Lời Kinh Thánh

Kìa, Ngài cỡi đám mây mà đến, mọi mắt sẽ trông thấy Ngài, cả đến những kẻ đã đâm Ngài cũng vậy; hết thảy các chi phái trên đất đều sẽ than khóc Ngài. Phải, A-men Lu ca 17:29-30

Thứ Bảy, 6 tháng 8, 2011

NÚI ĐỨC CHÚA TRỜI

              NÚI ĐỨC CHÚA TRỜI

Núi hai tên, núi Đấng trên trời,
Hôrếp, Sinai của Chúa tôi.
Thiên chức Môise từ đó diễn,
Linh trình Êli được tài bồi.
Ban ra kinh luật-Chúa bày tỏ,
Phát tiếng Chúa-dân thánh phục hồi.
Cho dẫu sáu ngày chờ hẽm núi,
Tôi xin thấy tiếng của Ngài mời.



HAI LOẠI CHỨC NĂNG CỦA THÁNH ĐỒ



Môn đệ đầu tiên có bốn người,
Hàm bao ý nghĩa Chúa kêu mời.
Hai anh thả lưới bao vây cá,
Huynh đệ kia lo vá lười rồi.
Đánh lưới người Sêpha đảm trách,
Phục hồi Hội Thánh Giăng trông coi.
Ơn ban rao giảng ta rao giảng,
Hoàn hảo thiên dân nay có người.

CHÚA TÁI LÂM


Chúa tái lâm vinh hiển, vẻ vang,
Vinh cho các thánh, đổi trần hoàn.
Nay Sao Mai mọc, chiếu người thức,
Lúc Thái Dương lên sáng thế gian.
Kẻ Trộm ban đêm đột ngột đến,
Nhà Vua buổi sáng cỡi mây ngàn.
Anh em hỡi, hãy mau tăng trưởng,
Chúa rước ta đi trước khổ nàn.

Minh Khải

KHOA HỌC MINH HỌA 6



1.Vài điều lạ lùng
Chúng ta đọc Ê-sai 25: 1 “Hỡi Đức Giê-hô-va, Ngài là Đức Chúa Trời tôi. Tôi tôn sùng Ngài, tôi ngợi khen danh Ngài, vì Ngài đã làm những sự lạ lùng, các mưu định từ xưa của Ngài đều thành tín và chân thật”. Đức Chúa Trời đã làm nhiều điều lạ lùng. Tôi thích dùng vài giờ đồng hồ để lượt qua vài điều lạ lùng mà Ngài đã làm. Ngài đã làm nên con nhện với các đặc tính riêng biệt. Rồi Ngài đã làm nên cây sái cổ, hay hồng mộc (sequoia) với kích thước kinh khủng của nó. Rồi đến hoa tím bé nhỏ diễm lệ và mềm mại. Ngài đã sáng tạo mẫu tuyết với sự xếp đặt

Thứ Sáu, 5 tháng 8, 2011

BỐN SÁCH PHÚC ÂM





Mathêu tỏ Cứu Chúa là Vua,
Cùng nước thiên đàng các thánh ưa;
Trong có bính quyền, công nghĩa tốt.
Bước vào nước ấy khá thi đua.

CHỨC VỤ CẦU THAY CỦA CHRIST


CHỨC VỤ CẦU THAY CỦA CHRIST


Diệu thay chức vụ Chúa cầu thay,
Trong chúng ta và thượng giới rày.
Christ khẩn xin Cha bên cánh hữu,
Linh Ngài khẩn nguyện ở lòng nầy.
Trên trời biện hộ ta không ngớt,
Dưới đất Linh rên rỉ mỗi ngày.
Chính Đức Linh cầu thay khởi diễn,
Trên trời Christ đúc kết thêm hoài.

* La mã 8:26-27,34

Thứ Năm, 4 tháng 8, 2011

MƯỜI HAI HÌNH THỂ VỀ NGƯỜI YÊU CỦA CHÚA TRONG NHÃ CA


 Sau đây là những tinh hoa trong sách Nhã ca.

1.Tuấn Mã: 1:9
   “Người yêu dấu của anh ơi, anh ví em như con tuấn mã kéo chiến xa của Pharaon”.
    Người yêu của Christ là nhân vật thiên nhiên mạnh mẽ, như ngựa cái của Pharaon. Tuấn mã sống trong thế giới, trong các sự hỗn loạn của Satan tại Ai-cập, bị Satan bắt làm nô lệ phục vụ mục đích của Pharaôn—kéo chiến xa, và kéo xe xây kho tàng.

NGHIÊN CỨU TÀ GIÁO TRONG LỊCH SỬ


NGHIÊN CỨU TÀ GIÁO TRONG LỊCH SỬ

I. CÁC TÀ GIÁO THỜI SỨ ĐỒ
Sứ đồ là những người thấy tận mắt những điều Chúa Jêsus đã làm. Vì vậy phúc âm mà họ rao truyền luôn có thẩm quyền thật. Họ cũng có thể phán đoán đâu là những câu chuyện thật hư về Chúa Jêsus.

Thứ Tư, 3 tháng 8, 2011

KINH NGHIỆM CHÚA LÀ MỘT DƯỢC



   Áo Vua mùi một dược,                   Thấy mình còn bóng tối,
   Thu hút cả tâm tôi;                         Cùng lắm thiên nhiên thay ;
   Theo đuổi Ngài chân thực              Lên núi một dược đợi,
   Nào còn thích con người.               Hừng đông lố dạng rày.

   Lương Nhơn bó một dược             Vườn địa đàng xinh bấy,
   Ta ấp yêu bên lòng,                        Trồng phụng tiên, cam tòng,
   Cùng Ngài chịu sỉ nhục,                 Ta một dược ươm đấy,
   Nếm thập giá bên trong.                 Chúa hưởng vui mật ong.

   Rồi vượt qua đồng vắng,                Chết sâu hơn thường nhựt,
   Lên kiệu Vua chung ngồi,               Bỏ đỉnh núi Liban,
   Tẩm một dược cay đắng,               Tay ta rỏ một dược,
   Nên giống trụ khói trời.                   Hóa Salem huy hoàng

KHOA HỌC MINH HỌA 5--Ánh Sáng

Truyền đạo 8: 17 chép: “Ta cũng thấy mọi công việc của Đức Chúa Trời, và hiểu biết người ta không thể dò được mọi việc làm ra dưới mặt trời, dầu chịu cực nhọc ngần nào đặng tìm biết, cũng chẳng tìm được; và dầu cho người khôn ngoan tưởng rằng sẽ chắc biết, thì cũng chẳng tìm được”. Câu này nói rằng chúng ta tìm được điều mình biết, đó lại là điều mình không biết đủ. Thật lạ lùng khi chúng ta đến chỗ khám phá rằng mình biết quá ít về các điều lạ lùng mà Đức Chúa Trời muốn chúng ta biết. Sa-lô-môn nói về các điều kỳ diệu mà chúng ta không bao giờ có thể nắm được.

KHOA HỌC MINH HỌA 4



NHỮNG BÀI HỌC TỪ THÂN THỂ CHÚNG TA

1.THÂN THỂ:
   Điều thích thú là ghi nhận rằng tai chúng ta được dựng nên theo một cách hầu cho chúng chỉ có thể nghe những âm thanh trong các giới hạn rung động nào đó. Nếu chúng ta đã nghe hết mọi âm thanh có trong bầu không khí, chúng ta sẽ bị xao lảng biết bao. Chúng ta sẽ điên loạn. Nên sự nhân từ của Đức Chúa Trời được bày tỏ khi Ngài tạo các loại tuyến để giữ đôi mắt chúng ta ẩm ướt đến nỗi các mí mắt sẽ nhắm và mở cách dễ dàng. Ngài đặt tuyến khác trong miệng, đến nỗi miệng sẽ luôn luôn ẩm ướt hầu bơ đậu phọng sẽ không dính chặt vào miệng, hay mật ong không bám vào nướu răng chúng ta.

TỪ NGỮ THÁNH KINH CỰU ƯÓC—5

                                                      MỘC DƯỢC

   Trong Kinh Thánh Hi bá lai có hai chữ đều được dịch là “mộc dược”. Đó là: Lot và Mor. Tiếng Hi lạp là smurna. Ngữ căn smurna chuyển hoá ra chữ smyrna (Si-miệc-nơ). Hội thánh Si-miệc-nơ trải qua cơn bắt bớ, được tẩm mộc dược. Tiếng Anh là Myrrh, tiếng Việt là “một dược” theo bản cũ, còn bản Hiệu đính 2010 dịch là “mộc dược”.

   Về tính dược, mộc dược làm cho nạn nhân đờ đi, chết lịm, dù không tắt thở. Khi sắp bị đóng đinh, Chúa Jesus từ chối uống rượu nho pha mộc dược, vì Ngài muốn nếm trọn sự đau đớn của thập tự giá. Mộc dược là loại thuốc giảm đau, thuốc gây mê làm nạn nhân mất cảm giác đau đớn. Theo kinh thánh, mộc dược tượng trưng quyền năng sự chết của Chúa Jesus.

