Thứ Sáu, 31 tháng 12, 2021

Chúa Giêsu Christ, Chồi (Nhánh) -2-

Xa-cha-ri 3: 8, "Hỡi Giê-hô-sua, thầy tế-lễ cả, ngươi cùng bạn-hữu ngươi ngồi trước mặt ngươi hãy nghe, vì những kẻ nầy làm dấu: Nầy, quả thật Ta sẽ làm cho đầy-tớ ta, là Chồi dấy lên".

--Chồi là một người Đầy tớ-
Nhánh (chồi) được công bố là đầy tớ trong Xa-cha-ri 3: 8b. Văn bản này có nội dung:
"Nầy, quả thật Ta sẽ làm cho đầy-tớ ta, là Chồi dấy lên" Qua tiên tri Ê-sai, dân Y-sơ-ra-ên được gọi là “đầy tớ của Chúa” (Ê-sai 41: 8; 43:10; 44:1, 21; 48:20). Tuy nhiên, Israel đã thất bại với tư cách là một kẻ đầy tớ. Vì vậy, Chúa công bố tôi tớ của Ngài (Ê-sai 42:1.19; 44: 26; 49:3.5.6.7; 52.13; 53.11), là Đấng mà Ngài sẽ tự tôn vinh mình.
Mác mô tả Chúa Jêsus là một tôi tớ / nô lệ/ tiên tri. Phúc âm của ông không đề cập đến gia phả của Chúa Giê-xu người Na-xa-rét; vì không quan trọng để đề cập đến tổ tiên của người tôi tớ. Chúng ta không tìm thấy bất kỳ ghi chép gia phả nào về các tôi tớ của các nhà tiên tri trong Cựu ước. Trong nhiều trường hợp, tên của cha họ thậm chí còn bị bỏ qua. Mác mô tả lần lượt những việc làm của Chúa Jêsus và liên kết các sự kiện lại với nhau bằng từ ngữ “ngay lập tức”, xảy ra hơn 40 lần. Điều đó cho thấy rõ Chúa đã phục vụ nhiệt tình không ngơi nghỉnhư thế nào.
Đặc điểm trong trường hợp này là-- Mác là một đầy tớ rất bất trung (Công vụ 13:13; 15: 37, 38). Tuy nhiên, Đức Chúa Trời đã phục hồi anh ta vì sau này chúng tôi đọc được lời làm chứng rất tích cực từ Phao-lô về anh ta, đó là anh ta có ích cho việc phục vụ (1 Ti-mô-thê 4:11). Thật là một ân sủng cho người đầy tớ này khi viết về Người tôi tớ vĩ đại của Đức Giê-hô-va-- Jesus Christ!
-
Chúa Giêsu Christ, Chồi -3---
Xa-cha-ri 6:12, "Ngươi khá nói cùng người rằng: Đức Giê-hô-va vạn-quân có phán như vầy: Nầy, có một người tên là Chồi (Nhánh), sẽ nứt ra từ chỗ người, và người ấy sẽ xây đền-thờ Đức Giê-hô-va".
--Nhánh là con người-
Về “nhân vật” này, Chúa được công bố trong Xa-cha-ri 6:12. Chúng tôi đọc ở đó: "Đức Giê-hô-va vạn-quân có phán như vầy: Nầy, có một người tên là Chồi (Nhánh), sẽ nứt ra từ chỗ người, và người ấy sẽ xây đền-thờ Đức Giê-hô-va".
Chính Lu-ca là người viết phúc âm với sự nhấn mạnh đến nhân tính của Chúa Giê-xu. Có thể cho rằng Luca cho biết dòng dõi thực sự của Đức Giêsu thành Na-xa-rét qua cha vợ của Giô-sép là -Hê- li trong sổ gia phả của Ngàu (Lu-ca 3). Cái này có một vài nguyên nhân. Gia phả này liên quan đến A-đam, người đầu tiên xuất hiện từ bàn tay của Đức Chúa Trời.
Lu-ca đề cập đến những điều đặc biệt liên quan đến sự ra đời và tuổi trẻ của Chúa mà chúng ta không tìm thấy trong các tác giả khác. Thật kỳ lạ là Đức Chúa Trời đã dùng một bác sĩ như Lu-ca (Cô-lô-se 4:14) để viết Phúc âm, trong đó nhấn mạnh sự kiện Chúa Giê-su, Con Đức Chúa Trời, sinh ra là một người nam và do một người nữ và sau đó cũng từ một người hầu gái, sinh ra.
Chúa Giêsu là một nhân vật xuất phát từ trí tưởng tượng của tác giả này hay tác giả khác, Luca không cho phép qua cách diễn đạt lặp đi lặp lại "và điều đó đã xảy ra". Chúa Giê-xu Christ đã "viết" lịch sử trên trái đất này. Ngài đã sống, và nơi A-đam đầu tiên đã thất bại, Ngài sống hoàn toàn lệ thuộc vào Đức Chúa Trời của mình (lưu ý vị trí của lời cầu nguyện trong phúc âm này) và tôn vinh Đức Chúa Trời-
-
Chúa Giêsu Christ, Chồi-4--
Ê-sai 4: 2; Ê-sai 9: 5; Ê-sai 40: 9
Nhánh là Đức Chúa Trời-
Trong Cựu Ước, chúng ta không bắt gặp một lời tiên tri nào nói trực tiếp rằng Nhánh là Đức Chúa Trời. Tuy nhiên, một câu thánh kinh được sử dụng , đó là Ê-sai 4: 2:
"Trong ngày đó, chồi của Đức Giê-hô-va sẽ làm đồ trang-sức vinh-hiển của những kẻ sót lại trong Y-sơ-ra-ên,"
Theo nghĩa đen, không có gì được viết ở đây về thần tính của Chúa Jêsus. Là Đức Chúa Trời, Ngài là vĩnh cửu và như vậy Ngài không thể được coi là “Nhánh( Chồi)”.
Chẳng hạn, không sử dụng thuật ngữ “Chồi”, vị thần tính của Đấng Mê-si-a được chỉ rõ trong các bản văn sau: Ê-sai 9: 5 và 40: 9. Chính sứ đồ giăng đã mô tả Chúa là Con Đức Chúa Trời, như được thể hiện rõ trong lời của Giăng (Ga 20: 31) và từ nhiều đoạn khác trong Tin Mừng của ông (xem, trong số những đoạn khác: Giăng 1: 1; 5: 17, 18 ; 8: 58; 14 :9).
Trong phúc âm này, chúng ta bỏ sót một sổ đăng ký giới tính; Làm thế nào để một sổ gia phả cũng do Đức Chúa Trời Con ban cho? Do đó, Giăng 1 đã nói thẳng vềlòng của sự vĩnh cửu với những lời hùng vĩ: "Ban đầu có lời và lời ở cùng Đức Chúa Trời và Ngôi Lời là Đức Chúa Trời". Giăng cho chúng ta thấy Đấng Cứu Rỗi là Con Đức Chúa Trời, Đấng đã đến thế giới được tôn lên trên thập tự giá để cho ai tin Ngài được sự sống đời đời.
Nhưng cũng chính Giăng này, trong khi đồng hành với Chúa, muốn để lửa giáng xuống những người dân sa-ma-ri không muốn dâng chỗ trú ẩn cho Đấng Cứu Rỗi. Tuy nhiên, Đức Chúa Trời đã tạo điều kiện cho ông viết phúc âm của Chúa Giêsu Christ, Con Đức Chúa Trời , qua đó “ân điển và sự thật đã đến” (Giăng 1:17).
Chúa Giê-xu Christ là Đấng Mê-si, Tôi tớ, Con người, Con Đức Chúa Trời ... Một lời tiên tri duy nhất sẽ không công bằng với con người của Ngài. Không có đủ phúc âm để mô tả con người của Ngài. Đấng Cứu Rỗi của chúng ta vĩ đại biết bao!

Bài Hát Chiến Thắng - Thi thiên 129-

Thánh vịnh 129: 2, "“Từ khi tôi còn thơ ấu, chúng thường áp bức tôi, Nhưng không thắng tôi được"

Xa-cha-ri 2: 8, "Sau khi bày tỏ vinh quang, Ngài sai Ta đến cùng các nước đã cướp bóc anh em. Vì Đức Giê-hô-va vạn quân phán rằng ai đụng đến anh em tức là đụng đến con ngươi của mắt Ngài"
Thi thiên 2-
Lịch sử của dân tộc Israel là một chuỗi gian khổ và đấu tranh. Nó bắt đầu với sự áp bức ở Ai Cập, khoảng 3500 năm trước ngày hôm nay. Sau khi rời khỏi vùng đất này, kế đó là cuộc chiến trên sa mạc và sau đó là cuộc chiến ở miền đất hứa. Lại có thêm những kẻ thù mới quấy rối tuyển dân. Cuối cùng, cuộc lưu đày đến A-si-ri và Ba-by-lôn. Sau sự hồi hương trở lại của một bộ phận nhỏ người dân, mọi thứ cũng không khả quan hơn.
Vào năm 70 sau Công nguyên, Jerusalem bị tàn phá và người Do Thái tản mác khắp nơi trên thế giới. Năm 1948, nhà nước Israel mới được thành lập, nhưng người dân Israel vẫn còn lo ngại về tương lai.
Và những kẻ thù nầy không có lời cuối cùng. Người viết Thi-thiên 129 tin tưởng những lời hứa của Đức Chúa Trời. Tất cả kẻ thù của Israel cuối cùng sẽ như cỏ trên những mái nhà chỉ có tuổi thọ ngắn ngủi. Bằng cách này, một ngày nào đó, Israel sẽ được cứu chuộc khỏi kẻ thù của mình và trở thành ống dẫn để Đức Chúa Trời ban phước cho cả trái đất.
Đây là một Thi thiên nghiêm trọng dành cho tất cả những ai ghét dân Israel . Bất cứ ai chạm vào Israel là chạm vào con ngươi của con mắt Đức Chúa Trời (Xa. 2: 8--). Đức Chúa Trời cảnh cáo những kẻ thù của dân Ngài trong Thi thiên 2: “Vì vậy hỡi các vua, hãy khôn ngoan! Hỡi các thẩm phán thế giới, hãy nghe lời cảnh báo!Hãy phục vụ Đức Giê-hô-va với lòng kính sợ, Hãy vui mừng với lòng run rẩy.Hãy hôn Con, kẻo Người nổi giận Và các ngươi sẽ bị hủy diệt trong đường lối mình, Vì cơn thịnh nộ của Người sẽ nhanh chóng bùng lên”.
Lời cảnh báo này áp dụng cho bất kỳ ai chưa đến với Đức Chúa Trời. Hãy từ bỏ sự chống đối Đức Chúa Trời và phúc âm của Ngài. Chúa yêu cầu một câu trả lời cho lời đề nghị tình yêu của Ngài trong Chúa Giê-su Christ, Con yêu dấu của Ngài. Hãy "Hôn Con ...", nghĩa là nói "Có" với Chúa để được tha thứ tội lỗi mà Ngài ban cho bạn trong Đấng Christ, Đấng trên thập tự giá cũng đã hiến mạng sống mình vì bạn.

