Thứ Sáu, 8 tháng 10, 2021

Ba Nhóm Người-


Khải Huyền 22:17, "Thánh Linh và cô dâu (vợ mới) cùng nói: “Hãy đến!” Kẻ nghe hãy nói: “Hãy đến!” Ai khát cũng hãy đến. Kẻ nào muốn, hãy nhận lấy nước sự sống ban cho không.
Hiện nay chúng ta tah61y có ba nhóm người trong câu này.
Nhóm thứ nhất: Đây là những người thuộc về Cô Dâu của Đấng Christ và biết về điều đó và bên trong họ Linh của Đức Chúa Trời đang hoạt động. Họ đồng lòng kêu gọi cách tập thể: "Ô Chúa Giêsu, xin hãy đến!"
Nhóm thứ hai: Đây là những người thuộc về Cô Dâu của Đấng Christ nhưng không nhận ra điều đó. Bạn được yêu cầu (cách cá nhân riêng lẻ) hét lên: " Ô Chúa Giêsu, xin hãy đến!"
Nhóm thứ ba: Là những người không thuộc về Cô Dâu vì chưa tin Chúa Giê-su. Họ được kêu gọi: "Hãy đến với Chúa Jêsus."
Bạn thuộc nhóm người nào?

Giáo Hội Của Đức Chúa Trời-

Ê-phê-sô 5: 25-27; Khải Huyền 21: 9
--Cô dâu
Ý chính: tình yêu và sự thuận phục
--Những đặc điểm chính:
Đó là mối quan hệ của tình yêu của Đấng Christ (Eph. 5:25).
Cô dâu phải phục tùng Đấng Christ (Eph 5:24).
Cụm từ “cô dâu” cho chúng ta thấy sự tinh khiết và tươi mới của tình yêu (Khải. 21: 1-8).
Từ ngữ “vợ” cho chúng ta thấy chiều sâu và sự bền chặt của tình yêu (Khải. 21,9).
Có một nàng dâu dưới đất và trên trời:
Cô dâu trên đất là dân Y-sơ-ra-ên (Ê-sai 62: 5; 54: 7, 8 và Ô-sê 2: 18-22).
Cô dâu trên trời là giáo hội (Math 13: 46 và Công 20:28).
--Cộng đồng - viên ngọc trái quý giá - đối với Ngài quý đến nỗi Ngài đã phó tất cả vì nó (Math 13:46; Eph 5:25) - gợi ý về tình yêu.
Ngọc trai là biểu hiệu của vẻ đẹp hoàn mỹ trong sự hiệp nhất, cũng như cô dâu (Eph 5:27).
Có ba khía cạnh trong tình yêu của Đấng Christ dành cho Cô dâu của Ngài: a/. Quá khứ: Ngài yêu cô dâu (Ep 5:25) b/. Hiện tại: Giờ đây Ngài đã "dùng nước là lời mà rửa cho tinh sạch" (Eph 5: 26). Ngài nuôi dưỡng họ (bên trong) và chăm sóc (bên ngoài) Eph 5:29). C/. Tương lai: Ngài "trình diện cho mình Hội thánh vinh diệu" (Eph 5:27).
Trong đám cưới của Chiên Con, cô dâu được trao cho Đấng Christ để được chia sẻ vinh quang của Người và sông với Ngài mãi mãi (Khải. 19: 6-9).
Tại lễ cưới Chiên Con, cô dâu sẽ mặc một chiếc áo cưới được đánh dấu bởi các công việc của các thánh đồ (Khải.19::8). Một chiếc áo - một cô dâu; Các sự công bình của các thánh- mọi hành động đức tin.
---Dòng thời gian (đoạn trích) cho đến đám cưới của Chiên Con:
Cất lên (1 Tê. 4:13-18), sau kèn 7, là cuối 7 năm.
Tòa án của Chúa Giê-su (2 Cor. 5:10; Rô. 14:10; Khải. 19:7)
Sự phán xét Hội thánh giả (Khải 19:1.2)-- Ba by-lôn
Hôn nhân của Chiên Con (Khải. 19:7)
-- Những thành phần tham dự lễ cưới:
Chiên con = chính Chúa Jêsus
Cô dâu = tất cả những người được cứu mà đã trải qua thử thách.
Những người được mời = tất cả các tín đồ nổi danh Cựu ước và Tân ước
1
1 lượt chia sẻ
11 người đã xem
Thích
Bình luận
Chia sẻ