KHOA HỌC MINH HỌA 3



SỰ CHĂM SÓC CỦA ĐỨC CHÚA TRỜI

   1. Sự Chăm Sóc Của Đức Chúa Trời:
   Nê--mi 9:6, “ôi chỉ một mình Chúa là Đức Giê-hô-va, có một không hai, Chúa đã dựng nên các tầng trời, và trời của các từng trời, cùng toàn cơ binh của chúng, trái đất và các vật trên đất, biển và muôn vật ở dưới biển; Chúa bảo tồn những vật ấy, và cơ binh trên các từng trời đều thờ lạy Chúa”. Ba tỉ sao, và không biết bao nhiêu mặt trăng, hộ tinh và Đức Chúa trời dựng nên trái đất và mọi vật trong đó; con ong, côn trùng, chim chóc, động vật và sâu bọ; tất cả các loài vật mà Ngài đã làm nên. Đức Chúa Trời đã làm nên các biển, và mọi loài trong đó—tất cả các loài cá và bò sát-- ồ vô số vật trong biển. Nếu bạn muốn có vài ý tưởng về chúng, chỉ cần du hành qua bể nuôi cá trong thành phố New York, bạn có thể thấy nhiều vật kỳ diệu từ biển sâu, có ở đó. Nhưng đó chỉ là một giọt nước trong thùng so với những gì Đức Chúa Trời có trong biển—song le “Chúa bảo tồn những vật ấy”.

KHOA HỌC MINH HỌA 2

  
KHOA HỌC MINH HỌA 2

1.CON NGƯỜI:

Con người là động vật duy nhất bước vào thế giới nầy mà không mặc quần áo gì. Mọi sinh vật khác đều đến đây với loại áo mặc riêng. Con rùa và con ốc sên làm cho cái vỏ, cái mai của chúng nó lớn lên. Con cá sản xuất vãy, con trừu làm ra bộ lông. Chim chóc sinh sản bộ lông vũ. Loài heo bao phủ bằng lông cứng. Nhím tạo ra lông ống; cá sấu Bắc Mỹ, voi, tê giác, trâu nước tạo ra bộ da dày như áo giáp. Nhưng con người bước vào thế giới cách trần trưồng và cứ ở như vậy cho đến khi quần áo được dự bị từ bên

Thứ Ba, 2 tháng 8, 2011

HUYỀN NHIỆM CỦA THẾ GIỚI CHÚNG TA



   Bạn có nhớ lời nhận định ngô nghê của phi hành gia Nga sô là Gherman Stepanovich Titov chăng? Ông ta nói, ‘trong các cuộc du hành của tôi quanh địa cầu, tôi đã không thấy Đức Chúa Trời hay các thiên sứ đâu cả’.
   Còn phi hành gia Hoa kỳ, đại tá John Glenn nói, ‘Đức Chúa Trời mà tôi cầu nguyện thì không quá nhỏ bé đến nỗi tôi chờ đợi thấy Ngài trong không gian’

Thứ Hai, 1 tháng 8, 2011

LUẬT TỘI LỖI VÀ LUẬT SỰ CHẾT


Trong ta Ma Quỉ đã phô bày,
Hai luật bẩm sinh quỉ quái thay.
Làm sự không mong, luật tội khiến,
Ngăn làm tốt, luật chết ra tay.
Nhiệt tình phạm tội do nơi đó,
Bất lực làm lành cũng tại đây.
Luật tội tan khi cùng Chúa chết,
Cùng Ngài sống, luật chết lìa ngay.

Minh Khải

ĐƯỜNG ĐẾN SI-ÔN


Đường đi tới sức mới thêm hoài,
Trũng khóc than nên suối nước đây.
Chúa mặt trời hồng luôn chói sáng,
Christ là khiên thuẫn đỡ đêm ngày.
Ngài ban ân điển hôm nay đủ,
Đấng cấp vinh quang cuối rốt đầy.
Kiến ốc Cha nay dân thánh trú,
Si-ôn vĩnh cữu sẽ gần Ngài.

CHÚA LÀ ĐÁM LỬA


Thật Chúa là đám lửa hay thiêu đốt,
Bản tánh của Ngài độc chiếm ghen tương,
Đốt sạch bao ô uế thật khôn lường.
Ô kinh khiếp thay là đám lửa ấy!

HUYỀN NHIỆM CỦA CON NGƯỜI

HUYỀN NHIỆM CỦA CON NGƯỜI


Những gì xảy ra khi bạn suy nghĩ? Làm sao bạn tích trữ tri thức và mang ra dùng bất cứ lúc nào? Bạn đặt dự liệu thông tin mình kiếm được ở đâu?

HUYỀN NHIỆM CỦA CÕI SÁNG TẠO



   Phi thuyền Mariner IV đã làm chúng ta kinh ngạc. Phi thuyền nầy du hành 134.000.000 dặm Anh để chụp hình hành tinh kề cận chúng ta, sao Hỏa (Mars).


Nó lao vào không gian với vận tốc hơn 20.000 dặm một giờ trải 8 tháng rưỡi. Rồi đúng lúc khi nó đến trong khoảng cách với sao Hỏa là 61.000 dặm, suốt 24 phút bay ngang sao Hỏa, phi thuyền chụp được 22 bức hình bằng máy ảnh truyền hình của nó.

CHÉN NƯỚC LẠNH CHO TÔI TỚ CHÚA



“Được gọi (tiếp nhận sự cứu rỗi) thì nhiều mà được chọn (làm người đắc thắng) thì ít” (Math 22: 14). Tổng số người được lãnh thưởng, được sống trong vương quốc ngàn năm thì ít oi so với tổng số dân được cứu chuộc từ buổi sáng thế đến ngày Chúa tái lâm. Muốn ở trong vương quốc với Chiên Con đắc thắng, Chúa của các chúa và Vua của các vua, một người phải được “kêu gọi, lựa chọn và trung tín” (Khải 17: 14).

KHẢI TƯỢNG BỜ SÔNG KÊBA

KHẢI TƯỢNG BỜ SÔNG KÊBA
                   Exechien 1:

Trên đất lạ, xa Siôn năm năm chẳn,
Exechien im lặng chốn lưu đày,
Ngày qua ngày nhìn Kê-ba tê tái,
Chức tế tư từ đấy hết thời cơ.

Mồng năm tháng tư mây trời sáng rỡ,
Gió bão to từ phương bắc đổ xô về,
Gió lốc, mây đen khác hơn thường lệ;
Lửa bọc quanh mây, tư bề sáng chói,
Loài kim hổ phách, bốn con đỏ ối,
Hình dạng như than đỏ, đuốc lửa cao,
Bốn cánh, bốn mặt, chân tay cao ráo.
Hình mặt bò, người, sư tử, chim ưng,
Chân bò, cánh tiếp giáp nhau tương ứng,
Bàn chân vững sáng ngời không trở gót;
Người Thánh Linh nắn đúc, ôi xin tốt,
Có lửa thiêng lên xuống cả châu thân,
Bước đi, lui tới, bám sát theo Thần,
Sanh từ lửa, toàn thân giống lửa.

Bên vật sống còn cổ xe Linh nữa,
Hiệp một hữu cơ trong cơ cấu cao thâm;
Bánh trong bánh, tựa ngọc thuỷ thương xanh thẩm,
Vòng bánh xe còn lắm mắt tinh khôn,
Kiểu bánh xe nhanh nhẹn, cao lớn hết hồn,
Cùng vật sống lưu thông khắp mặt đất.

Trên vật sống, ngai ngọc lam tươm tất,
Chiếc cầu vồng giao ước hiện xung quanh.
Tiếng cánh nghe vang ầm dường nước mạnh,
Chính Con Người phục hoạt cai quản trên ngôi;
Ánh lửa đồng thẩm phán vẫn tỏ soi,
Gây kinh khiếp người thiên nhiên dơ bẩn.

Phủ phục đầu Exechien van khấn:
Chúng tôi đây vật sống Chúa tạo thành,
Phương tiện ân điển xe Linh, xin lãnh,
Cúi xin ơn Chúa xót thương cùng cực,
Xây ngai báu giữa bầy con hồi phục,
Cùng chúng tôi thường trực đi khắp tinh cầu./.