Chúa Giêsu Christ, Cái Chồi -1

 Giê-rê-mi 23: 5, "Đức Giê-hô-va phán: “Nầy, những ngày đến, Ta sẽ dấy lên cho Đa-vít một Nhánh (Chồi) Công Chính; Ngài sẽ cai trị như một vị vua, cư xử khôn ngoan, Thực thi điều công minh chính trực trong xứ"

Trong Cựu Ước, Chúa Giê-xu được loan báo ở nhiều nơi khác nhau như là Chồi hoặc như Nhánh sẽ nảy mầm.
Những lời thông báo tiên tri rất có tính hướng dẫn bởi vì Đấng Cứu Rỗi của chúng ta được báo trước như một "Nhánh" trong các khía cạnh mà bốn sách Phúc Âm mô tả về Ngài.
--Nhánh là vua
Trong Giê-rê-mi 23: 5, chúng ta đọc thông báo này:
“Nầy, những ngày đến, Ta sẽ dấy lên cho Đa-vít một Nhánh Công Chính; Ngài sẽ cai trị như một vị vua, cư xử khôn ngoan, Thực thi điều công minh chính trực trong xứ. Trong đời vua ấy, Giu-đa sẽ được cứu; Y-sơ-ra-ên sẽ sống yên ổn. Danh xưng của Đấng ấy là:Giê-hô-va Đấng Công Chính của chúng ta!’"
Vương quyền của nhà Đa-vít, vốn đã bắt đầu rất đẹp với chính Đa-vít, đã trở thành một khuôn mẫu của sự suy tàn, không chung thủy, bất công, và thậm chí nổi loạn chống lại Đức Chúa Trời. Ngược lại, qua các tiên tri, Chúa báo trước một vị Vua sẽ thực thi công lý và công lý.
Trong tính cách này, Chúa Giê-xu Christ được mô tả qua Ma-thi-ơ. Điều này được thể hiện trực tiếp trong chương 1 của Phúc âm của ông, trong đó gia phả đề cập đến Chúa là "con của David, con của Abraham". Ở đây chúng ta đang giải quyết vấn đề dòng dõi hợp pháp của Chúa, điều này cho phép Ngài có quyền lên ngôi Đa-vít. Trong bài Tin Mừng này, chúng ta cũng bắt gặp câu chuyện về các nhà thông thái từ phương Đông đến để tỏ lòng tôn kính với vị Vua sinh ra của dân Do Thái.
Trong đó, chúng tôi cũng tìm thấy Bài giảng trên núi hoàn chỉnh, có thể được gọi là hiến pháp cơ bản của Vương quốc. Và hơn bất kỳ phúc âm nào khác, phúc âm của Ma-thi-ơ đề cập đến vương quốc sắp đến và sự xuất hiện của nhà Vua trong các bài diễn văn và dụ ngôn.
Thành ngữ “như vậy sẽ được ứng nghiệm” hoặc “đã có sự ứng nghiệm” là đặc điểm của Phúc âm đầu tiên, nhờ đó mà một lời tiên tri trong Cựu ước được trích dẫn. Sau đó, Ma-thi-ơ muốn thuyết phục độc giả của mình rằng Chúa Giê-su người Na-xa-rét là Đấng Mê-si-a đã được hứa. Thật không may, Israel đã từ chối vị vua của mình. Do đó, sự ứng nghiệm đầy đủ của Giê-rê-mi 23: 5 sẽ chỉ diễn ra trong tương lai (xin xem thêm Giê-rê-mi 33:15; Xa-cha-ri 9: 9).
Cũng cần lưu ý rằng Ma-thi-ơ - hay Lê-vi, trước khi gặp Chúa Giê-xu Christ - đã phục vụ cho kẻ thống trị ngoại giáo, hoàng đế của Rô-ma. Vì anh ta là một người thu thuế. Tuy nhiên, Đức Chúa Trời đã phong ông trở thành người kế vị vua chân thật và sử dụng ông để viết phúc âm nhấn mạnh đến vương quyền của Đấng Christ rất nhiều.

Chúa Tư Vấn Cho Các Môn Đệ Của Mình-

Ma-thi-ơ 16: 5-12; Mác 8: 17-21)

1) Các con đang nghĩ về điều gì vì các con không có bánh mì?
Trong điều này, chúng ta thấy phần nào sự thiếu tin cậy Chúa của các sứ đồ.
Chắc hẳn đã có một cuộc thảo luận với một số môn đệ tham gia. Họ tìm kiếm giải pháp trong chính họ, mặc dù Sự Khôn Ngoan được nhân cách hóa hiện diện ở giữa họ. Việc họ không nói chuyện trực tiếp với Chúa cho thấy họ không biết về tình yêu của Ngài. Nếu ai đó thiếu trí tuệ - anh ta có thể cầu xin Chúa cho điều đó (Gia cơ 1,5). Cũng so sánh Luca 24: 45.
2) Các con chưa hiểu
Cho thấy một thiếu sót liên quan đến quan sát của họ trong các sự kiện trước đó.
Động từ được sử dụng ở đây (để “hiểu”) ngụ ý rằng cần phải chú ý nghiêm túc đến các quá trình tương ứng để chúng có thể được ghi nhớ tốt. Ý nghĩa có thể được diễn đạt như sau: Hãy suy nghĩ thấu đáo để hiểu được điều gì đó. Sự bất cẩn và thiếu tập trung ngăn cản nhận thức này và cuối cùng khiến nó không thể thực hiện được. ... Sự tiến bộ thuộc linh không thể được thực hiện thông qua việc tiếp xúc đơn thuần với các công việc của quyền năng và lòng thương xót thần thượng. Các hành động của Chúa phải được xem xét và cân nhắc cẩn thận.
Trong Rô 1: 20 và 2 Tim 2:7 động từ cũng xuất hiện.
3) ... và các ngươi cũng không hiểu sao?
Cho thấy sự thiếu sự suy tư đúng đắn của họ về lời nói và hành động của Chúa.
Sự hiểu biết thuộc linh theo sau nhận thức thuộc linh (điểm 2). Trước tiên, các môn đồ đã mắc sai lầm khi không tiếp thu và lưu giữ những ấn tượng chính xác về vô số hành động quyền năng, sự khôn ngoan và ân điển của Chúa. Sau đó, họ không nghĩ gì thêm về ý nghĩa và sự lặp lại thường xuyên của các công việc của Chúa cũng như về nguồn gốc siêu nhiên của những việc đó.
4) Các ngươi đã cứng lòng sao?
Cho thấy sự thiếu nhạy cảm của họ với những điều thần thượng.
Ở điểm này, họ giống như những người Pha-ri-si (Mác 3: 5). Trong đoạn văn của mình, chúng ta thấy rằng khái niệm này một mặt được kết nối với sự thất bại trong việc nhận thức các chân lý thuộc linh và mặt khác với phép lạ đầu tiên của sự hóa bánh cho dân chúng ăn. Trong bối cảnh này, chúng ta đọc thấy nơi Mác 6: 52 rằng những ổ bánh không làm cho họ hiểu, nhưng làm cho lòng họ cứng lại.
Sự ngạc nhiên của các môn đệ trước sự tĩnh lặng đột ngột trên mặt hồ có thể là do họ không hiểu được phép lạ hóa bánh và tâm hồn họ chậm chạp, vô cảm trong cả hai trường hợp hóa bánh. Điều quan trọng là thấy rằng sự thiếu nhận thức về thuộc linh (điểm 2) là kết quả từ sự tê liệt của trái tim.
5) Các ngươi có mắt và không nhìn thấy sao?
Họ không sử dụng khả năng thuộc linh của mình để hiểu các hành động của Chúa.
Như vậy, đôi mắt của các môn đệ đã có thể nhìn thấy những điều bị che khuất với thế giới. Đó luôn là trường hợp của các tín đồ. Cụ già Si mê ôn nhìn thấy một thứ gì đó thánh thiên, là cậu bé mà ông bế trên tay, còn các thầy tế lễ trong đền thờ không nhìn thấy. Ông đã nhận ra nơi trẻ thơ nầy là Đấng Christ của Chúa, là ơn cứu độ của Chúa (Luca 2: 26, 29). Khi nào con mắt đức tin hoạt động, họ nhận biết điều đó là vô hình và vĩnh cửu (2 Cor. 4:18).
Theo Ê-phê-sô 1:18, đôi mắt này là mắt của trái tim. Họ kết nối với thế giới tình cảm nhiều hơn là tâm trí và gắn bó chặt chẽ với tình cảm bên trong và sự tận tâm. ... Các sứ đồ đã đánh giá thấp chức vụ của Đấng Christ vì họ đã đánh giá thấp chính Đấng Christ. Một môn đồ ngày nay của Chúa có thể nhanh chóng rơi vào lỗi tương tự nếu ánh mắt của anh ta không dành riêng cho Thầy của mình.
6) ... và Các ngươi có tai và không nghe sao?
Họ không sử dụng quan năng thuộc linh của mình để hiểu lời Chúa.
So sánh các đoạn văn sau: 1 Giăng 1: 1–3; Công vụ 22: 14-15; 2. Tim 4: 4; Hê 5:11.
7) Và các ngươi không nhớ sao?
Cho thấy sự thiếu hiểu biết thuộc linh và thể hiện sự lãng quên về hai phép lạ trước đó, đặc biệt là sự thừa thãi của những mẩu bánh còn sót lại, vượt quá những gì cần thiết.
Có những điều mà chúng ta có thể quên một cách an toàn, Phi-líp 3: 13.-- những sự đàng sau.
Tuy nhiên, cũng có những điều chúng ta cần lưu ý, hãy xem Thi Thiên 145: 7.
Ký ức về những con đường Chúa đã đi với chúng ta trong quá khứ cho chúng ta một định hướng cho hiện tại. Khi chúng ta nhớ đến những điều kỳ diệu của những Chúa nuôi dưỡng ngày hôm qua, chúng ta không sợ nạn đói cho ngày hôm nay hay ngày mai.
Trí nhớ sống động và chính xác là một phần lớn của đời sống thuộc linh. Phi-e-rơ nhấn mạnh tầm quan trọng của trí nhớ tích cực về những điều thần thượng, người trong bức thư thứ hai quay lại chủ đề này ở 4 vị trí (1:12, 13:15; 3: 1). Khi khuyên nhủ người khác theo cách này, Phi e rơ nhớ lại kinh nghiệm của chính mình khi nhớ lại những lời cảnh cáo của Chúa khiến ông ta nhớ đến việc mình đã chối Chúa một cách đáng xấu hổ (Math. 26 :75; Lu ca 22: 61).
---Câu hỏi cuối cùng của Chúa (Math 16: 11)-
Câu hỏi này có thể được xem như một dạng tóm tắt của những câu trước. Nó có một giọng điệu khiển trách. Làm sao họ có thể nghĩ rằng Chúa sợ vì họ muốn dùng bánh của những người Pha-ri-si? Chẳng hạn, bạn có cho rằng Chúa, người đã dạy bạn một chương trước đó là đừng lo lắng về việc uống gì hoặc ăn gì, giờ đây chính Ngài lại sợ rằng mình hoặc các môn đồ của mình sẽ bị ép ăn bánh của những người Pha-ri-si và Sa-đu-sê để ăn. ?
Sau những lời này của Chúa, các môn đệ bắt đầu hiểu “Người không nói phải coi chừng men bánh, mà là lời dạy của người Pharisi và người Sa-đu-sê” (Math. 16:12). Các ra-bi của họ đã trộn men vào bánh không men của luật pháp. Điều đó đã được thực hiện bởi truyền thống và pháp lệnh của họ. Bởi vì điều này, bánh mì, giáo lý của họ không thể ăn được đối với con cái của vương quốc.