Jerusalem - Trên Đất Và Trên Trời-

Khải 21: 9-22:5; Ê-sai 60

Sẽ có một mối liên hệ chặt chẽ giữa Jerusalem trên trời và dưới đất trong Thiên niên kỷ tới. Hãy so sánh những lời trong Kinh Thánh về cả hai thành phố với nhau và chú ý đến những điểm giống và khác nhau:
Cả hai thành phố đều được gọi là thành phố, theo đó mối quan hệ của hội thánh với chàng rể của cả hai là một mối quan hệ mật thiết và vĩnh cửu hơn (Ês 62: 4,5; Khải. 21: 2,9).
Bên trên Giê-ru-sa-lem trên đất xuất hiện vinh quang của Đức Chúa Trời; còn Giê-ru-sa-lem trên trời có sự vinh hiển của Đức Chúa Trời (Ê-sai 60: 1,2; Khải huyền 21:11).
Để biết ơn, các quốc gia đến với sự chiếu sáng của ánh sáng trên Giê-ru-sa-lem trên đất (Ê-sai 60: 1-3, 11); nhưng họ bước đi trong quyền năng của ánh sáng của thành Giê-ru-sa-lem trên trời, nơi giống như một viên bích ngọc trong suốt như pha lê (Khải. 21: 24,26.11).
Một bức tường đá sẽ được tìm thấy xung quanh Giê-ru-sa-lem trên đất; nó là một vách tường cao và dài, khoảng 3 mét (E-xê 40:5). Bức tường của thành phố trên trời cao 144 cubit, tức là khoảng 70 mét (Khải 21:17). Bức tường được làm bằng bích ngọc, chỉ sự vinh hiển của Đức Chúa Trời (Khải 21:18; 4:3).
Giê-ru-sa-lem trên đất và Giê-ru-sa-lem trên trời mỗi nơi có 12 cánh cổng làm bằng vật liệu quý giá gắn liền với tên của các bộ tộc Y-sơ-ra-ên và không bao giờ đóng. Có ba cổng, mỗi cổng mở về một hướng (Ê-xê 48: 31-34; Ês 54:12; 60:11; Khải huyền 21:12, 25). Nhưng chỉ có các cổng của thành phố trên đất được đánh dấu bằng thước đo (Ê-xê-chi-ên 40:11). Các cửa ngọc trai của thành phố trên trời được đo, nhưng kết quả của phép đo không được đề cập đến, vì ngọc trai cho thấy giá trị và vẻ đẹp vô hạn (Khải 21:15,18).
Trong các nền của thành hoặc ở các cổng, đá quý được phát huy tác dụng, nhờ đó thành trên trời có được sự vinh hiển lớn hơn (Ês 54:11, 12; Khải 21: 14, 19-21)..
Về kích thước của thành phố, cả hai thành phố đều được thiết kế như một hình vuông, với các kích thước rất khác nhau. Trong thành Giê-ru-sa-lem trên đất, một mặt là 4.500 cần, tương ứng với khoảng 12,4 km (Ê-xê 48:16). Ở Jerusalem trên trời, một chiếu được đưa ra với 12.000 ếch-ta-đơ (178 mét), tương ứng với khoảng. 2136 km (Khải 21:16). Ở Jerusalem trên trời, chúng ta cũng tìm thấy chỉ số chiều cao, tạo nên 12.000 ếch-ta-đơ - do đó thành phố trên trời là một khối lập phương.
Có nhiều vàng được tìm thấy ở Giê-ru-sa-lem trên đất, thành phố trên trời được làm bằng vàng (Ê-sai 60: 6.17; Khải huyền 21:18).
Trong mối liên hệ với Giê-ru-sa-lem trên đất, chúng ta tìm thấy một con đường sẽ được gọi là "con đường thánh"; Trên trời Giê-ru-sa-lem thậm chí còn có một con đường làm bằng vàng ròng như thủy tinh trong suốt (Ê-sai 35: 8; Khải huyền 21:21).
Ở Giê-ru-sa-lem trên đất, đền thờ đóng một vai trò nổi bật, trong khi ở Giê-ru-sa-lem trên trời sẽ không có đền thờ (Ê-xê 41: 1... .; Khải 21:22).
Cả hai thành phố đều không cần ánh sáng tự nhiên, vì chúng có Đưc Chúa Trời ban ánh sáng (Giê-ru-sa-lem trên trời có Chiên Con làm đèn), nhưng chỉ đối với Giê-ru-sa-lem trên trời, người ta nói rằng không có đêm và không cần ánh sáng nhân tạo ( Ês 60: 19,20; Khải 21: 23,25).
Trong Giê-ru-sa-lem trên đất sẽ không có ô uế, nhưng ở đó người công bình sẽ sống (Ês 35: 8; 60: 21). Tuy nhiên, trong Giê-ru-sa-lem trên trời, theo nghĩa tuyệt đối sẽ là trường hợp này, vì “bất cứ thứ gì” ô uế sẽ không đi vào đó; chỉ có những vị thánh đồ được vinh hóa (Khải 21:27).
Có một dòng sông hạnh phước trong cả Giê-ru-sa-lem trên đất và Giê-ru-sa-lem trên trời, nhưng chỉ có thành phố trên trời được cho là có dòng sông sáng như pha lê (Ê-xê 47:12; Khải. 22: 1).
Một người tên là Chồi sẽ ngồi trên ngai vàng trên đất (Xa 6:13), trên trời Giê-ru-sa-lem có nói về ngai vàng của Đức Chúa Trời và Chiên Con (Khải huyền 22: 1, 3).
Trong trường hợp của thành phố trên trái đất, người ta nói rằng có nhiều cây cối ở bên trái và bên phải con sông; chỉ có một cây được nhắc đến trong thành phố trên trời - và đó là cây sự sống. Những cây này kết trái liên tục, tháng này qua tháng khác, và lá được dùng để chữa bệnh (Ê-xê 47:12; Khải. 22: 1.2).
Mọi thứ đều rất tốt về thành phố trên đất, nhưng người ta vẫn chú ý rằng nó nằm trong một công trình sáng tạo cũ đã từng bị lời nguyền rủa: "Nhưng những chằm những bưng của biển ấy sẽ không trở nên ngọt, mà bỏ làm đất muối" khi nước chảy tới (Ê-xê-chi-ên 47: 11). Trên trời Giê-ru-sa-lem sẽ không còn sự rủa sả nào nữa (Khải. 22: 3).
Trong thành phố trên đất, các tôi tớ của Đức Chúa Trời sẽ được ban phước và sẽ được gọi bằng một tên khác (Ê-sai 65: 9, 13-16). Các tôi tớ Giê-ru-sa-lem trên trời cai trị đời đời và danh Đức Chúa Trời sẽ ở trên trán họ và họ sẽ thấy mặt Ngài (Khải 22: 3-5).
Điều tuyệt vời như thế đó là những gì Đức Chúa Trời sẽ làm việc trong vương quốc hòa bình trên đất liên quan đến Giê-ru-sa-lem trên đất - phước hạnh của Giê-ru-sa-lem trên trời thậm chí còn lớn hơn và quyền năng hơn. Tất cả những ai tin vào Chúa Jêsus nên trông đợi thành phố trên trời này

Chủ Tọa Thẩm Phán - Ba Phiên Họp-

Giăng 5:22, 27; Ma-thi-ơ 25: 31-46; 2 Cô-rinh-tô 5:10; Khải Huyền 20: 11-15

Mọi sự phán xét được giao cho Con Đức Chúa Trời (Giăng 5: 22, 27). Ngài sẽ phán xét tất cả mọi người. Tất cả sẽ ứng hầu trước ngai phán xét của Ngài và mọi đầu gối sẽ quỳ xuống.
-Có ba phiên tòa chính:
1.) Sự phán xét của người sống vào thời kỳ đầu của vương quốc hòa bình. Nó diễn ra trên trái đất (Math 25:31-46). Đó là về việc ai được phép vào vương quốc khi còn sống và ai phải chịu sự dày vò vĩnh viễn. Nó được quyết định bởi liệu một người có tiếp nhận các sứ giả và thông điệp của vương quốc trong thời gian đại nạn hay không.
2.) Sự phán xét của các tín đồ. Nó diễn ra trên thiên đường (ngay sau khi mùa gặt cất lên sau kèn 7). Điều quan trọng là các tín hữu phải được vạch trần và nhận phần thưởng (2 Cor 5:10; 1 Cor 3:14; 4:5). Vấn đề không phải là về việc người ta có bị lên án, bị định tội vô hồ lửa hay không ( Giăng 3:18), mà là về việc làm và lời nói của người ta.
3.) Sự phán xét của người chết (người không tin Chúa). Nó diễn ra trên thiên đường sau khi kết thúc vương quốc và đốt cõi sáng tạo đầu tiên, trước ngai vàng vĩ đại màu trắng. Đây là nơi mọi người được xet xử dựa trên những gì họ đã làm và cách họ đã đối đãi ân sủng. Một người được làm chứng bởi các sách trong đó cácviệc làm được ghi lại, và người kia được làm chứng bởi sách sự sống. Xem Khải huyền 20: 11-15.
Tòa án này không có công tố viên hay luật sư. Con người đến đó trực tiếp để giao dịch với Chúa.