Thánh Kinh Số Mục--Con Số 3



- Các chùm số 3 trong kinh thánh -

Đề liên tục nhận được ánh sáng, sự khải thị và tiếng phán từ Chúa, yêu cầu bức thiết đầu tiên cho công nhân là tâm trí, lòng dạ phải đầy tràn văn tự kinh văn, các số liệu, các từ liệu, các sự kiện.
Nhìn qua kinh thánh chúng tôi thấy kinh văn đầy dẫy các chùm số 3. Đức Thánh Linh đặt sẵn các chùm này để miêu tả các thuộc tánh, công tác của Đức Chúa Trời Tam Nhất, hoặc các mỹ đức, các bước tiệm tiến của sinh hoạt cơ đốc nhân. Theo số mục học trong Thánh kinh thì số 3 là con số của Đức Chúa Trời Tam Nhất, và là con số của sự phục sinh. Nhà truyền đạo nhận xét: “ một sợi dây đánh ba tao lấy làm khó đứt” ( Truyền 4: 12h). Sau đây là vài sự gợi ý:




- Sáng. 2:11, 12 vàng, trân châu, hồng mã não.
- Sáng 48:15 – 16 Đức Chúa Trời mà trước  mặt Ngài tổ phụ tôi đã bước đi, Đức Chúa Trời đã nuôi dưỡng tôi, Thiên sứ đã cứu tôi khỏi vòng hoạn nạn ( ASV.)
- Giăng 5: 37 – 38 nghe tiếng Ngài, thấy hình dạng Ngài, Lời ( logos) Ngài ở trong.
- Sứ 22: 14 biết ý chỉ Ngài, thấy Đấng công nghĩa, nghe tiếng từ miệng Ngài.
- 1 cô 3: 12 vàng, bạc, đá quí.
- 1 Tê. 1: 3 công việc của đức tin, lao tác của tình yêu, nhẫn nại của sự hy vọng.
- 1 Tê. 1:9 – 10 đã lìa bỏ hình tượng, làm nô lệ Đức Chúa Trời hằng sống và chơn thật, trông đợi con Ngài đến.
- 1 Ti. 1: 1 – 2 ân điển, thương xót, bình an.
- II Ti 1: 11 được lập làm giảng sư, sứ đồ, giáo sư.
- II Ti 4: 7 đã đánh trận tốt đẹp, chạy xong cuộc đua, giữ được đức tin.
- Khài 2: 2 công việc, lao tác, sự nhẫn nại.
- Khải 11: 18 ban thưởng các nô lệ Ngài là tiên tri, thánh đồ và các kẻ kính sợ danh Ngài.
- Khải 17: 14 những kẻ được kêu gọi, lựa chọn và trung tín.




Anh em nên cảnh giác rằng văn tự suông giết chết, nhưng khi kinh văn đầy tâm trí, đụng chạm được Linh hòa lẫn sẽ nảy sinh ánh sáng và sự sống. Kinh văn tàng trữ trong tấm lòng kỉnh kiền, mở ra tuyệt đối với Chúa kinh văn đó sẽ trở nên Linh và sự sống. Anh em cố gắng tìm kiếm các chùm số 3 như vậy, chép vào tập ghi chú, thường xuyên đọc và học, Đức Chúa Trời Cha của Chúa Jésus sẽ khải thị cho anh em nhiều điều lạ lùng. Nếu thiếu tư liệu sắp sẵn như 12 hòn đá của Êli trên núi Cạtmên sắp xếp lại thành bàn thờ, lửa và vinh quang Đức Chúa Trời không thể giáng xuống được.




So sánh Giăng 5: 37 – 38 và Sứ 22: 14, chúng ta sáng tỏ rằng thấy hình dạng Đức Chúa Trời tức là thấy Đấng công nghĩa, hiện thân của Đức Chúa Trời. Muốn nghe tiếng Chúa, muốn biết ý Chúa, chúng ta phải chứa đựng logos Ngài ở trong mình. Do La mã 10: 17 chép “ sự nghe do lời ( rhéma) của Christ”, chúng ta thấy khi lời kinh thánh (logos) trở thành lời tức thì, lời chủ quan, lời rhéma bề trong, chúng ta cảm nhận được tiếng chúa qua lời ấy.Thảm hoạ là lắm lúc, chúng ta không thấy Đấng Công nghĩa, vì ai thấy Chúa và vinh quang Ngài tự động có năng lực phát ngôn về Ngài ( Giăng 12: 41). Đôi lúc chúng ta khô hạn và sống trong tối tăm vì không cảm nhận tiếng Chúa trong lòng mình mỗi ngày qua việc nhận được lời hằng sống tức thì của Chúa.




So sánh 1 Tê. 1: 3 với Khải 2: 2. Sau hơn 30 năm các hội thánh thời sứ đồ Giăng đã chỉ còn công tác, lao tác và sự nhẫn nại suông; họ mất đi đức tin, tình yêu và sự hy vọng cặp theo, mà điều lớn hơn hết là tình yêu ( ICô. 13: 13). Tình yêu thánh là biểu hiện của sự sống, không có tình yêu với Chúa và với nhau vì thiếu hụt sự sống. Đó là lý do người toàn thắng trong hội thánh có công tác do tình yêu sẽ được vui hưởng trái cây sự sống tươi mới là Christ–Jésus hằng sống./.

BỐN PHÚC ÂM CỦA ĐỨC CHÚA TRỜI

Bốn Phúc Âm


Đức Chúa Trời cần 4 phúc âm để mô tả Con Ngài cách đầy đủ.
Mời anh em xem những tinh hoa về 4 phúc âm trong cả bộ Kinh thánh như sau:

1.     Bốn Sinh Vật:
Khải thị 4:7 bày tỏ về 4 sinh vật là 4 Sê-ra-phim, Bốn con có dạng sư tử, bò con, mặt người và chim ưng.Bốn sinh vật nầy ứng vào thứ tự 4 phúc âm: Mathio, Vua; Mác, Đầy Tớ; Luca, Con người và, Giăng, Con Đức Chúa Trời.
     Ezekiel 1:5 -10; 10:14-15 nói đến 4 sinh vật là các cherubim. Mỗi cherubim đều có 4 mặt là : mặt người, mặt sư tử, mặt bò và mặt chim ưng. Chúa Jesus là người (Luca), Ngài làm Vua (Mathio), và làm Đầy Tớ (Mác), và vốn là Đức Chúa Trời, vì mặt chim ưng ẩn ở phía sau.

2.     Bốn Cờ Hiệu Của 4 Đoàn Quân: Dân. 2:
12 đội quân của 12 chi phái Israel được chia làm 4 đoàn. Cứ ba đội quân họp thành một đoàn, do các chi phái Giu đa, Ru bên, Ép-ra-im và Đan làm đoàn trưởng. Đoàn quân Giu đa đóng trại ở phía đông đền tạm, có cờ hiệu mặt sư tử; Ru bên ở phía nam, có cờ hiệu hình mặt bò; Epraim ở phía tây, có cờ hiệu hình mặt người, và Đan đóng ở phía bắc, có cờ hiệu hình mặt chim ưng.
      Dân 10 chép khi 12 đội quân nầy và đền tạm cùng di động, Giu đa đi trước, kế đó là Ru bên, Epraim và Đan. Họ chuyển quân theo chiều ngược lại chiều quay của kim đồng hồ. Sự chuyển quân đó ứng vào thứ tự 4 phúc âm: phúc âm về Vua (Mathio), về Đấy tớ (Mác), về Người (Luca) và về Đức Chúa Trời (Giăng). Khi di dộng, 4 cờ hiệu như là 4 phúc âm đang rao về bản chất và vinh quang Con Đức Chúa Trời.

3.     Bốn Phương Diện Của Nhánh (Chồi, Mầm non)
a/ Nhánh Đa vít: “Cho Đa vít Nhánh công bình, cai trị làm vua “ (Giê.23:5,6; 33:15,16). Tương ứng sách Mathio. Chúa Jesus là Vua dòng Đa vít.

b/ Nhánh là “Đầy Tớ Ta”:
“ Đức Giê-hô-va phán: Ta sẽ làm Đầy tớ Ta là Nhánh dấy lên”(Xa.3:7,8).
Tương ứng sách Mác. Chúa là Đầy tớ Đức Chúa Trời.

c/ Người Tên Là Nhánh:
“Nầy có một Người tên là Nhánh sẽ nứt ra, người ấy sẽ xây đền thờ Đức Jehovah” (Xa.6:12). Tương ứng sách Luca, miêu tả Chúa là Con Người.

d/ Nhánh Đức Jehovah:
“ Nhánh Đức Jehovah sẽ đẹp đẽ và vinh quang”( Esai 4:2). Phúc âm Giăng mô tả Chúa Jesus là Nhánh Đức Jehovah.

4.     Con Đức Chúa Trời Có Ba Chức Năng:
Đấng Christ là Con độc sinh của Đức Chúa Trời, đuợc Mari sinh ra làm Con loài người. Ngài là chính Đức Chúa Trời, có ba chúc năng:
·        Vua: sách Mathio trình bày Ngài thường phán cách quyền uy “quả thật ta phán cùng các nguơi” đến 30 lần.
·        Thầy Tế Lễ: sách Mác bày tỏ Ngài là Thầy tế lễ dâng chính thân thể mình làm sinh tế cho Đức Chúa Trời, Mác 10:45.
·        Tiên Tri: Lu ca chép lại các bài giảng rất dài của Chúa Jesus, vì Ngài là Tiên Tri từ Đức Chúa Trời mà đến.
Thân Vị Ngài là Con Đức Chúa Trời, thi hành ba chức năng là Vua, Thầy Tế Lễ, Tiên Tri.

5.     Tấm Màn Cửa hành Lang Đền Tạm:
Xuất hành 27:16 ghi “ cửa hành lang có một bức màn…bằng vải gai mịn (màu trắng), chỉ tím, đỏ điều đỏ sặm”( Bản Phan Khôi). Bản Hiệu đính sửa cách chính xác cho 4 sắc màu của bức màn nầy là: màu trắng, xanh da trời (blue), đỏ tía (purple), và đỏ thắm (scarlet).
    Bốn sắc màu nầy là phúc âm tứ diện về Chúa Jesus. Ngài là Con Người (màu trắng), Con Đức Chúa Trời ( màu thiên thanh, ngụ ở trên trời ), Ngài là Vua (màu đỏ tía, màu vương giả) và Ngài là Đầy tớ hi sinh (màu đỏ thắm, huyết).
   