Thứ Tư, 29 tháng 12, 2021

Chúa Giê-xu rơi nước mắt-

Giăng 11: 35 “Chúa Giêsu đã rơi lệ”

Mathio 26:75, "Phi-e-rơ nhớ lại lời Đức Chúa Jêsus đã nói: “Trước khi gà gáy, ngươi sẽ chối Ta ba lần.” Rồi ông đi ra và khóc lóc đắng cay"
Đây là một trong những câu ngắn nhất, nhưng cũng phong phú nhất trong Kinh Thánh. Chúng tôi muốn chỉ ra hai điều liên quan đến câu này - sự thay đổi trong cách diễn đạt và tính tự phát của quá trình được mô tả.

Khi nói về tiếng khóc của Ma-ri và những người Do Thái (Giăng 11: 31, 33), Đức Thánh Linh [trong văn bản tiếng Hi Lạp cơ bản] sử dụng thành ngữ klaio, luôn được dùng khi muốn biểu hiện nỗi đau một cách to rõ, dễ nghe. Cũng vậy, ông Phi-e-rơ cũng đã khóc lớn tiếng cay đắng trước tòa thượng tế (Math. 26: 75). Mặt khác, nếu người viết muốn bày tỏ sự đau buồn của Chúa đối với hậu quả của tội lỗi và sự cảm thông sâu sắc của Ngài đối với chính họ trong nỗi đau buồn của họ, thì Ngài sử dụng một cách diễn đạt chỉ xuất hiện ở đây trong Tân Ước và chỉ được Chúa sử dụng.

Klaio là từ ngữ có nguồn gốc trực tiếp từ "nước mắt": Ngài "rơi nước mắt". Đó là một tiếng khóc thầm lặng. Ngoài ra, để mô tả nỗi đau của Chúa chúng ta, Ngài sử dụng một dạng động từ được gọi là Ingression Aorist, mô tả việc tạo ra một trạng thái hoặc sự bắt đầu của một hoạt động. Một quá trình vô cùng cảm động đang bày ra trước mắt chúng ta, mà chúng ta có thể diễn tả bằng những lời sau: "Chúa Giê-su đã bật khóc."
Hãy xem xét! Ai đã “bật khóc” trước nỗi đau của chính mình, Đấng Cứu Rỗi này không hề thay đổi, tình yêu hoàn hảo thần thượng của Ngài, mà vẫn có khả năng và sẵn sàng ngày nay cho lòng trắc ẩn giống như khi Ngài còn ở Bê-tha-ni. Đoạn văn thứ hai và cuối cùng thật cảm động biết bao khi chúng ta được biết rằng Chúa Giê-su đã khóc! “Khi đến gần và nhìn thấy thành phố, Người đã khóc vì nó” (Lu-ca 19:41).
Ở đây, cùng một dạng động từ được sử dụng như trên, nhưng từ ngữ đầu tiên (klaio) được sử dụng, vì vậy đây là ý nghĩa của đoạn văn này: "Ngài (có thể nghe thấy) đã bật ra trong nước mắt vì nó." Những giọt nước mắt đó quý biết bao! Đáng quý như những giọt lệ Ngài đã đổ ra, khi “người đau đớn” trước mộ của bạn mình là La-xa-rơ. Chúng cũng đáng quý không kém những giọt nước mắt đột nhiên bật ra tư Chúa khi nhìn thấy Giê-ru-sa-lem, vì Ngài phải nghĩ đến sự phán xét giáng trên những người có trái tim cứng rắn hơn. như những con đường của thành phố thân yêu.

BA SẮC DÂN SAU NƯỚC LỤT-

Theo sáng thế ký 5:32, ba con của Nô ê được sinh ra theo thứ tự. Nhưng Sáng 10, gia phả ghi Gia phết dành đứng đầu, kế đó là Cham và anh cả Sem đứng cuối cùng.