THÀNH PHỐ CỦA ĐỨC CHÚA TRỜI-

 Kìa thành vinh diệu sáng tươi,

Ngai vàng, vinh hiển Chúa Trời nơi đây,
Thiên dân vui biết thành nầy,
Dù qua bao nỗi đắng cay dương trần,
Không còn khổ nhọc, sầu than,
Không còn gánh nặng khổ nàn đè vai;
Không còn than đói khát hoài,
Trái tim đau nhức từ nay tận cùng.
-
Chiên Con Ánh Sáng lạ lùng,
Trong thành không có mịt mùng đêm thâu;
Thiên dân vui biết thành cao,
Dù qua nguy khốn, khổ sầu thế gian;
Không còn than thở, kinh hoàng,
Không còn buồn bã, lệ tràn Chúa lau;
Không còn tuyệt vọng quá lâu,
Không còn phạm tội khi vào nơi đây.
-
Yêu Ngài, gìn giữ Lời Ngài,
Sẽ vào thành phố sống hoài nhà Cha;
Thiên dân vui biết thành mà,
Nỗi buồn cô độc đã qua trên đường,
Không còn bệnh tật, đau thương,
Không còn li biệt người thương ta rày;
Không còn quì cạnh quan tài,
Không còn chết chóc, khóc ngày biệt li.
Annie Johson Flint--

Hội Thánh Được Cất Lên Trước Đại Nạn Không?

Mời anh em hát lời hát nầy theo nhạc điệu Thánh Ca của HTTL Việt nam số 194.