     Ngợi khen Đức Chúa Trời vì 4 phúc âm là sứ điệp hoàn bị của Ngài công bố cho nhân loại trải các thời đại về Con yêu dấu của Ngài là Jesus Christ, Chúa chúng ta./.


JÊSUS, CON ĐỨC CHÚA TRỜI




Jêsus Con thuộc Đấng muôn đời,
Là Vị Thần Nhân sống giữa người.
Con độc sanh lòng Cha cứ ở,
Con đầu lòng giữa các em rồi.
Ngài sinh ra ấy Con duy nhất,
Chúa phục lâm Con trưởng thỏa vui.
Ở đất và trời cùng một lúc,
Con Người ấy vốn ở trên trời.

SỰ CỨU RỖI ĐẦY ĐỦ



Cứu rỗi trọn đầy ta hưởng vui,
Bao gồm hai yếu tố song đôi:
Chuộc đền pháp lý khách quan tất,
Cứu rỗi hữu cơ nội tại thôi.
Chúa chết chuộc ta trên thánh giá,
Ngài đang sinh hoạt ở tâm rồi.
Cứu ân địa vị thiên dân nắm,
Thực nghiệm cứu ân cần cả đời.

QUYỀN TRƯỞNG TỬ


QUYỀN TRƯỞNG TỬ

Quyền nam tử các thánh trên cao,
Tế lễ, ngôi vua, của cải dào.
Kẻ sống gian dâm nào hưởng đến,
Người ưa phàm tục có chi đâu.
Đam mê dâm đãng Ru-bên mất,
Luôn sống ham ăn thiệt Ê-sau.
Hội Thánh trưởng nam vô nước Chúa ,
Mất quyền trưởng tử khóc kêu gào.




CHÚA ĐẾN THẾ GIỚI


Chúa chuyển động lo cứu rỗi ta,
Con Ma-ri, nữ trinh sinh ra.
Vầng Đông thăm viếng dân tăm tối,
Sừng Cứu Rỗi xua kẻ nghịch tà.
Christ Trái Cây truyền đạt sự sống,
Jêsus Ánh Sáng lớn soi lòa.
Đêm đen Cựu ước nay chung kết,
Chúa đến giúp ta phụng sự Cha.


Vài Lời Chú Giải:

Câu 1 – Lu-ca 1:68, “Chúc tụng Chúa là Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên, vì Ngài đã đoái thăm và thi hành sự cứu chuộc cho dân Ngài”. Lời tiên tri của Xa-cha-ri luận về chuyển động cứu chuộc của Đức Chúa Trời  đối với dân Ngài, đem đến sự cứu rỗi cho họ. Chuyển động nầy được hoàn thành bởi sự dấy lên của Đấng Christ trong nhân tính Ngài, là Sừng Cứu rỗi từ trong nhà Đa-vít, và trong thần tính Ngài như Vầng Đông từ trên cao. Bởi sự thương xót dồi dào theo giao ước thánh, một Thân Vị vừa phàm nhân và thần thượng như vậy đã đến như một Cứu Chúa-Con Người, để thi hành công tác cứu rỗi nhân loại.

Câu 2-- Lu-ca 1:26,27, “Đến tháng thứ sáu thiên sứ Gáp-ri-ên được Đức Chúa Trời sai đến một thành thuộc Ga-li-lê gọi là Na-xa-rét, tới cùng một gái đồng trinh tên là Ma-ri, đã hứa gả cho một người tên là Giô-sép, về nhà Đa-vít.”. Trinh nữ Ma-ri đã sống trong một thành phố bị khinh dể, trong một miền không có danh tiếng, nhưng nàng vốn là hậu tự của hoàng tộc vua Đa-vít.
Câu 3-- Lu-ca 1:78, “Vốn do lòng thương xót của Đức Chúa Trời chúng tôi,
là Đấng đã khiến cho Vầng Đông từ nơi cao đoái thăm chúng tôi”. Jêsus, Cứu Chúa vốn là Vầng Đông đối với thời đại tối tăm. Sự hiện đến của Ngài đã kết thúc đêm tối Cựu ước và bắt đầu ngày mới của Tân Ước.

Câu 4- Lu-ca 1:69, “Dấy lên một Sừng Cứu rỗi cho chúng tôi trong nhà Đa-vít tôi tớ Ngài”.Theo Phục-truyền 33:17 và Thi-thiên 132:17, cái sừng nói lên quyền thế, quyền năng của dân Chúa và của Chúa Jêsus. Quyền năng Ngài đã chiến thắng và xua tan quyền lực của Sa-tan, là quyền đã từng tàn phá loài người.

Câu 5 – Lu-ca 1:41-42, “Vừa khi Ê-li-sa-bết nghe lời chào của Ma-ri, thì thai (hài nhi) trong lòng bèn nhảy nhót; Ê-li-sa-bết được đầy dẫy Thánh Linh, cất tiếng kêu lớn rằng: “Cô có phước trong làng phụ nữ, thai (trái cây) trong lòng cô cũng có phước”. Theo nguyên văn Hi lạp, chữ “thai” trong câu 41 là” hài nhi, con đỏ”, còn chữ “thai” trong câu 42 là “trái cây” (fruit). Từ ngữ “trái” (karpos) nầy cũng xuất hiện ở Công Vụ 2:30, “Đức Chúa Trời đã thề hứa với mình (Đa-vít) rằng sẽ dấy lên một Đấng từ trong dòng dõi ( trái) của mình để ngồi trên ngôi mình” và Khải 22:2, nói về trái cây sự sống trong thành thánh. Đấng Chist là Chồi Đức Giê-hô-va (thần tính- Ê-sai 4:20)  và Chồi Đa-vít (nhân tính- Giê. 23:6) và là trái của Ma-ri cũng như trái của Đa-vít, hầu chúng ta có thể thưởng thức Ngài như trái cây sự sống.

Câu 6- Ma-thi-ơ 4:16, “Dân ngồi trong tối tăm đã thấy ánh sáng lớn, những kẻ ngồi trong miền và dưới bóng sự chết, thì có ánh sáng mọc lên cho rồi". Đấng Christ đã hiện ra như ánh sáng lớn thuộc linh và siêu hình cho nhân loại đang ngồi trong miền dưới bóng sự chết..

Câu 7—Khải thị 12:1, “Đoạn, trên trời hiện ra một dấu lạ lớn: có một người đờn bà mình mặc mặt trời, chơn đạp mặt trăng, đầu đội mão miện bằng mười hai ngôi sao”. Trong Sáng thế ký 37:9, trong giấc mơ của mình, Giô-sép thấy mặt trời, mặt trăng và 11 ngôi sao, ngụ ý cha mẹ và 11 anh em ông. Nên mặt trời, mặt trăng và 11 ngôi sao cộng với Giô-sép ngụ ý toàn bộ dân Đức Chúa Trời trên trái đất vào thời đó. Do đó, trong dấu lạ về người đàn bà ở đây, thì cũng bao gồm toàn bộ dân Chúa trong ba thời đại: (1) thời đại mặt trời biểu hiệu Đấng Christ và dân thời Tân ước. (2) Trước đó là thời đại mặt trăng, biểu thị dân Chúa thời Cựu ước, thời luật pháp. Mặt trăng xuất hiện trong ban đêm. (3) Các ngôi sao ngụ ý thời đại các tổ phụ. Cho nên thời Cựu ước như một đêm tối, chỉ có mặt trăng và các vì sao xuất hiện, khi Vầng Đông mọc lên, không còn đêm tối nữa, và thời Tân ước đến.

Câu 8—Lu-ca 1:74, “Khiến cho chúng tôi, khi đã được giải cứu khỏi tay kẻ thù nghịch, thì được phụng sự Ngài cách không sợ hãi”. Trước khi được cứu rỗi, chúng ta phục dịch kẻ thù của Đức Chúa Trời, là Sa-tan. Sau khi được cứu rồi, chúng ta phụng sự Chúa. Theo nghĩa đen, động từ “phụng sự” ở đây là latreúo. Latréuo có nghĩa là làm thầy tế lễ phụng sự Đức Chúa Trời.

MINH KHẢI
16-12-2013

BABYLÔN SỤP ĐỔ




Babylôn bí nhiệm ghê thay,
Dường bột lọc hoà men thuở nay.
Chiếc búa trị dân do Chúa nắm,
Chén vàng đựng nước thánh đồ say.
Rô Ma tôn giáo, phường dâm nữ,
La Mã kinh đô thống lĩnh hoài.
Như đá quăng chìm vào biển cả,
Ba by lôn sụp xuống như vầy.