Kết quả của lịch sử này là thế giới được tạo ra bởi các gia đình. Thời trang của thế giới này đã xóa sạch ký ức và nhận thức về điều này, nhưng không xóa mờ sức mạnh. Nó bắt nguồn từ sự phán xét của Đức Chúa Trời, và khi lực lượng có được của thế giới này trở nên yếu đi, sẽ ngày càng rõ ràng hơn, như bây giờ nó thực sự hoạt động lại. Các đầu nguồn suối nhân loại có ba cái, lần đầu tiên được đặt tên theo thứ tự là Sem, Cham, và Gia-phết: --đầu tiên là gia đình mà giao ước được thiết lập trên đất, và là nơi có mối quan hệ với Đức Chúa Trời; sau đó là kẻ thù nghịch với gia đình của Đức Chúa Trời; và cuối cùng, là Sem mặc dù lớn tuổi nhất và đáng tự hào nhất,
--Người ngoại bang Gia phết.
Trong chi tiết trong sáng thế ký 10, Gia phết được đưa ra đầu tiên. Các hòn đảo của dân ngoại nói chung, tức là những quốc gia mà chúng ta quen thuộc, và phần lớn vùng Bắc Á, đã được con cháu của ông ta soi mói. Nhưng những câu hỏi lớn về đạo đức, và sức mạnh của cái thiện và cái ác trên thế giới, đã nảy sinh ở nơi khác, và cái ác bây giờ hiện diện, vì đó là thời của con người) trước cái tốt).
-- Cham
Phương Đông, như chúng ta gọi, Palestine, ở phía dưới sông Ơ-phơ rát, Ai Cập, v..v.., nằm trong tay Cham. Quyền lực đầu tiên được thiết lập bởi ý chí của một người- Nim-rốt. Một thợ săn hùng mạnh - vũ lực và thủ công - làm việc để đưa người chưa thuần hóa, cũng như dã thú, phục dưới ách của anh ta. Và các thành phố phát sinh; nhưng Ba-bên là nơi khởi đầu vương quốc của anh; có những thành phố khác nữa. Anh ấy đã ra ngoài và xây dựng, hoặc chinh phục tất cả. Sau đó đến người Ai Cập nổi tiếng, Mích-ra-im. Một nhánh khác của gia đình Cham này được đánh dấu là hình thành các chủng tộc để sở hữu cơ nghiệp mà Đức Chúa Trời đã định dành cho dân Ngài. Vì con cháu của ca-na-an, 10 con, đã chiếm trước đất Palestine, đất hứa của Israel về sau.
--Sem:
Sem đến sau cùng, cha của dân Hê-bơ-rơ, người anh của hai em anh ta> Người của dòng Cham đã khinh thường anh ta từ lâu, như đáng được sở hữu bởi danh hiệu của một người anh cả. Đó là kết quả chung trong việc hình thành thế giới dưới sự sắp đặt của Đức Chúa Trời.
Con đường là thế này. Con người tìm cách làm trung tâm cho chính mình. A-đam, sống trên đất, hẳn là như vậy, và mối liên kết của ông với Đức Chúa Trời; như Đấng Christ sẽ ở sau này, và đã từng ở trong ý định của Đức Chúa Trời, vì A-đam là hình ảnh của Đấng Christ sẽ đến. Nhưng ý chí không có gì khác ngoài chính nó. Nô-ê, người mà lẽ ra sẽ có ảnh hưởng công bằng, không có chỗ đứng trong toàn bộ lịch sử (sau sự thờ phượng của ông). Ông đã đánh mất địa vị thẩm quyền do sa vào tội lỗi, mất khả năng tự kiềm chế. Ý chí đặc trưng cho tất cả bây giờ; nhưng trong muôn vàn ý chí, tất cả đều bất lực làm trung tâm, thì có thể làm được gì?
Một trung tâm và lợi ích chung được tìm kiếm sự độc lập và dành riêng cho Đức Chúa Trời. Họ đã dẫy đầy trái đất; nhưng tản lạc trong yên tĩnh thanh bình, không quan trọng gì. Họ phải lấy một cái tên tuổi cho mình để làm trung tâm. Và Đức Chúa Trời phân tán các quốc gia bằng cách phán xét những gì sẽ không làm cho trái đất được hòa bình bởi các gia đình. Tiếng nói và quốc gia phải được thêm vào các gia đình, để chỉ định những người đàn ông trên trái đất. Nơi bị phán xét trở thành nơi ngự trị của ý chí nghị lực của một người — của thế lực bội đạo. Khởi đầu vương quốc của Nim-rốt là Ba-bên. Tiếng nói là một sự kiềm chế, và một chiếc dây sắt bao quanh những người đàn ông.
Trong Sem, lịch sử tac động của Đức Chúa Trời bắt đầu. Ngài là Đức Giê-hô-va, Đức Chúa Trời của Sem. Chúng ta có ngày tháng và thời đại, vì sau tất cả, Đức Chúa Trời cai quản, và thế giới phải tuân theo: con người thuộc về Đức Chúa Trời. Tuổi của những người khác chắc chắn đã bị rút ngắn ngoài những người có tên ở đây: ở đây chúng tôi biết khi nào họ sống và chết. Và khi trái đất bị chia cắt, vì cuối cùng Đức Chúa Trời đã định đoạt nó, những năm tháng loài người mất đi một nửa những gì họ vốn có, như họ đã làm ngay sau trận lụt.
Nhưng trong lịch sử đã cho biết, dân của Đức Chúa Trời đã từng là trung tâm. Điều này đến với Áp-ra-ham. Và ở đây một lần nữa, một yếu tố mới của tội ác đã trở nên phổ biến, ít nhất là trên thực tế - thờ hình tượng (Giô-suê 24: 2), mặc dù cho đến nay nó vẫn chưa phải là chủ đề. Đó là con người trên thế giới; và trong Sem, sự ra lệnh quan phòng bí mật của mọi thứ bởi Chúa. Tuy nhiên, nó đã kết thúc trong sức mạnh của cái ác, ngay cả trong gia đình của Sem.
Chúng ta đã thấy sự gian ác và bạo lực của con người, sự phản nghịch của anh ta chống lại Đức Chúa Trời, và thủ đoạn của Sa-tan là đưa anh ta vào tình trạng này. Nhưng ở đây, một bước tiến dài đã được thực hiện, một tình trạng đáng kinh ngạc của sự dữ xuất hiện tại hiện trường. Sa-tan đẩy mình vào tâm trí con người, vào vị trí quyền lực và nắm bắt ý tưởng về Đức Chúa Trời trong tâm trí con người, đặt con người ở giữa Đức Chúa Trời và hắn, để loài người tôn thờ ma quỷ như tĐức Chúa Trời.
Khi nó bắt đầu, thánh kinh không nói; nhưng đoạn trích dẫn chứng rằng nó đã làm ô nhiễm ngay cả gia đình của Sem, trong đó phần kinh thánh cũng được coi là gia phả của các hành động Đức Chúa Trời trên trái đất vào thời điểm chúng ta đến. Cá nhân có thể ngoan đạo; nhưng theo mọi nghĩa, mối liên kết của thế giới với Chúa đã không còn. Họ đã từ bỏ chính mình, phó mình, ngay cả trong gia đình có mối quan hệ như một chủng tộc với Đức Chúa Trời, cho sự thờ phượng và quyền lực của Sa-tan. Thật là một câu chuyện kể về con người! Thật là một câu chuyện về sự kiên nhẫn của Đức Chúa Trời!
Do đó, ở đây chúng ta thay đổi hoàn toàn toàn bộ hệ thống và trật tự của tư tưởng; và một nguyên tắc, được thực hiện một cách chắc chắn ngay từ đầu về sự cứu rỗi cá nhân, nhưng không được thể hiện theo thứ tự của sự vật, tự nó tuyên bố, và trở thành bằng chứng trong lịch sử trái đất. Áp-ra-ham được gọi, được chọn, và được đích thân làm người lưu giữ những lời hứa. Nhưng hãy lưu ý rằng ở đây, để nguyên tắc vĩ đại này có thể được bảo tồn trong sự tinh khiết của chính nó như một hành động của Đức Chúa Trời, thì cơ hội được đưa ra trong thực tế mà chúng ta đã đề cập không được đề cập đến. Chúng ta tìm thấy điều đó trong Giô-suê 24. Sau khi phán xét, Đức Chúa Trời hiện ra trong ân điển tối cao để có một gia đình của riêng Ngài bằng sự kêu gọi của ân điển — một nguyên tắc bao la vô cùng.--

Đứng Lên, Vì Đêm Sẽ Đến-

2 Các Vua 7: 9; Ê-xê-chi-ên 3:18:19; Xuất hành 4:10; Ê-sai 50: 4,5; Công vụ 18:9; Lu-ca 12:11
Chúng ta hãy tự nhắc mình một lần nữa rằng mục tiêu đã nêu của Sa-tan là chúng ta phải im lặng - cá nhân và tập thể. Cách thức và phương tiện mà hắn cố gắng đạt được mục tiêu này khác nhau tùy thuộc vào việc hắn đang đóng vai một thiên thần ánh sáng hay một con sư tử gầm thét. Chúng ta hãy tự kiểm tra mình trong lời cầu nguyện trước mặt Đức Chúa Trời xem đây là trường hợp của chúng ta ở mức độ nào. Chúng ta không thể trốn tránh trách nhiệm ở đây.
“Bấy giờ, họ bèn nói với nhau rằng: Chúng ta làm chẳng phải; ngày nay là ngày có tin lành, và chúng ta nín-lặng sao! Nếu chúng ta đợi đến rạng đông, thì sự hình-phạt chắc sẽ lâm vào chúng ta.”(2 Các Vua 7: 9).
“Khi ta nói với kẻ dữ rằng: Mầy chắc sẽ chết! — nếu ngươi không răn-bảo nó, không nói với nó đặng khuyên nó từ-bỏ đường xấu để cứu mạng mình, thì người dữ đó sẽ chết trong tội-lỗi nó; nhưng ta sẽ đòi huyết nó nơi tay ngươi. Trái lại, nếu ngươi răn-bảo kẻ dữ, mà nó không từ-bỏ sự dữ cùng đường xấu mình, thì nó sẽ chết trong tội-lỗi nó; còn ngươi, thì giải-cứu được linh-hồn mình.”(Êx 3:18, 19).
Với đầy đủ tinh thần trách nhiệm, chúng tôi cũng muốn lấy dũng cảm. Chắc chắn là điều tốt nếu chúng ta ý thức được sự yếu đuối, bất lực và kém cỏi của chính mình và cầu nguyện điều này với Đức Chúa Trời. Nhưng chúng ta không được sử dụng điều đó như một cái cớ bào chữa không làm trách nhiệm.
“Môi-se thưa cùng Đức Giê-hô-va rằng: Ôi! lạy Chúa, từ hôm qua, hôm kia, hay là từ lúc Chúa phán dạy kẻ tôi-tớ Chúa, tôi vẫn chẳng phải một tay nói giỏi, vì miệng và lưỡi tôi hay ngập-ngừng"(Xuất hành 4:10).
Nhưng những lời hứa của Đức Chúa Trời ngày nay cũng vậy:
“Đức Giê-hô-va bèn phán rằng: Ai tạo miệng loài người ra? hay là ai đã làm câm, làm điếc, làm sáng, làm mờ? Có phải ta là Đức Giê-hô-va chăng? ”(Xuất 4:11).
“Khi người ta đem các ngươi đến nhà hội, trước mặt quan án và quan cai-trị, thì chớ lo về nói cách nào để binh-vực mình, hoặc nói lời gì; 1bởi vì chính giờ đó Đức Thánh-Linh sẽ dạy các ngươi những lời phải nói”(Lu-ca 12:11).
Tất nhiên, điều đó không có nghĩa là chúng ta chống nạnh và chờ đợi Chúa ban cho chúng ta những suy nghĩ của Ngài trong giấc ngủ. Nỗ lực của người đầy tớ sẽ luôn luôn là tìm kiếm sự thông công của anh ta trong việc cầu nguyện và học lời Chúa. Chúng ta cũng cần có tâm linh lệ thuộc vào Đức Chúa Trời. Chúng ta hãy ghi nhớ những lời từ Ê-sai 50: 4, 5, vì lời nầy áp dụng đặc biệt cho gương của chúng ta, là Chúa Giê-su:
"Chúa Giê-hô-va đã ban cho ta cái lưỡi của người được dạy-dỗ, hầu cho ta biết dùng lời nói nâng-đỡ kẻ mệt-mỏi. Ngài đánh thức ta mỗi buổi sớm mai, đánh thức tai ta để nghe lời Ngài dạy, như học-trò vậy. Thật, Chúa Giê-hô-va đã mở tai ta, ta không trái-nghịch, cũng không giựt-lùi”(Ê-sai 50: 4, 5).
Miệng lưỡi thánh hiến cũng thuộc về đời sống thánh hiến! Nhưng rồi chúng ta cũng có thể trông cậy vào công việc của Đức Thánh Linh, Đấng sẽ đặt sự khôn ngoan và những lời đúng đắn vào miệng chúng ta. Chúng ta có sẵn sàng tin cậy Đức Chúa Trời nhiều hơn về mặt này không? Ngài rất muốn cho chúng tôi biết rằng Ngài thành tín và đúng đắn với lời của mình phán! Môi-se có thể chắc chắn rằng Chúa sẽ ở với ông: "... vì ta sẽ ở với ngươi" (Xuất 3:12). Giô-suê và Ghê-đê-ôn cùng với vô số tôi tớ của Đức Chúa Trời đã nhận được cùng một lời hứa:
“Ta sẽ ở cùng ngươi như ta đã ở cùng Môi-se; ta sẽ không lìa ngươi, không bỏ ngươi đâu. Hãy vững lòng bền chí … vì Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi vẫn ở cùng ngươi trong mọi nơi ngươi đi”(Giô-suê 1: 5, 6, 9; Hê-bơ-rơ 13: 5, 6; Quan 6: 14, 16).
Anh chị em thân yêu! Chúng ta cần nhiều hơn nữa những người, với trái tim cháy bỏng và không phân tâm, tích cực làm chứng trước thế giới về thông điệp tuyệt vời mà Đức Chúa Trời đã ban cho chúng ta. Chúng ta phải làm điều này bao lâu nữa? Bạn có tham gia không? Những điều sau đây được áp dụng nhiều hơn bao giờ hết:
"Chúa phán cùng Phao-lô trong sự hiện-thấy rằng: Đừng sợ chi; song hãy nói và chớ làm thinh; Ta ở cùng ngươi" (Công vụ 18: 9)