Đáng sợ đại nạn ngày mai,
Con thú đăng quang cai quản ghê thay,
Thánh đồ và loài người đây,
Cam sống cơ cực trong đại nạn nầy.
Rồng đỏ ráo riết triển khai,
Thực thi bao phương án gay,
Nhờ đó biến đổi dân thánh,
Đức Chúa Cha hoạch thu nhiều ngành.
-
Tuần lễ thứ 70 trong lời tiên tri của Đa ni ên có 7 năm. Đó là 7 năm cuối cùng của thời đại nầy. Ba năm rưỡi sau trong bảy năm nầy là cơn khổ nạn lớn của địa cầu, mà hội thánh thường gọi là đại nạn. Các thành ngữ: 42 tháng, “các thì, một thì và nửa thì” hay 1260 ngày đều có cùng ý nghĩa là ba năm rưỡi, thời gian của đại nạn.
Hội thánh sẽ được biến hoá và cất lên vào thời điểm nào trong cơn đại nạn? Những người tin rằng hội thánh ra đi trước đại nạn được gọi là dân theo thuyết tiền nạn. Còn có dân tin theo thuyết trung nạn và hậu nạn. Đây là vấn đề gây tranh luận rất lớn suốt hai thế kỷ qua trong hội thánh chung. Cá nhân tôi xin đóng góp vài ý tưởng cho lập trường Hội thánh sẽ được cất lên vào thời điểm gần cuối đại nạn:
1. I.Tesalonica 4:13-17, “Hỡi anh em, chúng tôi chẳng muốn anh em không biết về những người đã ngủ, hầu cho anh em không buồn rầu như kẻ khác không có sự hi vọng. Vì nếu chúng ta tin Jêsus đã chết và sống lại, thì Đức Chúa Trời cũng sẽ đem những kẻ ngủ trong Jêsus cùng đến với Ngài. Nầy là điều chúng tôi nhơn lời Chúa mà bảo cho anh em rằng, chúng ta là kẻ sống, còn ở lại cho đến khi Chúa hiện đến, thì hẳn chẳng đi trước những kẻ đã ngủ. Vì chính Chúa sẽ từ trời giáng xuống với tiếng kêu bảo, tiếng của thiên sứ cực phẩm, và kèn của Đức Chúa Trời, thì những kẻ chết trong Christ sẽ sống lại trước; đoạn, chúng ta là kẻ sống mà còn ở lại, đều sẽ cùng họ được cất lên trong đám mây để nghinh tiếp Chúa tại khoảng không; như vậy chúng ta sẽ ở cùng Chúa luôn luôn.”
Những câu Kinh thánh nầy chỉ trình bày nguyên tắc chung của sự cất lên, bao gồm thánh đồ đã chết được sống lại, và tín đồ còn sống được biến hóa. Đó là sự hội ngộ chung của Hội thánh với Chúa, nhưng phân đoạn nầy không cho biết thời điểm.
2. Sự quang lâm (hiện diện) của Chúa trong đại nạn- II Tesalonica 2:1 chép, “Hỡi anh em, luận về sự hiện đến của Chúa chúng ta là Jêsus Christ....”. Chữ “ sự hiện đến” ở đây là parousia, có nghĩa sự quang lâm, sự hiện diện. Sự quang lâm nầy khởi sự vào một thời điểm không rõ trong đại nạn. Sự quang lâm nầy sẽ đến không trung như Khải thị 10:1 nói, “Đoạn, tôi đã thấy một thiên sứ mạnh mẽ khác từ trời xuống, mình mặc đám mây, đầu đội mống, mặt như mặt trời, chơn như trụ lửa”.
Thiên Sứ mạnh mẽ khác ở đây cũng như Vị Thiên sứ ở Khải Thị 7:2; 8:3 và 18:1 đều là Đấng Christ. Vào thời điểm nầy Ngài đã từ thiên đàng bước ra. Khải tượng nầy chen vào giữa kèn 6 và kèn 7, là một gợi ý rằng trước kèn 7, Đấng Christ vẫn còn trên đường đi đến địa cầu. Vào thời điểm nầy, Ngài lấy các đám mây trời khoác lấy mình, chưa ngồi trên đám mây, trái ngược với Khải Thị 14:14; Mathio 24:30; 26:64. Ba câu Kinh thánh nầy nói Chúa ngồi trên đám mây, ngự xuống cách công khai, còn mặc bằng đám mây là đến cách bí mật. Sự quang lâm nầy của Chúa sẽ chấm dứt với sự “hiển lộ của sự quang lâm Ngài”( the shining forth of His parousia) để tiêu diệt Antichrist, II Tesalonica 2:8.
Trong suốt thời gian mà sự parousia của Chúa ở lại không trung, hầu hết hội thánh sẽ được cất lên đó gặp Chúa (I Tes. 4:17). Theo văn mạch “ngày của Chúa” trong II Tes 2:2, [“Hỡi anh em, luận về sự hiện đến của Chúa chúng ta là Jêsus Christ, và sự chúng ta hội hiệp cùng Ngài, chúng tôi xin anh em, chớ để tâm trí mình nhạy rúng động, cũng đừng kinh hoảng hoặc bởi tà linh, hoặc bởi lời nói, hoặc bởi bức thơ mạo danh chúng tôi mà nói rằng ngày của Chúa gần đến rồi”,]-- ám chỉ ngày hội ngộ của Chúa với hội thánh tại không trung trong sự parousia của Ngài, xảy ra trước kèn 7.
I Corinhto 15:51-52 chép, “Nầy, tôi tỏ cho anh em một sự mầu nhiệm: Chúng ta không ngủ hết, nhưng hết thảy đều sẽ biến hoá, trong tích tắc, trong nháy mắt, lúc kèn chót thổi. Vì kèn sẽ trổi tiếng, thì kẻ chết đều được sống lại chẳng hay hư nát, và chúng ta đều sẽ được biến hoá”. Hai câu Kinh thánh nầy bày tỏ Hội thánh chỉ được cất lên ngay sau khi kèn 7 thổi lên. Khải thị 10:7 và 11:15 chép, “nhưng đến ngày của tiếng thiên sứ thứ bảy, khi người sắp thổi lên, thì sự mầu nhiệm của Đức Chúa Trời sẽ được trọn, chánh như Tin Lành Ngài đã truyền cho đầy tớ Ngài là các tiên tri.-- Thiên sứ thứ bảy thổi lên, liền có những tiếng lớn trên trời rằng: “Nước của thế giới đã trở nên nước của Chúa chúng ta và của Đấng Christ của Ngài, Ngài sẽ làm Vua cho đến đời đời vô cùng”. Hai câu nầy nói Chúa sắp đem vương quốc Ngài xuống địa cầu. Sau kèn 7 có 7 bát thạnh nộ đổ xuống trước và giữa trận chiến Hạt ma ghê đôn để chấm dứt đại nạn. Chúa liền cùng thánh đồ hiện ra, cỡi mây mà đến. Hội thánh đã được cất lên sau kèn 7, tức là thời điểm sắp diễn ra đại chiến thế giới Hạt ma ghê đôn.
Lu ca 17:28-30 chép, “Lại cũng như đã xảy ra trong ngày của Lót: người ta ăn, uống, mua, bán, gieo trồng, xây cất, nhưng nhằm ngày Lót ra khỏi Sô-đôm, thì trời mưa lửa và lưu hoàng diệt họ hết thảy. Ngày Con người hiện ra cũng một thể ấy”. Ngày Lót vừa ra khỏi thành phố Sô đôm. Mưa lửa và lưu hoàng đổ xuống liền. Hội thánh chung, yếu đuối thuộc linh như Lót, vừa được cất lên, mưa diêm sinh của đại chiến Hạt ma ghê đôn đổ xuống, thì Con Người hiện ra công khai. Từ ngữ “hiện ra “ ở đây là “apokalupto” có nghĩa “được khải thị, vén màn lên cho xem thấy, hiển lộ”. Chúa hiển lộ ra từ không trung.
3. Cuộc hội ngộ của Hội thánh cùng Chúa:
II Tesalonica 2:1-4 chép, “Hỡi anh em, luận về sự hiện đến của Chúa chúng ta là Jêsus Christ, và sự chúng ta hội hiệp cùng Ngài, chúng tôi xin anh em, chớ để tâm trí mình nhạy rúng động, cũng đừng kinh hoảng hoặc bởi tà linh, hoặc bởi lời nói, hoặc bởi bức thơ mạo danh chúng tôi mà nói rằng ngày Chúa gần đến rồi. Mặc ai dùng cách nào, cũng đừng để họ lừa dối mình, vì phải có sự bội đạo đến trước, và có người đại tội, là con của sự hư mất, được hiển lộ; nó là kẻ đối địch, tự nhắc mình lên trên mọi vị xưng là thần, hoặc vật gì người ta kính thờ, rất đỗi ngồi trong đền thờ Đức Chúa Trời, tự xưng là Đức Chúa Trời. Anh em há không nhớ khi tôi còn ở với anh em, thì đã tỏ cho anh em những sự đó sao? Hiện nay anh em cũng biết điều ngăn trở nó, hầu cho nó được hiển lộ đúng kỳ nó thôi. Vì sự mầu nhiệm của sự bất pháp đang hành động rồi, song hiện nay chỉ còn có một vị ngăn cản thôi; đến khi vị ấy phải cất đi. bấy giờ kẻ bất pháp kia sẽ được hiển lộ, Chúa Jêsus sẽ dùng hơi miệng Ngài mà tiêu diệt nó, dùng vinh quang của sự hiển hiện Ngài mà trừ bỏ nó. Nó sẽ đến theo sự vận động của Sa-tan, làm đủ thứ quyền năng, dấu kỳ và phép lạ dối gạt, dùng mọi cách quỉ quyệt bất nghĩa đối với những kẻ hư mất, vì họ không nhận lãnh sự yêu mến lẽ thật để được cứu”.
Phao lô quả quyết rằng trước “ngày của Chúa”, là ngày hội ngộ của Chúa với hội thánh (cả người chết sống lại và người sống) chỉ xảy ra sau khi có sự bội đạo đến trước và con người đại tội ( Antichrist), là kẻ bất pháp, con của sự hư mất hiển lộ. Các câu nầy nói rõ ràng rằng sau khi Antichrist hiển lộ và cai trị cách bất pháp, quỉ quyệt, bất nghĩa trong ba năm rưỡi đại nạn rồi, Hội thánh mới được cất lên hội ngộ với Chúa tại khoảng không.
Điều nầy khải thị cách minh bạch và xác định rằng sự quang lâm (parousia) của Chúa đến không trung và sự cất lên đại đa số tín đồ, là mùa gặt trong Khải thị 14:14 chép, không thể xảy ra trước cơn đại nạn.
4. Khải thị 12:1-9, “Đoạn, trên trời hiện ra một dấu lạ lớn: có một người đờn bà mình mặc mặt trời, chơn đạp mặt trăng, đầu đội mão miện bằng mười hai ngôi sao. 2 Nàng có thai và kêu la vì quặn thắt và đau đẻ. Trên trời cũng hiện ra một dấu lạ khác nữa: Kìa, một con rồng lớn sắc hồng, có bảy đầu, mười sừng, đầu đội bảy vương miện. Đuôi nó kéo một phần ba các ngôi sao trên trời mà quăng xuống đất. Con rồng ấy đứng trước người đờn bà gần đẻ, chờ khi đẻ rồi thì ăn nuốt con của nàng. Nàng sanh một con trai, con trai ấy sẽ dùng gậy sắt mà chăn muôn dân; con trẻ ấy bèn được tiếp lên cùng Đức Chúa Trời và đến nơi ngai Ngài. Còn người đờn bà thì trốn vào đồng vắng, tại đó nàng có một chỗ mà Đức Chúa Trời đã sắm sẵn cho, để họ nuôi nàng trong một ngàn hai trăm sáu mươi ngày.
Rồng bị thua các thiên sứ Vả, ở trên trời có một cuộc chiến tranh, Mi-ca-ên và các sứ giả người đều chiến đấu với con rồng, rồng cũng cùng các sứ giả nó chiến đấu lại, song chúng không thắng được, ở trên trời cũng chẳng còn thấy chỗ chúng nữa. Con rồng lớn bị quăng xuống, tức là con rắn xưa, gọi là Ma quỉ và Sa-tan, đứa lừa dối cả thiên hạ nó bị quăng xuống đất, các sứ giả của nó cũng cùng bị quăng xuống nữa”.
Khải Thị 12 mô tả người phụ nữ có người con trai. Nhiều người tin rằng người phụ nữ nầy tượng trưng bà Mari, mẹ Chúa, số người khác chủ trương bà là dân Israel. Cả hai ứng dụng nầy đều không chính xác, vì cả hai đối tượng đều không có chạy lánh nạn con rắn vào đồng vắng trong 1260 ngày ( là cơn đại nạn) sau khi sinh ra người con trai xong. Cho nên người phụ nữ nầy phải tiêu biểu tổng thể dân Đức Chúa Trời trên trái đất, trong cả thời Cựu ước và Tân ước gộp lại.
Trải qua các thời đại, Hội thánh chung luôn luôn sản sinh một thiểu số người là thành phần mạnh mẽ, là đối thủ của con rồng. Trước cơn đại nạn, thiểu số người đắc thắng nầy (gồm cả người Cựu ước sống lại và người Tân ước đang sống) sẽ được cất lên ngai Đức Chúa Trời, đánh đuổi Satan xuống trái đất. Satan bị đánh đuổi khỏi không trung, và thì giờ của nó còn được phép làm việc trên mặt đất là 1260 ngày hay 3 năm rưỡi của cơn đại nạn. Và đó là thời gian lánh nạn của người đàn bà vào đồng vắng, xa cách mặt con rắn. Khi còn ở trên trời, Satan được gọi là con rồng, khi bị rớt xuống đất, hắn được gọi là con rắn.
Khải thị 12:13-14,17, “Khi rồng thấy mình bị quăng xuống đất, bèn rượt đuổi người đờn bà đã sanh con trai. Nhưng nàng được ban cho một cặp cánh chim ưng lớn để bay vào đồng vắng đến chỗ của mình, ở đó nàng được nuôi một thì, các thì, và nửa thì, lánh mặt con rắn.- Rồng nổi giận người đờn bà, bèn đi giao chiến cùng những kẻ khác của dòng giống nàng, là những kẻ giữ điều răn của Đức Chúa Trời và có lời chứng của Jêsus.
Con chim ưng lớn tiêu biểu Đức Chúa Trời, còn hai cánh chim ưng ngụ ý sức mạnh của Ngài, để giải cứu dân Ngài. Xuất Hành 19:4 chép, “Các ngươi đã thấy điều Ta làm cho người Ai cập,Ta chở các ngươi trên cánh chim ưng làm sao, và dẫn các ngươi đến cùng Ta thế nào”. Khi xưa Chúa đã đem con dân Israel ra khỏi sự bắt bớ của Pha-ra-ôn, nên trong đại nạn, Ngài cũng sẽ đem Hội thánh chung thoát khỏi sự bắt bớ của Satan như vậy.
Câu 17 chép, “những kẻ khác của dòng giống nàng, là kẻ giữ điều răn của Đức Chúa Trời và có lời chứng của Jêsus”. Đây là dân của Đức Chúa Trời, khác với người con trai. Giữa dân sót nầy có dân Do thái không tin Chúa Jesus, nhưng giữ diều răn của Đức Chúa Trời, và các tín đồ có lời chứng của Chúa Jesus. Cả hai số dân nầy sẽ trải qua đại nạn, chịu đựng sự bắt bớ và tấn công của Satan.
5. Khải thị 13:7, 10, “Nó (con thú) được phép giao chiến cùng các thánh đồ và đắc thắng. Nó cũng được quyền bính trên các chi phái, các dân, các tiếng, và các nước-- Nếu ai bắt người ta làm phu tù; nấy hẳn sẽ bị làm phu tù; nếu ai giết người ta bằng gươm, nấy hẳn phải bị giết bằng gươm. Đây là sự nhẫn nại và đức tin của các thánh đồ”.
Các thánh đồ nầy là hội thánh chung, còn sống trong đại nạn. Chúa gìn giữ họ thoát khỏi con rắn, nhưng ở đây nói con thú (Antichrist) chiến thắng họ. Nhiều người trong họ, hoặc bị giết chết hoặc bị lao tù.
6. Khải thị chương 14: trình bày các diễn tiến cách tóm tắt theo thứ tự trước và trong cơn đại nạn như sau:
Câu 1-5:, “Tôi đã thấy, kìa, Chiên Con đứng trên núi Si-ôn, và với Ngài có mười bốn vạn bốn ngàn người, đều có danh của Ngài và danh của Cha Ngài ghi trên trán mình--- Họ đã được mua chuộc từ trong loài người, để làm trái đầu mùa cho Đức Chúa Trời và Chiên Con”. Trái đầu mùa là tín đồ trưởng thành thuộc linh sớm, sẽ được cất lên trước đại nạn. Con số 144.000 chỉ là con số tiêu biểu, không theo nghĩa đen.