*Giê. 51:1,7,20, 51-52;Khải. 17:-18:



Từ Ngữ Kinh Thánh Cựu ước- 4


LỘT DA CON SINH DÂNG  TẾ LỄ  

   Leviky 1:6 chép, “người ấy lột da con vật làm tế lễ thiêu”( bản Revised Vietnamese version).
   Trong tiếng Heboro, động từ “lột” ở đây là “pashat”. Anh ngữ là :to flay, to strip off.
   Pashat xuất hiện lần đầu ở Sáng 37:23, “Giosep vừa đến chỗ các anh thì họ lột (pashat) áo choàng, là chiếc áo nhiều màu sắc cậu đang mặc trên người”.

LỊCH SỬ ISRAEL TRONG PHÚC ÂM GIĂNG



“ Thời gian từ khi chúng ta rời Ca-đe Ba-nê-a đến khi vượt qua khe Xết-rôn là 38 năm. Trong thời gian đó, các chiến binh thuộc thế hệ ấy đã bị tiêu diêt khỏi trại quân, như Đức Giê-hô-va đã thề với họ” (Phục 2:14).

   “ Tại Jerusalem, gần cửa Chiên, có một hồ nước, tiếng Hê-bơ-rơ gọi là Bê-tết-đa. Hồ có 5 vòm cửa. Rất nhiều người đau ốm, mù loà, què quặt, bại liệt nằm tại đó. Có một nguời mắc bệnh đã 38 năm. Chúa Jesus thấy người nầy nằm đó, vì biết bị bệnh đã lâu…”( Giăng 5:2-6).

KHOA HỌC MINH HỌA 2



1.CONNGƯỜI:

Con người là động vật duy nhất bước vào thế giới nầy mà không mặc quần áo gì. Mọi sinh vật khác đều đến đây với loại áo mặc riêng. Con rùa và con ốc sên làm cho cái vỏ, cái mai của chúng nó lớn lên. Con cá sản xuất vãy, con trừu làm ra bộ lông. Chim chóc sinh sản bộ lông vũ. Loài heo bao phủ bằng lông cứng. Nhím tạo ra lông ống; cá sấu Bắc Mỹ, voi, tê giác, trâu nước tạo ra bộ da dày như áo giáp. Nhưng con người bước vào thế giới cách trần trưồng và cứ ở như vậy cho đến khi quần áo được dự bị từ bên ngoài. Con người phải mang quần áo người khác làm ra. Loài trừu mang bộ lông trước khi bộ đồ len được làm ra. Con bò mang bộ da trước khi giày dép được chế tạo. Có các lý do cho điều nầy. Loài động vật không hầu việc Đức Chúa Trời. Chúng chỉ sống trong địa phương mình. Về mặt khác, con người được dựng nên để phụng sự Đức Chúa Trời và vì vậy chính mình phải mặc quần áo thích hợp với khu vực thế giới mà Đức Chúa Trời mong muốn anh ta sống. Anh ta có thể khoác quần áo dày cho các khu vực lạnh lẽo, hay quần áo mỏng cho các khu vực nóng nực; do đó Chúa để cho anh tự do làm cho mình thích hợp đường lối mình nên có.

KHOA HỌC MINH HỌA- 1




1.Thiên văn học
Thiên văn học diễn giảng quyền năng sáng tạo của Đức Chúa Trời. Mặt trăng có đường kính 2.163 dặm, đó là 309 lần 7. Đường kính trái đất là 7.917 dặm, đó là 1.131 lần 7. Sao Kim (Venus) có đường kính 7.630 dặm, đó là 1.090 lần 7. Sao Hỏa (Mars), đường kính 4.998 dặm, tức 714 lần 7. Mộc tinh và Thổ tinh có cùng đường kính 162.813 dặm, đó là 23.259 lần 7. Trái đất và Mặt trăng cộng lại là 1.440 lần 7 hay 10.080 dặm đường kính.
Ai đã làm điều đó? Ai xếp đặt các điều này theo trật tự chính xác như vậy? Bob Ingersoll hay Tom-Payne? Họ là làn gió thoảng qua, mà dám đứng thách đố Đức Chúa Trời hằng sống. Đức Chúa Trời đã làm như vậy – Đấng đã sai Con Ngài cứu độ bạn; Đấng đó đã dự bị các vật quí của đời sống để làm chúng ta yêu và tôn sùng Ngài. Lòng chúng ta cần cúi xuống tôn sùng một Đức Chúa Trời kỳ diệu như vậy là dường nào.

Sao Thủy vương tinh xoay trên trục của nó trong 86.730 giây một vòng, đó là 12.390 lần 7. Mộc tinh xoay trên trục 35.721 giây một vòng, là 5.103 lần 7. Mặt trăng Neptune xoay quanh trục trong 8.462 phút, đó là 1.209 lần 7. Trái đất xoay quanh trục trong 31.558.149 giây, đó là 4.508.307 lần 7. Ai làm điều đó? Ai đã làm mọi vật này xoay trong các chu kỳ của số 7? Bạn nói gì? Vâng, đó là Chúa làm điều đó; Đấng đó dự bị hạt giống cho người gieo, bánh cho người ăn, Đấng đó khiến mặt trời mọc lên để soi sáng, ban cho chúng ta nước để uống; và rồi dự trù một Cứu Chúa để cứu chúng ta khỏi các tội lỗi; ban sự tân sinh cho chúng ta, do đó đem lại cho chúng ta vui mừng và bình an giữa các nỗi đau buồn.

Có một điều khác mà Ngài đã làm. Ngài đã làm một vì sao gọi là sao Thiên Lang (Sirius) rộng lớn đến nỗi phải có sáu trăm triệu trái đất chúng ta mới ngang bằng sao đó. Bạn nắm được hình ảnh sáu trăm triệu chăng? Giả sử như chúng ta làm chủ một lô đất nhỏ 100m X 300m trong trung tâm thành phố, chúng ta có thể ưỡn ngực và nghĩ mình là người quan trọng. Ở đây có sao Thiên Lang, sao đó vĩ đại biết bao khi nó rộng hơn trái đất chúng ta đến sáu trăm triệu lần. Ai đã treo nó ở đó và ai giữ nó ở đó? Ồ, Chúa của bạn đã làm điều đó.

Rồi còn có sao Groombridge, là vì sao xa xôi nhất trong các từng trời, nó di chuyển 194 dặm một giây, tức 11.666 dặm trong một phút, và nó không bao giờ thay đổi tốc độ cùng kích thước. Có sao Polaris, là sao Bắc cực, nó cách xa chúng ta 2.318.000 lần khoảng cách giữa trái đất và mặt trời, hay là 210 ngàn tỉ dặm. Nếu một chuyến xe lửa tốc hành khởi sự từ Kansas city để đi đến sao Bắc cực và phải chạy một dặm một phút, thì phải mất 479 ngàn tỉ năm. Ai đã đặt sao Bắc cực ở đó? Ai giữ gìn nó? Chúa của bạn và tôi đã làm điều đó. Ồ, chúng ta có một Cứu Chúa diệu kỳ dường nào, và một Đức Chúa Trời lạ lùng làm sao! Ngài chăm sóc bạn và tôi.
2.Không khí
Có nhiều bằng chứng lớn về quyền năng và trí tuệ của Đức Chúa Trời trong thân thể con người. Thí dụ, tôi xin đề cập về không khí mà chúng ta hô hấp thì bao gồm 21% dưỡng khí và 79% đạm khí, hỗn hợp chứ không hòa lẫn. Đây đích xác là điều hai lá phổi mà Đức Chúa Trời làm nên, cần đến. Đức Chúa Trời sáng tạo Oxygen ở đâu và Nitrogen được tạo thành ở chỗ nào và hai chất nầy hỗn hợp với nhau theo tỉ lệ đúng này ở đâu? Không ai kiểm soát. Không ai hiểu nỗi. Chúng ta chỉ vui hưởng sự hô hấp và Đức Chúa Trời cho sự an nghỉ. Hai lá phổi được tạo thành như vậy để tiếp lấy Oxygen và đưa vào máu mà không cần sự nỗ lực của chúng ta. Đức Chúa Trời duy trì sự cung cấp liên tục, thậm chí chúng ta miên viễn sử dụng nó. Đây là một trong các dấu hiệu về sự chăm sóc yêu thương của Đức Chúa Trời. Có chừng ba hay bốn sự tổng hợp Oxygen và Nitrogen và tất cả đều có hại cho thân thể, chúng ta có thể thấy ngay sự nhân từ, nhân ái của Đức Chúa Trời mình khi ban cho chúng ta sự hỗn hợp đúng đắn để sản sinh sức khỏe và sinh lực.

3.Gió
Đang khi bay lên trên các đám mây trong hành trình mới đây (1931), tôi đã được nữ tiếp viên hàng không bảo rằng chúng tôi đang bay nhanh bất thường vì cớ đi ngang đuôi một ngọn gió rất mạnh. Sau đó chốc lát, chúng tôi đã bay vào một cơn bão, gió thổi vào phía này và phía kia làm cho chúng tôi lắc lư. Tâm trí tôi trở về với Thi-thiên 135: 7 “Ngài khiến gió ra từ các kho tàng của Ngài”.

