Lời Kinh Thánh

Kìa, Ngài cỡi đám mây mà đến, mọi mắt sẽ trông thấy Ngài, cả đến những kẻ đã đâm Ngài cũng vậy; hết thảy các chi phái trên đất đều sẽ than khóc Ngài. Phải, A-men Lu ca 17:29-30

Thứ Bảy, 25 tháng 2, 2012

QUYỀN NĂNG CỦA SỰ LỰA CHỌN

Kinh Thánh đọc: Isa. 7: 1-2, 10-15

Chúng ta đang ở đây ngày hôm nay cho một điều duy nhất, đó là tìm hiểu thêm về Chúa Giê-xu. Tất cả chúng ta biết khi Ngài còn trên trái đất, Chúa đã hoàn hảo biết dường nào. Khi đọc bốn sách Tin Mừng, chúng ta có thể thấy nếp sống bên ngoài của Chúa tốt đẹp và hoàn hảo như thế nào. Tuy nhiên, từ bốn sách Tin Mừng, chúng ta không thể nói lý do tại sao Chúa đã có một cuộc sống tuyệt vời bên ngoài như vậy. Tại sao Ngài quá hoàn hảo như vậy, và tại sao Ngài một Con Người như vậy? Ê-sai 7:15 cho chúng ta biết lý do Ngài đã có một cuộc sống như vậy. Tại sao Ngài có thể từ chối điều tà ác và lựa chọn điều tốt? Làm thế nào Ngài đã biết từ chối thế giới và lựa chọn ý muốn của Đức Chúa Trời? Làm thế nào Ngài đã biết từ chối vinh quang từ loài người và chọn vinh quang từ Đức Chúa Trời? Chúng ta có thể tìm ra câu trả lời cho những câu hỏi nầy từ Isaiah 7. Câu 14 nói, "Này đây, trinh nữ sẽ thụ thai và sẽ sinh một con trai, và cô ấy sẽ gọi tên người là Immanuel." Chúng ta biết rằng điều này đề cập đến Chúa Giêsu. Thật không may, nhiều người đã bỏ câu 15. Chúng ta nên biết rằng không phải chỉ có câu 14 đề cập đến Chúa, nhưng mà câu 15 cũng đề cập v Ngài. Câu 15 nói với chúng ta rằng Ngài ăn bơ (mỡ sữa) và mật ong trong cả cuộc sống của mình. Bởi vì Ngài ăn bơ và mật ong trong cả cuộc đời, Ngài đã có thể chọn những điều tốt đẹp và từ chối những điều xấu xa. Đây là lý do tại sao Ngài có thể vâng lời Chúa, tìm kiếm vinh quang của Ngài, và giành được trái tim của Ngài.

Thứ Sáu, 24 tháng 2, 2012

SỰ GIẢI PHÓNG CỦA CHÚA


Sự mở rộng thông qua việc siết chặtmột qui luật của Vương quốc các từng trời trong thời đại nầy, là một lẽ thật nổi tiếng. Ý nghĩa của nó thì khác nhau và trường hợp của rất nhiều. Một trong những hàm ý  thường không được công nhận những nỗ lực mở rộng trong lĩnh vực thực sự thuộc linh chỉ kết quả trong sự thổi phồng nhân tạo, chung với sự yếu kém, không toại nguyện, và sự bất ổn của tất cả các thứ không phải  thuộc linh thực sự. Sự phát triển thực sự không phải là công việc của con người, của sự chân thật của mình, sự nhạy bén, hiệu quả, tài nguyên, nỗ lực, thông minh, nhiệt tình. Chính qui luật mà chúng ta đang nói có sức mạnh và sự biện minh của nó trong thực tế là Đức Chúa Trời bắt đầu từ số không. Khi nào, Nói theo cách con người, khi nào  không n hy vọng và hoàn toàn công nhận rằng chỉ có Đức Chúa Trời có thể làm điều cần thiết, sẽ thường được chứng minh rằng đó chỉ là tình hình Ngài đã dùng nhiều đau đớn để tạo nên.

