêu cần có quy luật. Điều này cũng áp dụng cho tình yêu tình dục. Và tất cả những ai suy nghĩ hợp lý đều tuân thủ các quy tắc nhất định ở đây (ví dụ: bằng cách từ chối hành vi ấu dâm). Theo định nghĩa của Kinh thánh, tình yêu tình dục có vị trí trong hôn nhân giữa một người nam và một người nữ. Nếu thực sự có một tình yêu do Đức Chúa Trời rèn luyện, thì tình yêu đó sẽ được kết nối với sự thánh thiện. Bởi vì Đức Chúa Trời là tình yêu và Đức Chúa Trời là ánh sáng - và không có gì mâu thuẫn.
-2-Có những ví dụ trong Kinh Thánh về quan hệ đối tác đồng tính luyến ái, xin xem Đa-vít và Giô-na-than (đặc biệt là 2 Sa-mu-ên 1).
Trả lời: Sự ghi chép trong Kinh thánh không biện minh cho quan điểm này, không có bất kỳ mối quan hệ tình dục nào giữa Đa-vít và Giô-na-than. Đa-vít đã kết hôn (vài lần) và dường như bị thu hút mạnh bởi những người khác giới. Do đó, gợi ý nầy hoàn toàn nằm ngoài không khí loãng.
-3-Trong Đấng Christ không có nam cũng không nữ (Galati 3:28).
Trả lời: Đây không phải là về cuộc sống xã hội của chúng ta trên thế giới này. Vẫn có những khác biệt (ví dụ, về quốc tịch và sự giàu có). Hơn nữa, một người nam tin vào Đấng Christ dường như vẫn là một người nam và một người nữ vẫn là một người nữ. Đây là vị trí của một tín đồ trước mặt Đức Chúa Trời. Về mặt này không có sự khác biệt giữa nam và nữ. Cả hai đều được chấp nhận như nhau và được ban phước như nhau trong Đấng Christ. Tuy nhiên, điều này không làm mất trật tự sáng tạo của Đức Chúa Trời trên trái đất này.
-4-Đấng Christ đã không lên án đồng tính luyến ái.
Trả lời: Chúa Jêsus đã không đặc biệt lên án nhiều tội lỗi, chẳng hạn như ấu dâm, khiêu dâm và sử dụng ma tuý. Lập luận nầy do đó không hiệu quả. Ngoài ra, toàn bộ Kinh thánh là Lời của Đức Chúa Trời và nên được coi là có thẩm quyền (chứ không chỉ bốn sách Phúc âm).
-5-Văn hóa đang thay đổi, và cùng với đó là hành vi tình dục. Cơ đốc nhân không cần bám vào những truyền thống cũ.
Trả lời: Hôn nhân giữa một người nam và một người nữ đã được thiết lập trước khi các nền văn hóa tồn tại trong Vườn Địa đàng. Và ở Hi Lạp cổ đại - vào thời điểm Tân Ước được viết ra - đồng tính luyến ái không phải là hiếm. Và sứ đồ Phao-lô đã nhận xét và chỉ trích về điều đó, mặc dù nó đã được thiết lập về mặt văn hóa.
-6-Không thể áp dụng những tuyên bố tiêu cực của Kinh Thánh về đồng tính luyến ái cho mối quan hệ đồng tính luyến ái ngày nay. Vào thời điểm đó, đó là về mại dâm trong đền thờ, liên tục thay đổi (đôi khi không tự nguyện) đối tác tình dục chứ không phải về quan hệ đối tác lâu dài, tự nguyện trên cơ sở bình đẳng. Điều này được thể hiện qua bối cảnh của các đoạn Kinh thánh liên quan.
Trả lời: Tất nhiên chúng ta không được bỏ qua ngữ cảnh, nhưng chúng ta cũng không nên đặt nó lên trên văn bản. Nếu không, hầu như tất cả các tuyên bố trong Kinh thánh có thể bị lật ngược. Những gì nói về hôn nhân trong Kinh thánh thường xảy ra trong một bối cảnh lịch sử cụ thể - nhưng tuyên bố thực tế vẫn phải giữ nguyên. Chúng ta không thể bỏ qua những tuyên bố tiêu cực của Kinh thánh liên quan đến đồng tính luyến ái. Và những tuyên bố này được xây dựng một cách tổng quát đến mức chúng rất hay được áp dụng cho tất cả các hành vi giao cấu đồng giới. Cũng nên nhớ rằng đã có những mối quan hệ đồng giới có giá trị ngang nhau trong thời cổ đại, Plato đã nói về điều này.