Những Người Tức Giận-

Sáng thế ký 4:4-6 " Đức Giê-hô-va đoái xem A-bên và nhận lễ-vật của người; nhưng chẳng đoái đến Ca-in và cũng chẳng nhận lễ-vật của người; cho nên Ca-in giận lắm mà gằm nét mặt. Đức Giê-hô-va phán hỏi Ca-in rằng: Cớ sao ngươi giận, và cớ sao nét mặt ngươi gằm xuống?"

Lu-ca 15: 28, "Con cả liền nổi giận, không muốn vào nhà. Vậy cha nó ra khuyên nó vào"
2 Các Vua 5:12, "A-ba-na và Bạt-ba, hai sông ở Đa-mách, há chẳng tốt hơn các nước trong Y-sơ-ra-ên sao? Ta há chẳng tắm đó cho được sạch hay sao? Vậy, người trở đi và giận-dữ"
Sinh của A-bên đã được Chúa chấp nhận, nhưng lễ vật của Ca-in thì không. Khi thấy điều này, Ca-in đã rất tức giận và cúi gằm mặt (Sáng thế ký 4: 4). Không có lý do gì cho điều đó. Bởi vì bằng cách chấp nhận sinh tế đẫm máu, anh ta đã được chỉ dẫn cho “con đường cứu rỗi”, và bây giờ anh ta có thể chà đạp nó. Mặc dù Ca-in tức giận, nhưng Đức Chúa Trời đã nói với ông để giúp ông (Sáng 4: 6–7). Ca-in không quan tâm lời chúa phán dạy và trở thành kẻ sát nhân.
"Đứa con trai hoang đàng" đã được đón nhận với ân điển. Trong nhà có niềm vui lớn. Chỉ có người anh của người trở về mới tức giận (Lu-ca 15:28). Không có lý do gì cho điều đó, vì ân điển của Chúa Cha cũng dành cho anh ta. Dù anh ta rất tức giận nhưng cha anh đã nói chuyện ân cần với anh và giải bày ân điển của Người. Tuy nhiên, cậu con trai lớn dường như không đáp lại những lời tử tế này.
Na-a-man, một người phung, đã xuất hiện với tiên tri Ê-li-sê với sự phấn khích tột độ. Tuy nhiên, Ê-li-sê thậm chí không ra khỏi cửa mà chỉ cho ông biết rằng ông nên tắm ở sông Giô-đanh để được chữa lành. Thủ lĩnh quân đội Na-a-man cảm thấy mình không được quan tâm đầy đủ và trở nên tức giận (2 Các Vua 5:12). Không có lý do gì cho điều đó, vì con đường chữa bệnh đã được chỉ cho anh ta bởi ân điển. Mặc dù ông rất tức giận, các tôi tớ của ông vẫn vui lòng yêu cầu ông dấn thân vào sông Giô-đanh (2 Các Vua 5:13). Và thực sự! Na-a-man lặn hụp bảy lần trong sông Giô-đanh và được thanh tẩy.
Đức Chúa Trời cũng nói với những người đã tức giận về ân điển của Ngài - và do đó cung cấp cho họ bằng chứng mới về việc ân điển của Ngài vĩ đại đến mức nào. Bạn sẽ phản ứng thế nào với điều đó? Giống như Ca-in và người anh cả tự cho mình là đúng? Hay như Na-a-man?

Thắp Sáng Bóng Tối.

Đa ni ên 9:17 Vậy, bây giờ, lạy Đức Chúa Trời chúng con, xin nghe lời cầu nguyện của tôi tớ Chúa và những lời khẩn cầu của người, và làm cho khuôn mặt của Chúa sáng lên trên nơi thánh đang hoang vắng của Chúa,".

Ôi Chúa ơi, hãy làm cho khuôn mặt của Ngài sáng lên trên ngôi đền hoang vắng. Chắc chắn chúng ta cũng như Đa-ni-ên có thể kêu cầu Chúa lời cầu nguyện này. Nơi tôn nghiêm nằm trong bóng tối và đổ nát khi Đa-ni-ên cầu nguyện lời cầu nguyện này. Nó bị bỏ rơi và bị Chúa từ bỏ và chỉ có ánh sáng từ khuôn mặt của Chúa toàn năng mới có thể xuyên qua và phá tan bóng tối .
Chúng ta cũng vậy, trong thời đại của chúng ta, thấy mình khác xa nơi mà Chúa muốn chúng ta trở thành. Một nơi hiệp nhất giữa Thân thể của Đấng Christ. Một nơi của quyền lực và tình yêu. Ba-by-lôn đã chiếm lấy chúng ta ngày nay chắc chắn như đã chiếm lấy người Y-sơ-ra-ên ngày xưa. Tuy nhiên, chúng ta lao động dưới sự thiệt thòi lớn khi không biết mình đã bị bắt lưu dày.
Chúa Giê-xu nói trong Giăng 17:24 “Lạy Cha, con ước ao rằng những người Cha đã ban cho con cũng được ở với con nơi con ở, hầu cho họ được chiêm ngưỡng sự vinh hiển của Cha.” Ở nơi vinh quang này, có ánh sáng vô lượng ngự trị. Đó là ánh sáng từ khuôn mặt của chính Đức Chúa Trời. Ánh sáng này, vinh quang này lấp đầy ngôi đền thờ. Chúng ta với tư cách là một dân tộc là một thánh địa nằm trong đống đổ nát. Chúng ta sống thoải mái ở Ba-by-lôn. Chúng tôi được ru ngủ bởi bài hát ru của Sa-tan.
Ôi Chúa ơi, vì lợi ích của chính Chúa, hãy khiến cho Khuôn mặt của Chúa tỏa sáng trên chúng con, đến nỗi chúng con sẽ phản chiếu vinh quang của Chúa vào một thế giới tối tăm và chết chóc. Làm thế nào khác mà những người của bóng tối thậm chí sẽ biết rằng có một ánh sáng như vậy? Hãy để họ ngước mắt về phía bầu trời đêm và thấy rằng nó tuyên bố vinh quang của Ngài, hãy để họ nhìn vào một dân tộc ánh sáng có vẻ mặt phản ánh vinh quang của Chúa