Thứ Ba, 21 tháng 2, 2012

Năm Nguyên tắc Giải thích Kinh Thánh

Bây giờ,Tôi muốn nói về một số nguyên tắc trong việc giải thích Kinh Thánh. Điều rất quan trọng đối với chúng ta để có thể biết làm thế nào giải thích Kinh Thánh, và điều này sẽ được đặc biệt  nhìn thấy những gì chúng ta phải xem xét sau này. Trừ khi chúng ta hiểu các nguyên tắc giải thích Kinh Thánh, Kinh Thánh không phải là một cuốn sách mở ra, chúng ta có thể biết những gì có trong Sách như một cuốn sách, nhưng chúng ta không hiểu nó cho đến khi chúng ta được các nguyên tắc giải thích.Vì vậy, tôi yêu cầu bạn cố gắng và ghi nhớ những gì tôi đang nói bây giờ và đưa nó vào bài nghiên cứu sau này của chúng ta. Chúng ta sẽ xem xét năm nguyên tắc quan trọng của việc giải thích Kinh Thánh:

Thứ Hai, 20 tháng 2, 2012

Ghi Chú Về Cứu Cánh Và Đường Lối Của Đức Chúa Trời

&.Cái nhìn trở lại

 
Thơ La Mã: con người của chúng ta đổi mới
 
Thơ Cô-rinh-tô: con người thuộc thiên
 
Thơ Galati:  sự lệch hướng (xiên xẹo)
 
Thơ Ê-phê-sô: đời sống tập thể

Robert Murray M'Cheyne

Robert Murray M'Cheyne sanh ngày 21 tháng 5 năm 1813 và qua đời ngày 25 tháng ba, năm 1843) là một người cung phụng Lời trong Giáo Hội của Scotland từ năm 1835 đến năm 1843. Ông được sinh ra tại Edinburgh, được đào tạo tại Đại học đường Edinburgh và tại Hội trường Divinity của thành phố quê hương ông, nơi ông đã được Thomas Chalmers giảng dạy. Đầu tiên ông phục vụ như là một trợ lý của John Bonar trong giáo xứ của Larbert và Dunipace, gần Falkirk, từ năm 1835 đến năm 1838. Sau này, ông từng hầu việc như người cung phụng Lời cho nhà thờ Phêrô tại Dundee cho đến ngày chết quá trẻ của ông, ở tuổi 29, trong cơn dịch bệnh sốt phát ban.


Không
bao lâu sau khi ông chết, người bạn của ông, Andrew Bonar Alexander chỉnh sửa tiểu sử của ông mà đã được xuất bản chung với một số các bản thảo của tác phẩm “Memoir và lưu bút của Robert Murray M'Cheyne. Cuốn sách đã được tái bản nhiều lần. Nó đã có một ảnh hưởng lâu dài trên cơ đốc giáo Tin lành toàn thế giới.


Vào năm 1839, M'Cheyne và Bonar, cùng với hai người cung phụng cao niên, Tiến sĩ Alexander Blacktiến sĩ Alexander Keith, được sai phái đến Palestine trong một nhiệm vụ điều tra tình trạng của người Do Thái. Khi họ trở về, báo cáo chính thức của họ cho Hội đồng quản trị hội truyền giáo của Giáo Hội Scotland, và đã được công bố như là bản tường thuật về “ một cuộc thăm viếng Đất Thánh và sứ mệnh theo yêu cầu cho người Do Thái. Điều này, sau đó, đã dẫn đến việc thành lập các hội truyền giáo cho người Do Thái  của Giáo Hội  Scotland và Giáo Hội tự do của Scotland. Trong thời gian M'Cheyne vắng mặt, vị trí của ông đã được lấp đầy bởi việc bổ nhiệm William Chalmers Burns, rao giảng Lời tại nhà thờ St Peter, như là trợ lý của ông.


M'Cheyne là một
giảng sư, người chăn, một nhà thơ, và đã viết rất nhiều thư từ thuộc linh. Ông cũng là một người kỉnh kiền sâu xa và một người cầu nguyện. Ông không bao giờ kết hôn, nhưng ông đã có một vị hôn thê tại thời điểm sắp chết của ông, Jessie Thain, sau đó cô đã qua đời vì bệnh tim đau khổ.