Câu 6-7, “Tôi lại thấy một thiên sứ khác bay giữa trời, có Tin Lành đời đời, để giảng cho những kẻ ở trên đất, tức là cho các nước, các chi phái, các tiếng, và các dân. Người lớn tiếng nói rằng: “Hãy kính sợ Đức Chúa Trời và tôn vinh Ngài, vì giờ xét đoán của Ngài đã đến; hãy thờ lạy Đấng dựng nên trời, đất, biển và các suối nước”. Có thiên sứ rao phúc âm đời đời cho địa cầu suốt cơn đại nạn.
Câu 8, “Lại có một thiên sứ khác, là vị thứ hai, tiếp theo mà nói rằng: “Ba-by-lôn lớn kia đã đổ rồi, đổ rồi, vì nó khiến cho muôn dân uống rượu phẫn nộ do sự dâm loạn của nó”. Babylon tôn giáo (đại kỹ nữ) sẽ bị sụp đổ vào đầu đại nạn. Xem Khải 17:16-17 sẽ thấy sau khi 10 sừng con thú tiêu điệt Babylon tôn giáo nầy xong, liền trao 10 nước của chúng cho con thú, để con thú đăng quang cai trị cả vương quốc toàn thế giới trong đại nạn.
Câu 9-11, “Lại một thiên sứ khác, là vị thứ ba, tiếp theo nữa, lớn tiếng nói rằng: “Nếu ai thờ lạy con thú và hình tượng nó, nhận ghi dấu hiệu trên trán hay trên tay mình, thì nấy cũng sẽ uống rượu phẫn nộ không pha của Đức Chúa Trời rót trong chén thạnh nộ của Ngài; nó sẽ bị thống khổ trong lửa và lưu hoàng ở trước mặt các thiên sứ thánh và trước mặt Chiên Con. Khói của sự thống khổ chúng bay lên đời đời vô cùng. Những kẻ thờ lạy con thú và hình tượng nó, cùng những kẻ nhận dấu hiệu của danh nó, thì cả ngày lẫn đêm chẳng được nghỉ ngơi”. Thiên sứ cảnh báo ai nhận dấu hiệu con thú, thờ lạy nó hay thờ lạy hình tượng nó, đều chịu khổ hình đời đời trong hồ lửa.
Câu 12, “Đây là sự nhẫn nại của các thánh đồ, là những kẻ giữ điều răn của Đức Chúa Trời và đức tin của Jêsus”. Nhiều thánh đồ nhẫn nại trong cơn đại nạn. Các thánh đồ đó là người Do thái giữ điều răn của Đức Chúa Trời và tín đồ Tân ước có đức tin của Chúa Jesus. Một lần nữa, câu nầy quả quyết Hội thánh còn lưu lại trong đại nạn.
Câu 14-16, “Tôi đã thấy, kìa, một đám mây trắng, trên mây có một vị ngồi giống như con người, đầu đội mão miện vàng, tay cầm lưỡi liềm bén. Có một thiên sứ khác từ đền thờ ra, lớn tiếng kêu Đấng ngồi trên mây mà rằng: “Hãy đưa lưỡi liềm Ngài ra mà gặt đi, vì giờ gặt hái đã đến, mùa màng của đất đã chín khô rồi.” Đấng ngồi trên mây bèn quăng lưỡi liềm mình xuống đất, và đất bị gặt”.
Lúa mì chín khô ám chỉ các tín đồ. Họ sẽ được Chúa thu hoạch cách đại trà vào cuối đại nạn.
Câu 17-20, “Có một thiên sứ khác từ đền thờ trên trời ra, cũng cầm lưỡi liềm bén. Có một thiên sứ khác nữa từ bàn thờ ra, là vị có quyền trên lửa, lớn tiếng kêu vị cầm lưỡi liềm bén mà rằng: “Hãy đưa lưỡi liềm bén của ngươi ra và hái những chùm nho của đất đi, vì nho đã chín mùi rồi.” Thiên sứ bèn quăng lưỡi liềm mình xuống đất, hái nho của đất, và ném vào lò ép rượu lớn của sự phẫn nộ của Đức Chúa Trời. Lò rượu ấy đạp ở ngoài thành, có huyết từ trong lò ra, lên đến khớp ngựa, dài chừng một ngàn sáu trăm dặm (291 km)”.
Sau khi thu hoạch lúa mì, có vụ thu gom các chùm nho chín mọng nước (đầy tràn tội lỗi) vào thùng ép nho theo sự thạnh nộ của Đức Chúa Trời. Nho chín mọng ngụ ý dân thế giới họp quân tại trận Hạt ma ghê đôn, xứ Israel. Họ bị tiêu diệt trong thùng ép trận chiến và máu người chảy tràn đến 291 km chiều dài.
Bảy diễn tiến trên đây bày tỏ đa số tín đồ phải trải qua cơn đại nạn, và chỉ được Chúa cất lên trước khi trận Hạt ma ghê đôn nổ ra mà thôi.
Kết luận:
&.Lu ca 21:33-36, “Vậy, hãy giữ lấy mình, e rằng sự ăn uống quá độ, sự say sưa và sự lo lắng của đời sống nầy làm luỵ cho lòng các ngươi, và ngày ấy đến thình lình trên các ngươi như lưới rập chăng; vì ngày đó sẽ đến trên mọi người ở khắp mặt đất cũng như vậy. Vậy, lúc nào các ngươi cũng hãy thức canh và cầu nguyện, hầu cho ngươi đủ sức để thoát khỏi mọi điều phải xảy đến ấy và đứng nổi trước mặt Con người.”
Chúa nói điều kiện để được cất lên là những ai tình thức, đắc thắng cuộc đời xác thịt, sẽ được cất lên trước khi mọi điều đó ( đại nạn) xảy đến. Chắc chắc cả Hội thánh hiện tại không đủ điều kiện, chỉ một thiểu số sẽ được cất lên trước đại nạn là những trái đầu mùa mả thôi.
&. Khải thị 3:10, “Vì ngươi đã giữ lời của sự nhẫn nại Ta, Ta cũng sẽ giữ ngươi khỏi giờ thử thách, là giờ sắp đến trong khắp thiên hạ, để thử những người ở trên đất. Ta đến mau chóng; hãy giữ vững điều ngươi đã có, hầu chẳng ai đoạt lấy mão miện của ngươi. Kẻ đắc thắng, Ta sẽ khiến làm rường cột trong đền thờ Đức Chúa Trời Ta, và người không còn ra khỏi đó nữa; ta cũng sẽ lấy danh Đức Chúa Trời ta, và danh của thành Đức Chúa Trời Ta, là Giê-ru-sa-lem mới ở trên trời, từ Đức Chúa Trời ta mà xuống, cùng danh mới của Ta, mà viết trên người. Ai có tai, hãy nghe điều Thánh Linh phán cùng các Hội thánh.'
Theo văn mạch của Khải thị chương 2 và 3, bảy hội thánh địa phương được sắp xếp thành 4 loại hội thánh, sẽ tồn tại đến ngày Chúa tái lâm, như sau:
1. Thiatiro: Công giáo.
2. Sạt đe: Cải chánh, Tin lành.
3. Philadenphi: Hội thánh khôi phục.
4. Lao đi xê: Hội thánh tình thương anh em sa bại.
Trong bốn loại hội thánh đều có người đắc thắng. Khải thị 3:10 chỉ dành cho người đắc thắng trong Phi la đen phi. Tất cả những người đắc thắng nầy gộp lại thành người con trai trong Khải thị 12, hoặc trái đầu mùa trong Khải thị 14. Chỉ những ai trưởng thành thuộc linh và đắc thắng sớm hơn người khác mới được cất lên trước đại nạn.
Anh em đừng tưởng câu nầy (Khải thị 3:10) dành cho Hội thánh cách tổng quát và dễ dãi. Chỉ những người đắc thắng trong hội thánh mới được cất lên trước đại nạn. Lời hứa nầy hứa hẹn với “ngươi” là sứ giả của Hội thánh, mà Khải 1:20 nói “bảy ngôi sao là các sứ giả của bảy Hội thánh”. Anh em có sống tỏa sáng Chúa không, anh em có đắc thắng mọi sự tiêu cực mà Chúa đề cập đến trong bảy hội thánh nầy không? Nếu anh em đắc thắng theo như các lá thư nầy nói, khi ấy anh em sẽ được cất lên “khỏi giờ thử thách, là giờ sắp đến trong khắp thiên hạ, để thử những người ở trên trái đất”. Chĩ những người đắc thắng thôi, còn toàn bộ hội thánh xác thịt, đời sống thuộc linh thất bại sẽ bị bỏ lại trong đại nạn.
-
Chúa tái lâm-
-
Chúa tái lâm vinh hiển vẻ vang.
Vinh cho các thánh, đổi trần hoàn.
Nay Sao mai mọc, chiếu người thức,
Lúc Thái Dương lên, sáng thế gian.
Kẻ Trộm ban đêm đột ngột đến,
Nhà Vua buổi sáng cỡi mây ngàn.
Anh em hỡi, hãy mau tăng trưởng,
Chúa rước ta đi trước khổ nàn.