KHÔNG XÉT THEO BỀ NGOÀI-

“Không phải xét theo vẻ bề ngoài, nhưng hãy xét theo sự công bình.” (Giăng 7:24)
Một trong những điểm yếu sâu xa nhất của con người sa ngã là khuynh hướng cố chấp đánh giá theo vẻ bề ngoài. Chúng ta đánh giá một người theo vẻ bề ngoài. Chúng ta đánh giá một chiếc xe đã qua sử dụng qua hình thể của nó. Chúng ta đánh giá một cuốn sách qua bìa của nó. Cho dù chúng ta có thường xuyên thất vọng và vỡ mộng như thế nào đi chăng nữa, chúng ta vẫn ngoan cố từ chối học biết rằng “tất cả không phải là vàng lấp lánh”.
Trong cuốn sách "Hide or Seek" (Giấu Và Tìm" của mình, Tiến sĩ James Dobson nói rằng vẻ đẹp hình thể là thuộc tính cá nhân được đánh giá cao nhất trong nền văn hóa của chúng ta. Chúng ta đã biến nó thành thứ mà ông ấy gọi là “đồng tiền vàng của giá trị con người”. Như vậy một đứa trẻ xinh đẹp được người lớn ưu ái hơn một đứa trẻ thô sơ. Giáo viên có xu hướng cho điểm tốt hơn đối với những đứa trẻ hấp dẫn. Những đứa trẻ khá bị kỷ luật ít hơn những đứa trẻ khác. Trẻ em thuần túy thường bị đổ lỗi nhiều hơn cho các tội nhẹ.
Sa-mu-ên lẽ ra đã chọn Ê-li-áp cao ráo, đẹp trai làm vua (1 Sa-mu-ên 16: 7), nhưng Chúa đã sửa ông ta rằng: “Đừng nhìn vào sắc mặt hay chiều cao tầm vóc của anh ta; bởi vì Ta đã từ chối anh ta: vì Chúa không thấy như người ta thấy; vì loài người coi theo bề ngoài, nhưng Chúa nhìn thấy trong lòng”.
Trường hợp phán đoán sai lầm lớn nhất trong lịch sử xảy ra khi Chúa Jêsus đến thăm hành tinh của chúng ta. Rõ ràng là Ngài không sở hữu trước về ngoại hình. Ngài không có hình thức hay sự hài hòa, và khi loài người nhìn thấy Ngài, họ không thấy có vẻ đẹp nào mà họ phải ao ước Ngài (Ê-sai 53: 2). Họ không thể nhìn thấy vẻ đẹp nào ở Người duy nhất đẹp đẽ nhất đã từng sống!
Tuy nhiên, chính Ngài chưa bao giờ rơi vào cái bẫy khủng khiếp của việc xét đoán theo vẻ bề ngoài, vì trước khi Ngài xuất hiện, người ta đã nói tiên tri về Ngài rằng: “Ngài sẽ không xét xử theo mắt thấy,
Cũng chẳng phán quyết theo tai nghe” (Ê-sai. 11: 3). Đối với Ngài, đó không phải là khuôn mặt mà là tính cách. Không phải bìa sách mà là nội dung cuốn sách. Không phải vật chất mà là thuộc linh.

BỆNH CHẠY THEO THÀNH TÍCH-

Đức Giê-hô-va phán với Ghi-đê-ôn: “Số người đi theo con đông quá ...” (Các Quan Xét 7: 2)
Mọi người trong chúng ta đều có một mong muốn tinh tế đối với các con số và có xu hướng đánh giá sự thành công bằng các số liệu thống kê. Có một mức lượng trách móc liên quan đến các nhóm nhỏ trong khi đám đông lớn chỉ huy sự chú ý và tôn trọng của quần chúng. Thái độ của chúng ta trong lĩnh vực này nên như thế nào?
Không nên khinh thường những con số lớn nếu chúng là kết quả của công việc của Đức Thánh Linh. Đây là trường hợp vào Lễ Ngũ Tuần khi khoảng 3.000 hồn người được cuốn vào vương quốc của Đức Chúa Trời.
Chúng ta nên vui mừng với số lượng lớn khi chúng có nghĩa là vinh quang cho Đức Chúa Trời và phước hạnh cho nhân loại. Chúng ta chỉ mong mỏi được nhìn thấy nhiều người cất cao tâm hồn và cất tiếng ca ngợi Đức Chúa Trời, và vươn ra thế giới với sứ điệp cứu chuộc.
Mặt khác, số lượng lớn là xấu nếu chúng dẫn đến sự kiêu ngạo. Đức Chúa Trời phải giảm bớt quân đội của Ghê-đê-ôn để cho dân Y-sơ-ra-ên không thể nói: “Chính tay tôi đã cứu tôi” (Các Quan Xét 7: 2). E. Stanley Jones đã từng nói rằng ông ghê tởm “sự tranh giành số lượng, dẫn đến chủ nghĩa ích kỷ tập thể”.
Số lượng lớn là xấu nếu chúng dẫn đến sự phụ thuộc vào sức mạnh của con người hơn là vào Chúa. Đây có lẽ là rắc rối với cuộc điều tra dân số của Đa-vít (2 Sa-mu-ên 24: 2-4). Giô-áp cảm thấy động cơ của nhà vua không trong sáng và ông phản đối - nhưng vô ích.
Số lượng lớn là điều không mong muốn nếu, để đạt được chúng, chúng ta hạ thấp tiêu chuẩn, vi phạm các nguyên tắc Kinh thánh, hạ thấp thông điệp hoặc không thực hiện kỷ luật của Đức Chúa Trời. Luôn luôn có sự cám dỗ để làm điều này nếu tâm trí của chúng ta tập trung vào đám đông hơn là vào Chúa.
Số lượng lớn ít hơn mức lý tưởng nếu chúng dẫn đến sự mất mát mối quan hệ thông công thân thiết. Khi các cá nhân lạc vào đám đông, khi họ có thể vắng mặt và không thể bỏ lỡ, khi không ai chia sẻ niềm vui và nỗi buồn của họ, thì toàn bộ khái niệm về cuộc sống Thân Thể Đấng christ bị bỏ rơi.
Số lượng lớn là không tốt nếu chúng kìm hãm sự phát triển năng khiếu trong Thân Thể. Việc Chúa Giê-su chọn 12 môn đồ không phải là không có ý nghĩa. Một đám đông khổng lồ sẽ rất khó điều dụng.
Quy tắc chung của Đức Chúa Trời đã hoạt động thông qua một lời chứng còn sót lại. Ngài không bị thu hút bởi đám đông lớn hoặc bị đẩy lùi bởi những người nhỏ. Chúng ta không nên khoe khoang về số đông, nhưng cũng không nên bằng lòng với số ít nếu chúng là kết quả của sự lười biếng và thờ ơ của chính chúng ta.

Thứ Hai, 27 tháng 12, 2021

Hai Ngày Trong Lời Tiên Tri :