M'Cheyne qua đời đúng hai tháng trước khi
có cuộc PHÂN HÓA năm 1843. Điều nầy là như vậy, sau đó tên của ông đã được vinh danh trong buổi lễ do tất cả các chi nhánh khác nhau của hội trưởng lão Scotland tổ chức, mặc dù bản thân ông đã mạnh mẽ nắm giữ một ý kiến chống lại chủ nghĩa bài trừ nhau trong hội thánh mà  đã dẫn đến SỰ Phân Hóa. Bonar ghi chép lại, "Và khi nào, vào ngày 7 tháng 3 năm sau (tức là năm 1843), nguyên nhân làm Giáo Hội cuối cùng đã phải bàu chữa trước vành móng ngựa của House of Commons (Quốc hội), tôi tìm thấy lời ông đã viết từ trước: 'đêm tất nhiên này trong Quốc hội Anh! Một lần nữa Vua Giêsu phải đứng trước một tòa án trần thế, và họ không biết Ngài "(Memoir {1892 ed.}, trang 147).


M'Cheyne thiết kế một hệ thống được sử dụng
cách rộng rãi cho việc đọc qua Kinh Thánh một lần trong một năm. Kế hoạch này đòi hỏi phải đọc Tân Ước và Thánh vịnh qua hai lần một năm, và Cựu Ước qua một lần. Chương trình này đã được bao gồm ( trong một hình thức chỉnh sửa)  trong tác phẩm “ Vì  tình yêu của Đức Chúa Trời” của D.A. Carson và đã được một  số nhà xuất bản Kinh Thánh giới thiệu, chẳng hạn như bản Kinh thánh English Standard Versionbản New English Translation.

 Lời của M'Cheyne vẫn có hiệu lực trên nhiều người hôm nay như câu:  “con người sẽ trở lại và cứ trở lại ( để nghe) một thiểu số người mà đã thấu triệt bí quyết thuộc linh, và sự sống họ đã được giấu kín với Christ trong Đức Chúa Trời. Những con người nầy có niềm tín ngưỡng thời xưa, đã treo mình trên các cây đinh của thập tự giá”.

Chủ Nhật, 19 tháng 2, 2012

NƯỚC MẮT (tiếp theo)


C. Liên quan đến công việc của Chúa

Bây giờ chúng ta hãy xem xét mối quan hệ của nước mắt với công việc của Chúa và vị trí của
nước mắt trong công việc của Ngài.

Giê-rê-mi 9:1 nói, "Ồ,
ước gì đầu của tôi là suối nước, Và mắt của tôi là nguồn lụy, hầu cho tôi có thể khóc cả ngày và đêm , Đối với những kẻ bị giết của các con gái của dân tộc tôi!". Giê-rê-mi thực sự có thể khóc. Mọi người đều gọi ông là một nhà tiên tri khóc lóc. Câu 18: “chúng nó hãy vội vàng vì chúng ta mà than khóc, cho mắt chúng ta rơi lụy, mí mắt chúng ta tràn nước ra”. Câu 17 của chương 13 nói, " Nếu các ngươi chẳng nghe, hồn ta sẽ khóc thầm về sự kiêu ngạo của các ngươi. Thật, mắt ta sẽ khóc nhiều, giọt lụy tuôn rơi, vì bầy của Đức Jehovah bị bắt đi”.  Nếu người ta không lắng nghe lời của Chúa, Giê-rê-mi sẽ khóc. Câu 17 của chương 14 nói, "ngươi khá bảo cho chúng nó lời nầy: mắt ta rơi lụy đêm ngày chẳng thôi, vì gái đồng trinh của dân ta tồi tàn, bị thương rất là đau đớn". Ông kêu khóc vì người Do Thái bị một cú đánh. Không có công nhân  thích hợp nào của Chúa có thể không có nước mắt. Tất cả những người không khóc cho công việc của họ thì không có trái tim cho công việc của họ. Tất cả những người có  trái tim cho công việc của họ không thể không khóc. Nhiều lần khi chúng ta cố gắng để đối phó với một ai đó và dốc cạn mọi phương tiện, nhưng không có kết quả. Tuy nhiên, vẫn còn có một điều chúng ta có thể làm: chúng ta có thể khóc. Đôi khi không có những công trình thuyết phục, nước mắt trở thành thuyết phục cuối cùng. Đôi khi trong tình trạng chiến tranh, chúng ta dùng cạn kiệt tất cả các loại vũ khí, và vẫn không có chiến thắng . Nước mắt có thể là vũ khí cuối cùng. Người ta có thể chống lại các loại vũ khí khác, nhưng họ phải đầu hàng trước những giọt nước mắt.