Chủ Nhật, 3 tháng 10, 2021

Trước Ngưỡng Cửa Của Cõi Vĩnh Hằng-

Khải huyền 20:10- 21:8

Sau khi Sa-tan một lần nữa chứng tỏ mình là kẻ dụ dỗ không thể sửa đổi được đối với loài người vào cuối ngàn năm, Đức Chúa Trời ném hắn vào hồ lửa được chuẩn bị cho hắn và các thiên thần của hắn. Ở đó, hắn sẽ bị “dày vò ngày đêm mãi mãi” (Khải 20:10). Đức Chúa Trời đã nói lời cuối cùng của Ngài về ma quỷ.
Nhưng con người cũng vậy, bản chất là bất trị và xấu xa. Người luôn nổi loạn chống lại Đức Chúa Trời, gần đây nhất là trong những hoàn cảnh thuận lợi nhất trong thời kỳ làm chúa tể của Đấng Christ. Vì vậy, trong Khải Huyền 20: 11-15, Đức Chúa Trời cho chúng ta thấy sự kết thúc của các giao dịch của Ngài với con người: sự phán xét kẻ chết trước ngai trắng vĩ đại.
--Sự kết thúc của cõi sáng tạo đầu tiên
“Ngày phán xét” bắt đầu khi cõi sáng tạo đầu tiên qua đi. Sự phán xét này đánh dấu sự chuyển tiếp sang “ngày của Đức Chúa Trời”, sang trạng thái vĩnh cửu (2 Phi 3: 7-13). Vào ngày này, trái đất hiện tại và trời hiện tại sẽ qua đi và cùng với chúng là tất cả những công việc mà sự kiêu ngạo và ngạo nạn của con người đã tạo ra. Ý nghĩ về điều đó sẽ có tác dụng làm sạch bước đi của chúng ta (xem 2 Phi. 3:11)!
--Sự phán xét của người chết
Nhưng trước khi Chúa Jêsus thiết lập một trái đất mới và các tầng trời mới, tất cả những người chết, tất cả những người đã chết mà không ăn năn hoặc tin vào Đức Chúa Trời, phải nhận sự phán xét cuối cùng của họ tại ngai vàng lớn. Trên ngai có Chúa Giêsu, Con Đức Chúa Trời và đồng thời là Con của loài người (Giăng 5: 22-27; 2 Tim 4: 1). Không ai khác xứng đáng và có quyền đưa ra phán quyết cuối cùng này cho tất cả những người không ăn năn.
Theo lệnh của Ngài, biển cả, sự chết và âm phủ phải giao lại kẻ chết (Khải 20:13). “Sự phục sinh để phán xét” (Giăng 5:29) đã diễn ra. Tất cả những người chết mà không có Chúa, lớn và nhỏ, hoàng tử và người ăn xin, được chôn dưới biển hoặc trong đất và những người cho phép mình bị thiêu, tất cả đều đứng đó. Không có một vị thánh đồ nào ở đó. Một số đã ở trong nhà của Cha, những người khác được Chúa Giê-su Christ gìn giữ và mang đến trái đất mới. Chỉ những người được liệt kê ở đây thì đã chết mà không được tha tội. Tất cả họ đều ở đó -
--Những Sách của Đức Chúa Trời-
Các sách được mở ra, bản ghi chép thần thượng đầy đủ về cuộc đời con người. Mọi người sẽ được đánh giá tùy theo việc làm của họ. Điều này có ý nghĩa gấp ba lần:
Sẽ không có hóa đơn tỷ lệ cố định cho tất cả tội nhân. Mọi người đều nhận được “những gì Người đã làm trong thân xác mà người đã hành động” (2 Cor. 5:10). Mỗi trường hợp được kiểm tra riêng lẻ.
Không ai bị phán xét chỉ vì bản chất anh ta là tội nhân, mà vì những việc làm tội lỗi mà anh ta đã trở thành tội lỗi trước mặt Đức Chúa Trời.
Mặc dù một bản án được tuyên ra có giá trị và hiệu lực vĩnh viễn ( Khải 21:8), nhưng mức độ nghiêm trọng của hình phạt sẽ khác nhau tùy từng trường hợp ( Lu.ca 12:47,48; Math.10:15).
Như một bằng chứng bổ sung, Sách Sự Sống sẽ được mở ra, trong đó liệt kê tất cả những người đã được rửa sạch bởi huyết của Chiên Con. Không một tên của những người đứng trước ngai vàng vĩ đại đó sẽ được tìm thấy trong đó. Tất cả đều nghe thấy lời phán xét từ miệng quan tòa: "Hỡi những kẻ bất lương, hãy lui ra khỏi ta!" (Math 7:23). Bạn đi vào sự dày vò vĩnh viễn. Họ được nộp cho cái chết thứ hai, sự tách biệt vĩnh viễn của toàn bộ con người (tâm linh, tâm hồn và thể xác) khỏi Đức Chúa Trời. Mọi con cái Chúa vui mừng và biết ơn biết bao khi tên anh ta được “ghi trên trời” (Lu ca 10,20)!
--Toàn thắng
Sự chết và âm phủ đã giam cầm thể xác và linh hồn của những kẻ không tin này. Tuy nhiên, Đấng Christ sẽ phá vỡ quyền lực của âm phủ và sự chết khi kẻ chết sống lại để chịu sự phán xét đời đời. Sau đó sự chết và âm phủ bị ném vào hồ lửa cùng với họ, vì không còn chỗ cho hai cái đó trong cõi sáng tạo mới. Rồi Chúa Giê-su cũng đánh bại “kẻ thù cuối cùng” là cái chết và chứng tỏ mình là Đấng có quyền “chế phục mọi sự” (1Cor. 15:26; Phil 3: 21).
---Trời mới và đất mới
Vậy trời đất cũ đã qua rồi. Cũng chính Ngài đã làm cho nó hiện hữu và bấy giờ đã chấm dứt sự tồn tại của họ. Và Đấng mà mà qua Ngài, Chúa Trời đã tạo ra các thế giới (của cuộc sáng tạo đầu tiên), giờ đây đang ngồi trên ngai vàng và nói: "Kìa, Ta đang làm cho mọi thứ trở nên mới mẻ" (Khải 21:5). “Trời mới đất mới” xuất hiện từ tay Ngài, “nơi sự công bình cư ngụ” (2 Phi 3:13). Sự chết bị tiêu diệt, tội lỗi cuối cùng cũng bị xóa bỏ. Một trật tự mới được đưa ra, trong đó mọi thứ đều phù hợp với Đức Chúa Trời. Một trạng thái hoàn hảo sẽ không bao giờ thay đổi nữa.