GIỚI THIỆU

Chủ đề này được thiết lập dựa trên câu thánh thư: “Nhưng hỡi người yêu dấu, đừng biết điều này, rằng một ngày ở với Chúa là một ngàn năm, và một ngày là một ngàn năm” (2Phi-e-rơ 3: 8; Thi-thiên 90: 4 ). Những câu thánh thư này tuyên bố rằng một ngàn năm đối với loài người trên đất cũng giống như một ngày ở với Chúa. Sự thật này sẽ được chứng minh bằng một số ví dụ đáng kinh ngạc.
-TUẦN LỄ SÁNG TẠO-
Những ngày theo nghĩa đen - “Vì trong sáu ngày, CHÚA đã dựng nên trời đất, biển cả, và tất cả những gì ở trong đó, và nghỉ ngơi vào ngày thứ bảy: vì vậy, CHÚA đã ban phước cho ngày sa-bát, và thánh hóa ngày đó” (Xuất 20:11). "Sáu ngày" của sự sáng tạo là ngày hai mươi bốn giờ với buổi tối và buổi sáng (Sáng thế ký 1: 5).
Một sự tương đồng với toàn bộ lịch sử thế giới — Rõ ràng là thánh kinh dạy rằng bảy ngày theo nghĩa đen của tuần lễ sáng tạo đại diện cho [tương tự với] bảy nghìn năm toàn bộ thời gian của trái đất.
Khoảng thời gian trước Công nguyên — Theo thánh kinh, có bốn nghìn năm từ khi A-đam được tạo ra cho đến khi Chúa Giê-xu Christ hiện đến lần đầu tiên. (Giám mục Usher và nhiều người khác đã nghiên cứu niên đại học Cựu Ước đồng ý với kết luận này.)
'Ngày nghỉ ngơi' vinh quang cuối cùng — Theo thánh kinh — vào cuối lịch sử trái đất, trước khi trái đất bị thiêu rụi (2 Phi-e-rơ 3:10), Chúa Giê-xu Christ sẽ trị vì trên trái đất này trong “một ngàn năm” (Khải Huyền 20: 1-6). Khoảng thời gian ngàn năm cuối cùng này — được gọi là “ngày của CHÚA” (Ê-sai 2:12), sẽ bắt đầu khi Chúa Giê-su đến “như một Kẻ trộm trong đêm” (1Tê 5: 2). Sẽ kết thúc một ngàn năm sau khi trái đất bị đốt cháy (2 Phi-e-rơ 3:10).
Đức Chúa Trời nghỉ ngơi vào ngày thứ bảy và ngày cuối cùng của tuần lễ sáng tạo (Sáng thế ký 2: 2) và truyền lệnh cho dân Y-sơ-ra-ên giữ “ngày sa-bát” bằng cách nghỉ việc (Xuất 23:12; 31:15). Vào lần tái lâm của Ngài, khi các vương quốc trên thế giới này “trở thành vương quốc của Chúa chúng ta và của Đấng Christ của Ngài” (Khải Huyền 11:15), thì Chúa Giê Su Christ sẽ trị vì trong một ngàn năm (Khải Huyền 20: 4). Nói về thời gian đó, Ê-sai nói, “Và trong ngày đó, sẽ có một chồi của Gie-sê, sẽ đại diện cho một quyền quản trị của dân chúng; Dân ngoại sẽ tìm kiếm nó; và sự còn lại của nó sẽ được vinh hiển ”(Ê-sai 11:10). Chúa Giê Su Christ sẽ mang lại sự yên nghỉ cho trái đất này trong thời trị vì của Ngài với tư cách là “VUA CỦA CÁC VỊ VÀ CHÚA CỦA CÁC CHÚA” (Khải Huyền 19:16)! Ngày thứ bảy của tuần sáng tạo là một ngày tương tự cho khoảng thời gian nghìn năm cuối cùng của trái đất.
Thời đại hiện tại của hội thánh — Nếu giả định — tuần sáng tạo gồm bảy ngày là một bức tranh tiên tri về toàn bộ lịch sử bảy nghìn năm của trái đất, thì thời gian mà chúng ta đang sống, giữa lần hiện đến lần đầu tiên và lần thứ hai của Đấng Christ, sẽ là hai ngàn năm.
--BA LOẠI NGƯỜI
Dưới con mắt của Đức Chúa Trời, hiện nay chỉ có ba loại người trên thế giới: người Do Thái, dân ngoại và hội thánh của Đức Chúa Trời (1Corinthians 10:32). Người Do Thái là con cháu của Áp-ra-ham, Y-sác và Gia-cốp. Họ được gọi là con cái của Israel. Dân ngoại đều là những người ngoại đạo (chưa được cứu) không phải là người Do Thái. Hội thánh của Đức Chúa Trời bao gồm tất cả những người trong số những người Do Thái và Dân ngoại, những người đã được cứu bởi ân điển của Đức Chúa Trời qua đức tin (Ê-phê-sô 2: 8-9). Nghiên cứu này sẽ chỉ ra cách "hai ngày" được sử dụng với ba nhóm này liên quan đến lời tiên tri.
---LỜI TIÊN TRI LIÊN QUAN ĐẾN ISRAEL-
Tình trạng hiện tại của Israel— Quốc gia Israel hiện đã chết về mặt thuộc linh và được Đức Chúa Trời ví như những bộ xương khô nằm trên mặt đất (Ê-xê-chi-ên 37: 1-14). Nhưng dân tộc Israel sẽ không chết mãi mãi! Đức Chúa Trời sẽ khiến họ sống lại, và họ sẽ sống trong mắt Ngài (Ô-sê 6: 2).
Vào lần đầu tiên khi Ngài đến, dân Israel đã từ chối Chúa Giê-xu Christ: “Ngài đến với dân của mình (Israel), nhưng nước của Ngài không đón nhận Ngài” (Giăng 1:12). Khi Chúa Giê-su chết trên thập tự giá vì các tội lỗi của chúng ta, “bức màn của đền thờ được xé ra làm hai từ trên xuống dưới” (Ma-thi-ơ 27: 50-51). Sau đó, tôn giáo của người Do Thái không còn được tuân theo nữa. Bốn mươi năm sau - theo lời tiên tri của Chúa Giê-su, mọi viên đá của đền thờ đều bị ném xuống (Lu-ca 21: 6-- vào năm 70).
Ô-sê cũng nói tiên tri về những điều này, rằng: Vì dân Israel sẽ sống nhiều ngày mà không có vua, không có quan trưởng, không của tế lễ, không có hình tượng, không có ê-phót và không có thê-ra-phim: Về sau sẽ Israel trở lại, tìm kiếm Giê-hô-va, Đức Chúa Trời của họ, và vua Đa-vít; và sẽ kính sợ Đức Giê-hô-va và sự tốt lành của Ngài trong những ngày sau ”(Ô-sê 3: 4-5). Đức Giê-hô-va cũng đã nói tiên tri cho Israel rằng: “Vì ta sẽ đối với Ép-ra-im như sư tử và sư tử con đối với nhà Giu-đa: Ta, kể cả ta, cũng sẽ xé xác và bỏ đi; Tôi sẽ mang đi, và không ai có thể giải cứu anh ta. Ta sẽ đi và trở về chỗ của Ta, cho đến khi họ nhận ra tội lỗi của mình và tìm kiếm mặt Ta; trong cơn hoạn nạn, họ sẽ tìm kiếm Ta sớm ”(Ô-sê 5: 14-15).
Chúa đã trở lại vị trí của mình trên thiên đàng bốn mươi ngày sau khi từ kẻ chết sống lại (Công vụ 1: 1-11). Trong “thời gian Gia-cốp gặp khó khăn” (Giê-rê-mi 30: 7), thời gian họ đau khổ được gọi là “đại nạn” (Ma-thi-ơ 24: 21-29), Israel sẽ tìm kiếm Đức Giê-hô-va, và Ngài sẽ tỏ mình ra cho họ khi họ chạy trốn. vào đồng vắng (Ê-xê-chi-ên 20: 33-38).
Được sống lại sau HAI NGÀY - Israel sẽ nói: “Hãy đến, chúng ta hãy trở về cùng Đức Giê-hô-va: vì Ngài đã xé xác và sẽ chữa lành cho chúng ta; Ngài đã đánh, và Ngài sẽ băng bó chúng ta lại. Sau hai ngày, Ngài sẽ làm cho chúng ta sống lại; trong ngày thứ ba, Ngài sẽ cho chúng ta sống lại, và chúng ta sẽ sống trong mắt Ngài ”(Ô-sê 6: 1-2). Sau “hai ngày” [hai nghìn năm (2 Phiero 3: 8)] Chúa sẽ khiến Israel sống lại. Sau đó, “trong ngày thứ ba” [giai đoạn một ngàn năm thứ ba], Israel sẽ sống trong tầm mắt của Ngài! Kinh thánh xác nhận rằng Chúa Giê-su Christ sẽ trị vì “trong sự phục hồi” (Ma-thi-ơ 19:28) trong “thời kỳ vạn vật thay đổi” (Công vụ 3:21; 1: 6) trong “một ngàn năm” (Khải Huyền 20 :4)!
Triều đại vinh quang của Chúa Giê Su Christ trên đất trong một ngàn năm còn được gọi là “ngày của Chúa Jêsus” (1 Cô-rinh-tô 5: 5; 2 Cô-rinh-tô 1:14) mà “sẽ đến như kẻ trộm trong đêm” (2 Phi-e-rơ 3 : 10). Triều đại ngàn năm sẽ kết thúc sau trận chiến cuối cùng của Đức Chúa Trời với Sa-tan và các môn đồ của hắn. Sau đó, “các tầng trời sẽ qua đi với tiếng ồn lớn, và các nguyên tố sẽ tan chảy với sức nóng kinh khủng, trái đất và các công trình ở đó sẽ bị thiêu rụi” (2 Phi-e-rơ 3:10). Sau đó, “kẻ chết” sẽ bị phán xét khi tất cả họ đứng trước “ngai trắng vĩ đại” (Khải Huyền 20: 11-15).
Israel được, La-xa-rơ làm tiêu biểu— Khi La-xa-rơ bị ốm, các em gái của ông đã sai nói với Chúa Giê-su rằng: “Lạy Chúa, này, người mà Chúa yêu nhất đang bị ốm. Đức Chúa Jêsus nghe vậy, bèn phán rằng: Bệnh này không phải chết, nhưng vì sự vinh hiển của Đức Chúa Trời, hầu cho Con Đức Chúa Trời được tôn vinh nhờ đó ... Khi nghe tin Ngài bị bệnh, Ngài ở lại hai ngày vẫn như cũ. nơi ông ấy đã ở… và sau đó Chúa nói với họ rằng: Người bạn của chúng tôi là La-xa-rơ đã ngủ. nhưng Ta đi, để Ta có thể đánh thức anh ta ra khỏi giấc ngủ. Các môn đồ thưa rằng: Lạy Chúa, nếu nó ngủ, thì nó sẽ làm tốt. Dù Chúa Giê-su nói về cái chết của mình như thế nào, nhưng họ nghĩ rằng Ngài đã nói về việc nghỉ ngơi trong giấc ngủ. Rồi Đức Chúa Jêsus phán rõ ràng với họ rằng: La-xa-rơ đã chết ”(Giăng 11: 1-14).
Bằng cách trì hoãn “hai ngày” trước khi đến làm cho La-xa-rơ sống lại từ cõi chết, Chúa đã thiết lập việc làm cho La-xa-rơ sống lại giống như việc Ngài trì hoãn hai ngàn năm để trở lại trái đất “để làm cho các chi tộc của Gia-cốp sống lại, và khôi phục sự bảo tồn của Israel… ”(Ê-sai 49: 6).
Sự chết của cơ thể ngủ — Khi Chúa Giê-su nói rằng La-xa-rơ “chết thiệt”, thì Ngài biểu thị rằng cơ thể của La-xa-rơ đã chết. Sau sự phục sinh của Đấng Christ, “nhiều thân thể của các thánh đồ đã ngủ yên đã phục sinh” (Ma-thi-ơ 27:52). Khi Ê-tiên chết, “anh ấy [thân thể của anh ấy] đã chìm vào giấc ngủ” (Công vụ 7: 60). Một người chủ nhà hội nào đó thờ phượng và nói với Chúa Giê-su rằng: “Con gái tôi bây giờ đã chết; nhưng hãy đến đặt tay Ngài, thì nó sẽ sống. Đức Chúa Jêsus đã chỗi dậy, đi theo ông ta, và các môn đồ Ngài cũng vậy ”(Ma-thi-ơ 9: 18-19). Khi Đức Chúa Jêsus đến nhà chủ nhà hội có con gái đã chết, “Ngài phán cùng họ rằng: Hãy tránh chỗ cho người hầu gái, chẳng phải chết đâu, mà còn ngủ. Và họ cười nhạo Chúa và khinh bỉ. Nhưng khi dân chúng được đuổi ra, thì Ngài vào, cầm tay nàng, và người hầu gái đứng dậy ”(Ma-thi-ơ 9: 24-25).
Cho dù thể xác của chúng ta “thức hay ngủ”, chúng ta — hồn và tâm linh của chúng ta, “cùng sống với Ngài [Đấng Christ]” (1 Tê. 5: 10). Khi thể xác chết, hồn của những người tin Chúa sẽ được ở với Chúa (2 Cor. 5: 6-8; Phi-líp 1: 20-24), và hồn của những người “không tin” sẽ bị sa hỏa ngục (Lu-ca 16: 22-23) , và sau đó đến hồ lửa (Khải Huyền 21: 8--). Cái gọi là “giấc ngủ của hồn” là một giáo lý sai lầm được giảng dạy bởi giáo hội Cơ đốc Phục lâm, Nhân chứng Giê-hô-va, Christadelphians và những người khác
--LỜI TIÊN TRI LIÊN QUAN ĐẾN HỘI THÁNH=
Hội thánh Tân ước được người chủ quán làm tiêu biểu bởi— Trong dụ ngôn về người Sa-ma-ri nhân hậu (Lu-ca 10: 30-37), người đàn ông sa vào tay những tên trộm, và đã sống dở chết dở, đã không nhận được bất kỳ sự giúp đỡ nào từ “thầy tế lễ” hoặc “người lê-vi”, cả hai ví dụ về những kẻ đạo đức giả. Người Sa-ma-ri-- trong dụ ngôn này là một sự tương đồng với Chúa Giê Su Christ, Đấng Cứu Rỗi nhân ái của chúng ta. và đặt nạn nhân trên con thú riêng của mình, và mang anh đến một quán trọ, và chăm sóc nó. Và vào ngày hôm sau, khi khởi hành, Ngài lấy ra hai đồng đưa cho chủ nhà và nói rằng: Hãy chăm sóc nó; còn ngươi chi nhiều hơn nữa, khi ta trở lại, ta sẽ trả lại ngươi ”(Lu-ca 10: 33-35).
Trong câu chuyện ngụ ngôn về những người làm công trong vườn nho, cũng là một câu chuyện ngụ ngôn về sự phục vụ của Cơ đốc nhân trong thời kỳ hội thánh. “chủ nhà”, người đại diện cho Chúa, “đã đồng ý với những người làm thuê cho một dồng mỗi ngày” (Ma-thi-ơ 20: 1- 2). Khi so sánh hai dụ ngôn này, chúng ta thấy rằng “hai dồng” (Lu-ca 10:35) bằng tiền công của hai ngày! Hai ngày nay tiêu biểu 2000 năm trong lịch sử Hội tah1nh Tân ước, mà nay gần chấm dứt rồ