Trong Kinh thánh, gió tiêu biểu cho các tình trạng và hoàn cảnh khác nhau của đời sống. Chúng ta có câu ngạn ngữ: “Gió xấu không thổi trên người lành”. Chúng ta nghe đôi điều về các cơn gió may mắn và gió rủi ro. Hiển nhiên Chúa đang phán cùng chúng ta trong câu kinh thánh này rằng: bất luận gió trong đời sống chúng ta có là gì, nó cũng rất có giá trị trong nhãn quan Đức Chúa Trời.

Kho tàng là nơi chứa đựng các vật quí có giá trị. Chỉ điều gì được đánh giá cao mới để trong kho tàng. Nên Chúa phán cùng chúng ta hoặc gió thổi êm ái hay khó chịu trong đời sống chúng ta, nó cũng là ngọn gió có giá trị và quí báu đối với Đức Chúa Trời. Gió phụng sự mục đích Ngài và hoàn thành ý chỉ Ngài.

Khi gió thổi, hoặc là gió hạnh phước hay nghịch cảnh, chúng ta hãy tự hỏi lòng mình xem gió có làm phong phú chúng ta theo đường lối nào chăng, vì nó xuất phát từ các kho tàng của Đức Chúa Trời và vì vậy phải có giá trị lớn. Nhờ các ngọn gió này, Đức Chúa Trời làm cho chúng ta trở nên điều Ngài mong muốn.

(Nguồn: Illustrations From Science By Walter L. Wilson)

TỪ NGỮ THÁNH KINH—MATHIO 12

TỪ NGỮ THÁNH KINH—MATHIO 12

I. VƯƠNG QUỐC:
1. Hạt Giống:
- Math. 6:13b, “vì vương quốc, quyền năng và vinh quang đều thuộc về Cha đời đời”.
2. Danh từ: Basileía: Kingdom: vương quốc, Nước. Có thể dịch:

a. Kingship, royal rule: vương quyền, quyền làm vua
- Lu. 19:12, “có một vị cao sang đi phương xa, để nhận lấy vương quốc trở về”.
- Lu. 19:15, “khi người ấy đã nhận lấy vương quốc trở về…”.
- I Cor. 15:24, “đoạn cuối cùng đến, là lúc Ngài sẽ giao vương quốc lại cho Đức Chúa Trời, Cha”.
- Heb. 1:8, “ quyền trượng ngay thẳng là quyền trượng của nước (vương quốc) Chúa”.
- Khải. 1:6, “làm cho chúng ta nên vương quốc, nên các thầy tế lễ cho Đức Chúa Trời…”
- Khải. 17:12, “mười sừng …là mười vua chưa nhận được vương quốc nào”.

b. Kingdom: lãnh thổ có vua cai trị: vương quốc
- Math. 4:8, “Ma quỉ chỉ cho Ngài các vương quốc của thế giới và vinh quang của chúng”.
- Mác 6:23, “con xin điều chi…đến nỗi phân nửa nước, ta (Hê-rốt) cũng cho”.
- Lu. 21:10, “dân nầy dấy nghịch dân kia, nước nọ đánh nước khác”.

c. Vương quốc Đức Chúa Trời hay vương quốc các từng trời (nuớc trời, nuớc thuộc thiên).
- Math. 3:2, “hãy ăn năn vì vương quốc các từng trời đã đến gần”.
- Math. 5:3, “phước cho các kẻ nghèo khó trong linh, vì nước trời là của các kẻ ấy”.
- Math. 5;10, “phước cho các kẻ chịu bắt bớ…vì nước thuộc thiên là của các kẻ ấy”.
- Math. 5:19, “ sẽ được gọi là lớn trong vương quốc thuộc thiên”.
- Mác 4:11, “đã ban cho các ngươi sự mầu nhiệm của vương quốc Đức Chúa Trời”.
- Lu.8:1, “Jesus giảng …Tin lành của vương quốc Đức Chúa Trời”.
- Giăng 3:3, “người nào chẳng được tái sanh, thì không thể thấy được nước Đức Chúa Trời”.
- Giăng 3:5, “không thể vào vương quốc Đức Chúa Trời được”.
- Công. 28:23, “người (Phao-lô)…. làm chứng về vương quốc Đức Chúa Trời”.
- Công 28:31, “Phao-lô …rao giảng nước Đức Chúa Trời và dạy dỗ những điều về Jesus Christ.”.
- Rô. 14:17, “vì vương quốc Đức Chúa Trời chẳng tại sự ăn uống…”.
- 1Cor. 4:20, “vì vương quốc Đức Chúa Trời chẳng tại lời nói, nhưng tại quyền năng”.
- Ga. 5:21, “ai phạm những việc thể ấy, thì không thừa kế vương quốc Đức Chúa Trời”.
- Math. 12:28, “nhờ Linh Đức Chúa Trời đuổi quỉ thì vương quốc Đức Chúa Trời đã đến”.
- Lu.11:20, “nhờ ngón tay Đức Chúa Trời đuổi quỉ, thì vương quốc Đức Chúa Trời đã đến”
- Lu. 21:31, “thấy những điều ấy xảy đến khá biết rằng nước Đức Chúa Trời đã gần rồi”
- Công 8:27, “là hoạn quan, hầu Can-đác, nữ vương nước Ê-thi-ô-bi”.
- Khải 18:7, “ta ngự ngôi nữ vương, không phải đàn bà goá”.
3. Danh Từ: Basíleios; the King: vua, hoàng đế, quốc vương, quân vương
- Math.2:1, “khi Jesus đã sinh ra tại Bết-lê-hem…đương đời vua Hê-rốt”.
-Math. 17:25, “các vua trên đất thâu thuế đinh lấy thuế của ai?”
- Mac 6:15, “vua Hê-rốt nghe nói về Jesus vì danh Ngài đã lẫy lừng”.
- Giăng 6:15, “Jesus biết chúng sắp đến bắt ép Ngài làm vua, nên lánh lên núi một mình”.
- Công 12:1, “Đương thuở đó vua Hê-rốt ra tay ngược đãi mấy nguời trong hội thánh”.
- 2Cor. 11:32, “viên tổng đốc thuộc quyền vua A-rê-ta cho canh giữ thành Đa-mách để bắt tôi …”.
- Heb. 7:1, “Mên-chi-xê-đéc nầy là vua của Salem”.
- Khải 1:5, “Jesus Christ…là Nguyên Thủ các vua trên trái đất”.
- 1 Tim. 2:2, “phải khẩn nguyện cầu thay cho các vua…”.
- 1 Phi. 2:13, “vì cớ Chúa, hãy thuận phục mọi chế độ của loài người, hoặc đối với vua là bậc tối cao”.
- 1 Phi. 2:17, “hãy tôn trọng mọi nguời. Hãy kính sợ Đức Chúa Trời. Hãy tôn trọng vua”.
- Math. 2: 2, “vua dân Do thái mới sanh ra ở đâu?”.
- Găng 1:49, “Thầy là Con Đức Chúa Trời, Thầy là Vua Israel”.
- 1 Tim. 1:17, “nguyện Vua đời đời…là Đức Chúa Trời duy nhất được vinh hiển…”.
- Khải 17:14, “Chiên con sẽ đắc thắng chúng, vì Ngài là ….Vua của các vua”.

4. Danh Từ: Basilískos: Petty king: Vua hèn hạ,
- Giăng 4:46, “có quan đại thần (basiliskos) kia có con trai…”
- Giăng 4:49, “quan đại thần nói rằng…”

5.Danh Từ: Basilissa: Nữ vương, Nữ hoàng, Hoàng hậu: Queen
- Math. 12:42, “nữ vương nam phương sẽ đứng lên với dòng dõi nầy mà định tôi nó”.
- Lu. 11:31, “trong cuộc xét đoán, nữ vương Nam phương sẽ đứng lên…định tội nó”.
- Công 8:37, “một người Ê-thi-ô-bi, là hoạn quan, người quyền thế, hầu Can-đác, nữ vương nước Ê-thi-ô-bi”.
-Khải 18:7, “ta (Babylon) ngự ngôi nữ vương, không phải đàn bà goá”.

6. Tính Từ: Basileios: Royal, Kingly: hoàng gia, nhà vua,
- 1 Phi. 2:9, “anh em là dòng giống được lựa chọn, là chức tế lễ hoàng gia”.
- Lu.7:27, “người mặc áo rực rỡ và sống sung sướng ở trong cung điện hoàng gia”.

7. Tính Từ: Basilikos: Royal, kingly: hoàng gia
- Công 12: 20, “vì họ ăn nhờ xứ sở của nhà vua (hoàng gia)”.
- Gia. 2:8, “nếu anh em giữ trọn luật pháp hoàng gia (BNC: chí tôn) ”.