-7-Trong quan hệ đối tác đồng tính có sự trung thành và tình yêu. Trọng lượng này mạnh hơn cái gọi là "cảm giác tự nhiên", thứ có thể phản bác lại nó.
Lập luận không giữ vững. Nếu lòng trung thành giữa hai người luôn cần được tôn trọng thì tại sao lại không trung thành trong một mối tình tay ba? Và lòng trung thành của một kẻ khủng bố đối với tổ chức của mình cũng phải được tôn trọng? Nó phụ thuộc vào mối quan hệ mà lòng trung thành được thể hiện! Đức Chúa Trời chỉ công nhận sự chung thủy suốt đời trong mối quan hệ (tình dục) giữa người nam và người nữ. Kinh thánh dạy rõ ràng điều đó.
--Bảy Lập luận được sử dụng để bác bỏ đồng tính luyến ái
-Và bạn "Đừng ăn nằm với một người đàn ông như cách người ta ăn nằm với đàn bà; đó là một tội đáng ghê tởm"(Lê-vi Ký 18: 22). Lưu ý: Ngay cả khi một Cơ Đốc nhân chết đối với luật pháp (Rô. 6), thì các điều răn luân lý của luật pháp vẫn không mất đi ý nghĩa của chúng ( Eph. 6:1.2).
-"Nếu một người đàn ông nằm với một người đàn ông khác như nằm với đàn bà, cả hai đã làm một điều đáng ghê tởm. Họ phải bị xử tử; máu họ sẽ ở trên đầu họ" (Le. 20:13). Lưu ý: Trong 1 Ti-mô-thê 1: 10, liên quan đến tội lỗi này, có một dẫn chiếu rõ ràng đến luật pháp, những điều răn mà chúng ta không thể đơn giản gạt sang một bên.
-Ở Sô-đôm và Ghi-bê-a, một đám đông đàn ông đến vào ban đêm muốn “biết (ăn nằm)” với những du khách đã đến thành phố, tức là muốn giao cấu (Sáng 19; Thẩm 19). Lưu ý: Hành động của những người đàn ông này ở Sô-đôm và Ghi-bê-a đều bị lên án trực tiếp hoặc gián tiếp (tất nhiên cần lưu ý rằng đây là những hành vi cưỡng bức tình dục đồng giới).
-Đó là lý do tại sao Chúa đã từ bỏ họ trong những đam mê đáng xấu hổ; vì cả hai người vợ của họ đã trao đổi giao hợp tự nhiên với những người không tự nhiên, giống như đàn ông đã từ bỏ giao hợp tự nhiên với phụ nữ và trở nên bùng cháy trong ham muốn của họ đối với nhau, trong đó họ, những người đàn ông với đàn ông, làm ô nhục và đoán phạt xứng đáng cho sự sai trái của họ đã nhận được. (Ro 1: 26.27) Lưu ý: Ở đây, một cuộc giao hợp tự nhiên trái ngược với một cuộc giao hợp không tự nhiên. Câu hỏi liệu quan hệ đối tác có thay đổi nhanh chóng hay được định tính chất bởi trách nhiệm chung nhiều hơn không được thảo luận.
-"Anh chị em không biết rằng người không công chính sẽ không được thừa hưởng Nước Đức Chúa Trời hay sao? Chớ để bị lừa dối! Những kẻ gian dâm, thờ thần tượng, ngoại tình, nữ đồng tính luyến ái, nam đồng tính luyến ái, trộm cắp, tham lam, say sưa, kẻ hay chửi rủa, lường gạt đều sẽ không được hưởng Nước Đức Chúa Trời. Trước kia một vài anh chị em vốn là người như thế. Nhưng nhờ danh Chúa Cứu Thế Giê-su và trong Đức Thánh Linh của Đức Chúa Trời chúng ta, anh chị em đã được rửa sạch, được thánh hóa và được tuyên xưng công chính" (1 Cô 6: 9-11). Lưu ý: Ở đây chúng ta tìm thấy cả phần bị động (ẻo lả, yấu) và phần chủ động (gạ gẫm). Cả hai nhóm đều được tuyên bố là bất chính, những người sẽ không thừa kế vương quốc của Đức Chúa Trời.