LỜI TIÊN TRI LIÊN QUAN ĐẾN CÁC DÂN NGOẠI-
Dân ngoại được người Sa-ma-ri làm tiêu biểu “Đức Chúa Trời” hiện ra lệnh cho tất cả mọi người phải ăn năn ở mọi nơi: Bởi vì Ngài đã chỉ định một ngày, trong đó Ngài sẽ xét xử thế giới trong sự công bình bởi Người mà Ngài đã chỉ định; về điều đó, Ngài đã bảo đảm cho mọi người, về việc Ngài đã khiến người ấy từ kẻ chết sống lại ”(Công 17: 30-31).
Đức Thánh Linh hiện đang ở trong thế giới để khiển trách thế giới tội lỗi (Giăng 16: 7-11) và kêu gọi loài người bằng phúc âm (2 Tê- 2:14; Công vụ 15:14). Khi người phụ nữ Sa-ma-ri tin Chúa Giê-su sau khi Ngài nói chuyện với cô ấy ở giếng Gia-cốp, cô ấy đã đi vào thành phố của mình và dẫn ra nhiều người khác cũng tin Ngài. Khi họ đến gặp Ngài, họ yêu cầu Ngài ở lại với họ một lúc, “Ngài ở đó hai ngày” (Giăng 4:40)!
Hai ngày này là một sự tương đồng với thời đại hai nghìn năm của giáo hội. Hiện nay chúng ta đang sống trong “những ngày sau cùng” (2Tim-mô-thê 3: 1; 2 Phi-e-rơ 3: 3) của thời đại hội thánh! Đức Thánh Linh sẽ tiếp tục “dạy đường cho tội nhân” (Thi thiên 25: 8--) bằng cách hướng dẫn họ vào “mọi lẽ thật” (Rô-ma 8: 9; 1Corinthians 2: 10-13; Giăng 16:13), “cho đến khi hội thánh được cất lên“ để gặp Chúa trên không trung ”(1 Tê. 4: 16-18).

Quá Khứ, Hiện Tại, Tương Lai-

"Ngợi khen Đức Chúa Trời và Cha của Chúa chúng ta là Chúa Giê-xu Christ, Đấng sau lòng thương xót vĩ đại của Ngài đã tái tạo chúng ta cho niềm hy vọng sống động qua sự phục sinh của Chúa Giê-xu Christ từ cõi chết, một cơ nghiệp không hư nát và vô nhiễm, được giữ trên trời cho anh em, những ai nhờ quyền năng của Đức Chúa Trời nhờ đức tin mà được giữ để được cứu rỗi" ... 1 Phi-e-rơ 1: 3–5
Phân đoạn này cũng cho thấy điều gì đó mà Đức Chúa Trời đã làm trong quá khứ, những gì ngài đang làm trong hiện tại và những gì Ngài đã lên kế hoạch cho chúng ta trong tương lai.
Trước khi đi vào từng điểm về hành động của Đức Chúa Trời là Cha, Phi-e-rơ dành lời ngợi khen Ngài, tôn cao Đức Chúa Trời và Cha của Đức Chúa Jêsus Christ, Chúa chúng ta. Nếu vì lòng nhân từ cao cả mà Ngài làm những điều vinh hiển trước mặt chúng ta, thì con người của Ngài vĩ đại và cao cả biết bao. Ngài là tình yêu!
--Quá khứ: --tái tạo
Chúng ta được tái sinh hoặc được sinh ra một lần nữa. Sự tân sinh là một hành động của Đức Chúa Trời. Bên phía chúng ta là hoán cải. Với sự tân sinh, chúng ta là con cái của Đức Chúa Trời và có sự sống vĩnh cửu. Nó đã cho chúng ta một hy vọng sống. Dựa trên sự phục sinh của Chúa Jêsus và do đó vượt ra ngoài sự chết. Tất nhiên không thể tách rời công việc của Ngài trên thập tự giá, nơi Gô-gô-tha, nhưng ở đây sự phục sinh đứng trước mặt chúng ta như một dấu hiệu hữu hình cho thấy sự Đức Chúa Trời nhận công việc của . Chúa Giê-su, và Ngài đã sống lại từ cõi chết bằng sức mạnh của chính sự sống của mình. Và bởi vì Ngài sống, chúng ta cũng sẽ sống. (Xem thêm Rô 8:11; 1 Cô 15:22)
--Tương lai: một cơ nghiệp bất hủ, vô nhiễm, nguyên vẹn-
Điều gì ở phía trước chúng ta- Có một cơ nghiệp dành cho chúng ta trên các tầng trời. Cơ nghiệp bao gồm những gì không được nói ở đây. Điều đó thuộc về chúng ta, do chúng ta có sự tân sinh và được cất giữ ở một nơi an toàn. Di sản này được đặc trưng bởi ba đặc điểm. Đầu tiên, nó không thể hư nát, là bất tử. Nó không bao giờ mất bản chất. Ở đây trên trái đất này, mọi thứ đều xấu đi theo thời gian hoặc bị sử dụng thái quá. Không có như vậy trên các từng trời nữa. Thứ hai, nó không có tì vết. Hoàn toàn trong sáng. Hoàn toàn phù hợp với Đấng ban cho, tức là chính Đức Chúa Trời. Không bao giờ có thể bị vấy bẩn bởi tội lỗi, vì tội lỗi không có chỗ trên trời. Thứ ba, không thể hư hoại. Có một vẻ đẹp tươi mới lâu dài.
--Hiện tại: được gìn giữ bởi quyền năng của Đức Chúa Trời qua đức tin
Chúng ta vẫn còn ở trên trái đất. Luôn luôn có những khó khăn. Bệnh tật, lo lắng, sự chống đối của thế giới, sự cám dỗ từ ma quỷ và nhiều hơn thế nữa. Nhưng quyền năng của Đức Chúa Trời đang làm việc cho chúng ta. Chính nhờ quyền năng này của Đức Chúa Trời mà chúng ta được bảo tồn. Ngài bảo vệ chúng ta mọi khoảnh khắc bằng sức mạnh thần thượng. Như một quy luật, sức mạnh của Chúa không thể hiện ở hành động mạnh mẽ bên ngoài, mà ở chỗ Ngài củng cố niềm tin của chúng ta để luôn kiên định trong hoàn cảnh. "Bởi đức tin" ở đây có nghĩa là năng lượng thuộc linh nắm giữ những gì Chúa đã nói là sự thật. Chúng ta có ma quỷ, thế giới và bản chất cũ kỹ của mình, chống lại chúng ta, nhưng sức mạnh thần thượng ở về phía chúng ta.
Với sự cứu rỗi của chúng ta - Phi-e-rơ sẽ thấy nó ở đây trong tương lai, bởi vì cơ thể của chúng ta sẽ có một phần trong đó, khi Chúa Jêsus đưa chúng ta về chính mình Ngài- hy vọng sẽ thành hiện thực, việc bảo quản không còn cần thiết nữa và chúng ta sẽ sở hữu cơ nghiệp. .
Ngợi khen Đức Chúa Trời và Cha của Đức Chúa Jêsus Christ, Chúa chúng ta!
5 người đã xem
Thích
Bình luận
Chia sẻ