8. Động Từ: Basileúo: to be king, to rule, to reign: trị vì, làm vua.
- Math. 2:22, “A-chê-lau nối ngôi Cha, là Hê-rốt, làm vua Giu-đê”
- Lu. 19;14, “chúng tôi không muốn người nầy (Jesus) làm vua chúng tôi”
- Lu. 19: 27, “những kẻ thù nghịch ta, là những kẻ không muốn Ta (Jesus) trị vì họ…”
- Khải 5:10, “họ nên nước, nên các thầy tế lễ cho Đức Chúa Trời…họ sẽ trị vì trên đất”.(Trừ bản RcV, mọi bản dịch đều dịch sai câu nầy).
- Rô. 5;14, “từ A-đam đến Môi-se, sự chết vẫn trị vì trên tất cả…”.
- Rô. 5:17, “những kẻ nhận lãnh ân điển…sẽ do một người là Jesus Christ mà trị vì trong sự sống”.
- Rô. 5:20, “tội lỗi đã nhơn sự chết mà trị vì thể nào, ân điển cũng nhơn sự công nghĩa mà trị vì thể ấy”.
- Khải 11:15, “vương quốc của thế giới trở nên nước của Chúa…Ngài sẽ trị vì đến đời đời”.
- Khải 11;17, “hỡi Chúa là Đức Chúa Trời…Ngài đã nắm quyền rất lớn mà trị vì”.
- Khải 19:6, “ha lê lu gia, vì Chúa là Đức Chúa trời chúng ta…đang trị vì…”.

   Trong sách Mathio có độc quyền chép danh từ  “nước trời” (vương quốc thuộc thiên, hay vương quốc các từng trời”. Nuớc trời là vương quốc kéo dài 3000 năm; 2000 năm Tân ước và 1000 năm Thiên hi niên. Danh từ “vương quốc Đức Chúa Trời” xuất hiện nhiều lần trong các phúc âm Giăng, Mác, Lu ca, và xuất hiện một số lần trong Mathio, tất cả đều ngụ ý ngụ ý vương quốc của Đức Chúa Trời cách tổng quát. Thánh đồ phải được có khả năng trị vì trong linh mình hôm nay trên mọi sự tiêu cực, thì mai kia họ mới được ban thưởng trị vì trong vương quốc ngàn năm

II. QUYỀN NĂNG:
1. Hạt Giống :
- Math. 6:13, “vì vương quốc, quyền năng và vinh quang đều thuộc về Cha đời đời”.

2. Danh Từ: Dunamis: power, might, strength, force: quyền năng, năng lực. Dunamis là ngữ căn của các từ ngữ Anh văn: dynamite (cốt mìn); dynamo: máy phát điện; dynamic: năng nỗ.
a/ Quyền năng:
- Math. 14:2, “đây là Giăng Báp-tít, nên các việc quyền năng hành động trong người vậy”.
- Math. 22:29, “các ngươi lầm…vì không biết quyền năng Đức Chúa Trời”.
- Công 1:8, “khi Thánh Linh giáng trên các ngươi, các ngươi sẽ nhận lãnh quyền năng”.
- Rô. 1:4, “được chứng minh cách có quyền năng là Con Đức Chúa Trời”.
- Col. 1:11, “nhờ cả mọi quyền năng mà anh em…đuợc đủ thứ nhẫn nại, kiên khổ”.
- 1 Tim 3:5, “bề ngoài hình như kỉnh kiền, nhưng thực ra đã chối bỏ quyền năng của sự ấy”.
- Heb. 7:16, “lập lên…theo quyền năng của sự sống bất hủ”.
- 2 Phi. 1:3, “quyền năng thần thượng của Ngài đã ban cho chúng ta mọi sự quan hệ đến sự sống và sự kỉnh kiền”.
- 2 Cor. 12:9, “Quyền năng của Ta (Chúa) nên trọn vẹn trong sự yếu đuối…hầu cho quyền năng của Đấng christ ở trên tôi”.

b/ Đức Chúa Trời: Từ ngữ “quyền năng” được hiểu là “Đức Chúa Trời”.
- Mác 14:62, “các ngươi sẽ thấy Con Người ngồi bên hữu quyền năng”.

c. Khả năng, khả thể:
- Math. 25:15, “Chủ giao kẻ nầy 5 ta lâng…kẻ khác một, tuỳ tài (quyền năng) mỗi người”.
- 2 Cor. 1:8, “chúng tôi đã bị đè nén cách cực độ, vượt quá khả năng( quyền năng) chịu đựng”

d/ Ý Nghĩa: “Dunamis” dịch là “ý nghĩa”
- 1 Cor. 14;11, “nếu tôi chẳng biết ý nghĩa (dunamis) của tiếng đó…”

e/ Việc quyền năng, phép lạ: deed of power, miracle
- Math. 11:20, “nhơn vì các thành mà Ngài đã làm phần nhiều việc quyền năng (dunamis)”.
- Mác 6:5, “ở đó Ngài không làm được việc quyền năng nào (dunamis)”.
- 2 Cor.12:12, “các dấu hiệu của một sứ đồ đã được tỏ ra…bằng…các việc quyền năng”.
- Heb. 2:4, “Đức Chúa Trời cũng dùng những dấu kỳ…và các việc quyền năng khác nhau”.

f/ Sức Mạnh Theo Ý Nghĩa Quân sự;
- Mác 13:25, “các ngôi sao từ trời sa xuống, các quyền năng trong các từng trời bị rúng động”.
- Lu.21:26, “người ta ngất đi vì kinh hãi…vì các quyền lực trên trời sẽ bị rúng động”.

g/. Quyền Năng Như Một Hữu Thể Siêu Nhiên Hay Thiên Sứ:
- Công 8:10, “người nầy gọi là quyền năng của Đức Chúa Trời gọi là lớn”
- Rô. 8:38, “bất cứ hoặc sự chết…hoặc quyền năng…đều chẳng có thể phân rẽ chúng ta khỏi sự yêu thương của Đức Chúa Trời”.
- Eph. 1:21, “vượt qua các bậc cháp chánh, quyền bính, thế lực (dunamis).

3. Danh Từ: Dunátes: ruler, Sovereign: người quyền thế
- Lu. 1:52, “Ngài …truất người quyền thế (dunastes) khỏi ngôi”.
- Công. 8:27, “một người Ê-thi-ô-bi, một hoạn quan, một người quyền thế, hầu của can-đác, nữ vương  Ê-thi-ô-bi”.
- 1Tim.6:15, “đến kỳ định Đấng Chủ Tể ( Quyền Thế) duy nhất, đáng chúc tụng được tỏ ra”.

4. Động Từ: Dunamai:  I can, I am able: có quyền năng, có khả năng, tôi có thể.
- Math. 6:24, “không ai có khả năng (dunamai) làm tôi mọi hai chủ…Đức Chúa Trời …ma môn”.
- Mác 3:23, “thể nào Satan có khả năng đuổi Satan được? ”.
- Lu. 9:40, “tôi đã nai xin môn đồ Thầy, song họ không có khả năng đuổi (quỉ ) được”.
- Công. 4:20, “chúng tôi không có khả năng không nói những điều mình đã thấy và nghe”.
- Công. 26:32, “người nầy có khả năng được thả ra nếu ông ta không kêu nài lên Sê-sa”.
- Giăng 6:60, “lời nầy ai có thể nghe đuợc”.
- Lu.12:26, “nếu đến việc nhỏ hơn hết, các ngươi còn không thể làm được”.
- 2 Cor. 13:8, “vì chúng tôi chẳng có thể làm gì trái với lẽ thật”.

5. Động Từ: Dunamóo: To strengthen: củng cố
- Col. 1;11, “nhờ cả mọi quyền năng mà anh em được thêm lực lượng ( to be strengthened)
- Heb. 11:34, “tắt mãnh lực của lửa hừng”.
- Eph. 6:10, “hãy nên mạnh mẽ (được quyền năng) trong Chúa”.

6. Động Từ: Dunatéo: To be strong: hãy mạnh mẽ
- 2 Cor. 13:3, “Đấng đối với anh em chẳng phải yếu đuối đâu, bèn là mạnh mẽ (quyền năng)  trong anh em vậy”.
- Rô. 14:4, “Chúa có quyền khiến nó đứng”.
- 2 Cor. 9: 8, “Đức Chúa Trời có thể (có khả năng) khiến cho mọi ân huệ được dư dật…”.

7. Tính Từ: Dunatos:
a/ Powerful, Mighty: mạnh mẽ
- Lu. 1:49, “Đấng quyền năng đã làm việc lớn cho tôi”.
- Công. 25:5, “những người quyền thế trong các ngươi hãy xuống với ta (Phết-tu)
- Rô. 4:21, “tin chắc rằng điều Ngài đã hứa Ngài cũng có thể làm trọn”.
- 2 Cor. 10:4, “khí giới tranh chiến của chúng tôi chẳng phải thuộc xác thịt, bèn là có quyền năng trước mặt Đức Chúa Trời”.
- 2 Cor. 13:9, “dầu chúng tôi yếu đuối mà anh em được mạnh mẽ”.
- Gia. 3:2, “không vấp váp trong lời nói …là người…có thể (có khả năng) hãm cầm cả thân thể nữa”.

b/ Possible: Có Thể
- Math. 19: 26, “đối với Đức Chúa Trời mọi sự đều có khả năng (có thể) cả”.
- Math. 26: 36, “Cha ơi, nếu có thể được, xin cho chén nầy qua khỏi con”.
- Gal. 4: 15, “nếu có thể được thì anh em cũng đã móc con mắt của anh em mà cho tôi”.
- Rô. 9: 22, “Đức Chúa Trời…làm cho biết quyền năng của Ngài”.