-"Chúng ta thừa hiểu Kinh Luật được đặt ra không phải cho người công chính, nhưng cho người phạm pháp, chống nghịch, vô đạo, tội lỗi, uế tục, phạm thượng, cho kẻ giết cha, giết mẹ, giết người, cho kẻ gian dâm, cho người có tình dục đồng giới, cho kẻ buôn người, nói dối, khai man, hoặc làm bất cứ việc gì trái với đạo lý chân chính" (1 Ti-mô-thê 1: 9:10). Một lần nữa, hãy lưu ý đề cập đến "kẻ quấy rối tình dục trẻ em".
-Ban đầu, Đức Chúa Trời đã tạo ra một người nam và một người nữ và biến họ thành một thịt. Điều này được Chúa Giêsu Christ xác nhận một cách rõ ràng (Math. 19: 4-6). Mối quan hệ đồng giới không có chỗ đứng trong “khuôn khổ của sự sáng tạo” này. Hôn nhân giữa người nam và người nữ được coi là điều hiển nhiên ở nhiều nơi trong Kinh thánh (Eph 5; Col 3:. 1Phiero 3, v.v.); Các lựa chọn thay thế cho điều này không được hiển thị. Lời chứng tổng thể của Kinh Thánh là rõ ràng.

TÀU NÔ-Ê-

Chiếc tàu, về kích thước, kiểu dáng và chất liệu của nó, hoàn toàn là chỉ định của Chúa. Nô-ê có nhưng để thực hiện nó - Chúa lên kế hoạch cũng như chỉ định nó. Việc chế tạo ra nó chỉ là thử thách và bằng chứng của đức tin - "Bởi đức tin, Nô-ê được cảnh cáo về những việc chưa thấy và ông thành kính đóng một chiếc tàu để cứu gia đình mình; nhờ đức tin đó, ông kết tội thế giới và trở thành người thừa kế sự công chính bởi đức tin"

Dân Y-sơ-ra-ên xây dựng đền thánh, trong những ngày sau đó, cũng giống như một hành động đức tin. Họ phải tạo ra nó, và làm cho nó như họ đã làm, với tấm lòng thiện nguyện và sự phục vụ sẵn sàng, mang theo đồng thau, bạc vàng của họ, vải lanh mịn, da hải cẩu, gỗ si-tim, dầu, hương liệu và đá quý. Nhưng trong điều này chỉ là sự vâng phục của đức tin đối với con đường giải cứu và hòa bình, mà chính Đức Chúa Trời đã hoạch định và bày tỏ. Họ đã làm ra nơi tôn nghiêm như Nô-ê d0óng tàu; nhưng hành động của ông cũng như hành động của họ không gì khác hơn là đặt đức tin vào sự cung cấp của Đức Chúa Trời.
Và phúc âm, và đức tin nơi phúc âm, cho đến giờ này là gì, ngoài sự mặc khải về các sự dự bị của ân sủng, và sự tuân theo điều mặc khải đó như vậy? Tín ngưỡng của những người được chọn cũng vậy "Đó là nhờ ân điển, bởi đức tin". Lúc đầu, đức tin đặt vào các sự cung cấp tối cao của Đức Chúa Trời là tín ngưỡng của A-đam, sau đó là của Nô-ê, sau đó là niềm tin của Áp-ra-ham và của mọi người Y-sơ-ra-ên chân chính; và vì vậy ngày nay nó là niềm tin của chúng ta.
Tất cả chúng ta, cũng như A-đam, thoát ra khỏi sự xấu hổ, sợ hãi và hoang mang của lương tâm, trước những tin mừng về Hậu Tự người phụ nữ bị con rắn cắn gót chân, nhưng Ngài đạp đầu hắn.
Tất cả chúng ta, cũng như Nô-ê, chuẩn bị một con tàu để được cứu rỗi, và trở thành người thừa kế sự công bình bởi đức tin. Tất cả chúng ta cũng như dân Y-sơ-ra-ên, đưa mình từ ngọn đồi rực lửa đến nơi tôn nghiêm của lòng thương xót ngự trị - và Chúa Giê-xu, là Danh người được sinh ra dọc theo đường hướng, từ đầu này đến đầu kia, của các tộc trưởng, các nhà tiên tri, các sứ đồ, và các vị thánh dồ, dân ngoại và Do Thái, nhỏ và lớn, trong giai điệu sâu lắng đó là để ca ngợi sự vĩnh hằng của thiên đàng.