“Biển không còn nữa” - đó là điều đầu tiên được nói về tình trạng này. Cuộc sống không có biển, không có vòng tuần hoàn của nước, là điều không tưởng ngày nay. Phải có một cuộc sống khác trên trái đất mới, con người được biến đổi để sống trong những hoàn cảnh mới này. Họ khoác lên mình sự trường sinh bất tử (1 Cô 15:53). Ngày nay biển ngăn cách các lục địa và do đó phân cách con người với nhau. Nhưng không có gì sẽ chia cắt các cư dân của trái đất mới nữa. Ngoài ra, trong Kinh thánh, biển thường nói về sự kiêu căng, bất ổn và nổi loạn chống lại Đức Chúa Trời (xem Ê-sai 57:20). Tất cả những điều này định tính chất cho thế giới ngày nay. Sau đó sẽ không có gì bất ổn hơn, không có gì là không ở dưới sự kiểm soát hoàn hảo của Chúa. Chúng ta không biết gì thêm về bản chất của trái đất mới. Nó cung cấp bối cảnh thích hợp cho những gì mà sau đó được mô tả trong Khải Huyền 21: 2-4.
--Nhà trại của Chúa ở với con người
Thành thánh Giê-ru-sa-lem --cộng đồng dân Chúa --(Khải 21: 9, 10) - từ trên trời xuống, và đến từ Đức Chúa Trời. Nó có nguồn gốc thần thượng và, như ngày nay, có đặc tính thuộc trời. Vị trí gần gũi đặc biệt của họ đối với Đức Chúa Trời đã không thay đổi trong suốt hàng ngàn năm qua. Vẻ đẹp và sự tươi mới của họ cũng vẫn còn. Không có tì vết hay vết nhăn, thánh thiện và không chỗ chê trách, Đấng Christ đã khiến họ tự vinh hóa mình. “Hãy chuẩn bị như một cô dâu trang điểm cho chồng mình” (Khải 21:2), rồi từ trời xuống. Dù đã là "vợ của Chiên Con" được 1000 năm rồi, nàng vẫn là cô dâu, mãi mãi là đối tượng tình yêu không thay đổi của chàng và tình yêu nàng dành cho chàng không hề phai nhạt.
Với những lời: "kìa, nhà trại của Đức Chúa Trời ở với loải người ( các dân)!"(Khải. 21,3)' Đức Chúa Trời luôn muốn có một căn hộ và một gia đình mà Ngài có thể sống cùng. Nhiều đoạn trong Cựu Ước cho thấy ước muốn này của Đức Chúa Trời (Xuất 25.8; Lê 26.11.12; Ê-xê 37.26–28). Lều họp, hội mạc là biểu hiện hữu hình đầu tiên của hai sự kiện này: Đức Chúa Trời có một căn hộ, đền tạm (là cộng đồng dân tái sinh) và các dân Ngài (là dân từ bầy chiên ở Mathio 25:31-46 sinh ra). sống xung quanh nhà trại. Nhưng chỉ trong trạng thái vĩnh cửu, và mục tiêu của Đức Chúa Trời mới hoàn toàn đạt được. Chúa sẽ ngự trong hội thánh, trong “túp lều” của Người, như Người đã làm (Ep 2,20-22)., mà nhà trại nầy ở giữa các dân thánh sạch trong trái đất mới đến đời đời
Và nhờ “nhà trại” (Hội thánh) của mình, Ngài sẽ ở với dân chúng (nghĩa là tất cả các dân tộc sinh ra trên trái đất cũ chuyển sang. Chúc mừng những dân tộc trên trái đất mới! “Chính Chúa Trời sẽ ở với họ, làm Đức Chúa Trời của họ” (Khải. 21:3) - đó là liên hệ mật thiết vĩnh viễn với Chúa. Một phần thân thiết hơn nữa là các tín đồ tạo nên hội thánh, nên nhà trại. Họ vĩnh viễn là khí cụ để tôn vinh Chúa (Eph 3:21).
--Điều gì sẽ không còn nữa
Bên cạnh những lời chúc phúc được thể hiện một cách tích cực, cũng có những điều “sẽ không còn nữa”. Chúng là những thứ thuộc về tạo vật đầu tiên bị tội lỗi làm hư hỏng. Sẽ không còn sự chết, đau buồn và đau đớn nữa. Đức Chúa Trời sẽ an ủi con cái và an ủi các dân mới của mình bằng sự an ủi đời đời. Chính Đấng ấy sẽ lau đi từng giọt nước mắt, tức là mọi kí ức về nỗi buồn và sự đau khổ - một biểu hiện của sự dịu dàng lớn nhất. Chẳng phải những điều được đề cập ở đây (Khải. 21:4) chính là điều gì ngăn cản chúng ta ngày nay thường xuyên tận hưởng mối tương giao với Đức Chúa Trời hay sao?
-Và Chúa Jêsus?
Chúa đã làm cho mọi thứ tốt đẹp. Trên thập tự giá, Ngài đã thốt lên: "đã hoàn thành" (Giăng 19:30). Ở đó, Ngài đã đặt nền móng cho mọi phước lành cho con người chúng ta. Không nơi nào điều này được nhìn thấy rõ ràng như ở trạng thái vĩnh cửu. Ngài sẽ được tôn thờ vì và điều đó còn mãi mãi. Ngài sẽ nói: “Xong rồi” (Khải 21:6), khi Ngài sẽ đem mọi sự hòa hợp với Đức Chúa Trời, khi “Đức Chúa, Trời sẽ là mọi sự trong mọi sự”. Đức Chúa, Trời như thế - Cha, Con và Thánh Linh - sẽ tràn ngập trời và đất.
Nhưng Chúa Jêsus vẫn là con người mãi mãi. Ngài sẽ mãi mãi “chịu sự phục tùng Đấng đã chế phục mọi sự cho Ngài” (1 Cô 15: 28). Ngài là và vẫn là hình ảnh của Đức Chúa Trời vô hình mà chúng ta sẽ thấy sự vinh hiển của Đức Chúa Trời trong khuôn mặt của Ngài. "Ở cùng Chúa luôn luôn” và “thấy Ngài như vốn có thật vậy” - đó sẽ là niềm hạnh phúc lớn nhất của chúng ta. Ngài là con người vĩ đại dẫn dắt mọi thứ đến mục tiêu mà tình yêu của Đức Chúa Trời muốn dành cho con người chúng ta. Hãy ca ngợi thánh danh của Đấng ấy!