* Mác 14:62 nói quyền năng là Đức Chúa Trời. Ngài không chỉ có quyền năng, mà quyền năng là chính Ngài. Người có khả năng là có Chúa củng cố bên trong. Càng có Đức Chúa Trờ bên trong, thánh đồ trở nên người có quyền thế trước mặt Đức Chúa Trời và loài người. Quyền năng Đấng Christ đóng trại trên chúng ta, là chính Đức Chúa Trời ở trên chúng ta. Chúng ta đầy đẫy quyền năng là đầy dẫy Đức Chúa Trời. Quyền năng thần thượng là một thuộc tánh của Ngài.
III. VINH QUANG
A. Hạt Gống:
- Math. 6:13b, “ vì vương quốc, quyền năng, vinh quang đều thuộc về Cha đời đời”.
B. Doxa= Vinh quang: Glory.
1.Brighteness, Radiance, Splendour: Sự vinh hiển, vinh quang, rự rỡ,
- Lu 9:31, “Môi-se và Ê-li hiện ra trong sự vinh quang”.
- Công 22:11, “nhơn sự vinh quang của ánh sáng đó, tôi chẳng thấy đuợc”.
- 1Cor. 15:40, “vinh quang của hình thể thuộc thiên…”.

* Glory, Majesty as an attribute of God and heavenly Beings:
- Công.7:2, “Đức Chúa Trời của sự vinh hiển đã hiện ra cùng…Áp-ra-ham”.
- Rô. 1:23, “vinh hiển của Đức Chúa Trời bất hủ”.
- 1 Cor. 2:8, “nếu biết, họ chẳng đóng đinh Chúa của sự vinh hiển…”.
- Phil.3:21, “biến hóa thân thể…chúng ta ra giống như thân thể sụ vinh hiển của Ngài”.
- Col.1:11, “y theo đại năng của vinh quang Ngài hầu đuợc đủ thứ nhẫn nại…”
- Col. 1:27, “sự giàu có về vinh hiển của lẽ mầu nhiệm đó…là Christ ở trong anh em”.
- Heb. 1:3, “Con là sự chói lói của vinh quang Đức Chúa Trời”.
- Gia. 2:1, “tin nhận đức tin của Jesus Christ, là Chúa sự vinh hiển…”.
- Khải 15:8, “đền thờ đầy khói do vinh quang Đức Chúa Trời”.

* Có ý tưởng về quyền năng cặp theo:
- Rô. 6:4, “Christ nhờ vinh quang của Cha mà đuợc từ kẻ chết sống lại”.

*.Sự phản chiếu:
- 1 Cor. 11:7, “đàn ông là hình ảnh và vinh quang của Đức Chúa Trời”.

* Magnificience, Splendor of kings:
- Math.4:8, “Ma quỉ…chỉ cho Ngài các vương quốc của thế giới cùng vinh quang của các nước ấy…”.
- Math.6:29, “Sa-lô-môn trong mọi sự vinh quang của mình cũng không được mặc…”
- Khải 21:24, “các vua trên đất sẽ đem vinh quang mình vào đó (thành thánh)”.
- Khải 21;26, “người ta sẽ đem sự vinh quang của các dân vào đó”.

& Vinh quang là Đức Chúa Trời biểu lộ. Đức Chúa Trời vinh quang là Đức Chúa Trời biểu lộ. Ta được Chúa đem vào vinh quang là được đem vào chỗ có thể biểu lộ Đức Chúa Trời.

2. Fame, Renown, Honor: Danh tiếng, nổi danh
- Giăng 5:41, “Ta ( Jesus) chẳng tiếp nhận vinh quang từ người ta”
- Giăng 5:44, “các ngươi nhận vinh hiển lẫn nhau, không tìm kiếm vinh hiển đến từ Đức Chúa Trời”.
- Giăng 8:54, “nếu Ta (Jesus) tự tôn vinh (vinh hoá) thì sự vinh hiển Ta chẳng ra gì”.
- Giăng 12:43, “vì họ ham mến sự vinh hiển của loài người hơn sự vinh hiển của Đức Chúa Trời”.
- Rô. 3:23, “mọi người đều đã phạm tội, hụt mất vinh quang của Đức Chúa Trời”.
- 1 Tê. 2:6, “chẳng cầu vinh quang nơi người ta, hoặc nơi anh em”.
-1 Tê. 2:12, “Đấng kêu gọi anh em đến vương quốc và vinh quang của Ngài”.
-1 Tê.2:20, “anh em là sự vinh quang và sự vui mừng của chúng tôi”.

* Praise:
- Lu.2:14, “Vinh hiển thay Đức Chúa Trời ở nơi chí cao…”
- Công 12:23, “bởi vua chẳng nhường sự vinh hiển cho Đức Chúa Trời”.
- Rô. 11:36, “vinh hiển cho Ngài đời đời. amen.”
- 1Cor. 10:31, “hoặc ăn, hoặc uống…hãy vì vinh quang Đức Chúa Trời mà làm cả”.
- Phil. 2:11, “mọi lười đều thừa nhận Jesus christ là Chúa về vinh quang của Đức Chúa Trời”.
- Khải 19:7, “hãy vui mùng hớn hở…chúng ta sẽ dâng vinh quang cho Ngài”.

* Glorious Angelic Beings:
- Giu đe 8, “nhạo báng các bậc tôn trưởng”( các bậc vinh hiển).
- 2 Phi.2:10, “chẳng run sợ mà nhạo báng các bậc tôn trọng ( bậc vinh hiển).

B. Động từ: Doxazo:
1. To praise, To honor, To Magnify: tôn vinh, tôn đại, ngợi khen:
- Math. 5:16, “họ thấy các việc lành các ngươi mà tôn vinh Cha các ngươi ở trên các từng trời”
- Math.6:2, “thổi kèn trước mặt mình…để được vinh hiển nơi người ta”.
- Luca 5:25, “người đứng dậy…đi về nhà, tôn vinh Đức Chúa Trời”.
- 1Cor. 11:18, “chúng nghe những lời ấy đều nín thinh, tôn vinh Đức Chúa Trời…”.
- Rô. 11:13, “tôi tôn trọng (vinh hoá) chức vụ của tôi…”.
- 1Cor. 12:26, “nếu một chi thể nào được tôn vinh (vinh hoá)…các chi thể kia đồng vui mừng”.
- 1 Phi. 4:16, “vì Danh ấy mà tôn vinh Đức Chúa Trời”.

2. To clothe in splendour, to glorify: vinh hóa:
- Giăng 8:54, “ nếu Ta tự vinh hoá, thì vinh quang ta ( Jesus) chẳng ra gì, ấy là Cha vinh hoá Ta”.
- Giăng 13:3, “nếu Ta tự tôn vinh thì sự vinh hiển ta chẳng ra gì”.
- Giăng 17:1, “Cha ơi,…xin vinh hoá Con hầu cho Con Vvnh hoá Cha
- Giăng 17:4, “Con đã vinh hoá Cha trên đất, và làm xong công việc Cha giao cho làm”.
- Giăng 21:19, “Phi-e-rơ phải chết cách nào để vinh hoá Đức Chúa Trời”.
- 2 Cor. 3:10, “sự đã được vinh hoá trước kia không còn được vinh hoá gì nữa”.
-1 Phiero 1:8, “lấy sự vui vẻ không thể nói ra được và đuợc vinh hoá mà mừng rỡ cả thể”.

2. Cuộc Sống Sau Khi Chết:
- Giăng 7:37-39, “bấy giờ Linh (chưa an xuống ) vì Jesus chưa được vinh hoá”.
- Giăng 12:16, “đến khi Jesus được vinh hoá rồi, họ nhớ lại điều đó đã chép về Ngài”.
- Công 3:13, “Đức Chúa Trời của tổ phụ chúng tôi đã vinh hoá Tôi Tớ Ngài là Jesus”.
- Rô. 8:30, “những kẻ Ngài đã xưng nghĩa, thì Ngài cũng đã vinh hoá”.
  # Kết luận:
   Thực ra dịch “tôn vinh” không chính xác. Vì tôn vinh là làm vẻ vang. Dịch “vinh hóa” là đúng nhất. Chúng ta làm cho Chúa vinh hóa là làm cho Ngài biểu lộ qua chúng ta. Còn chúng ta được vinh hóa là chúng ta có khả năng biểu lộ Đức Chúa Trời.
   Thi 104:2 chép, “Chúa bao phủ mình bằng ánh sáng” 1 Giăng 1:5, nói, “Đức chúa Trời là ánh sáng”. Trong đời nầy, dầu chưa có thân thể vinh hiển, nhưng sau khi được vinh hóa rồi, Đức Chúa Trời sẽ tỏa sáng ra từ trong chúng ta bằng ánh sáng thần thượng siêu hình. Ngày đến thân thể chúng ta sẽ chói lòa như mặt trời (Math.13:43). Watchman Nee làm chứng rằng ông đã từng bị ánh sáng thần thượng ấy từ Cô Margaret Barber tỏa chiếu, vạch trần và giết chết tiêu cực trong ông nhiều lần. Vì Cô Barber là thánh đồ đã được vinh hóa rồi. Nguyện Chúa đem chúng ta vào chỗ có thể biểu lộ Ngài ngay hôm nay. Amen.