Thứ Năm, 10 tháng 2, 2022

Những Mẫu Người Trong Kinh Thánh- 1 -2

1-Ysác Ăn Không Ngồi Rồi 43 Năm?

So sánh Sáng thế ký 41:46 và Sáng thế ký 47:9, thì Gia cốp được 130 tuổi khi gặp lại Giô sép, khi ấy Giô sép đã được 39 tuổi. Vậy khi Ra-chên sanh Giô-sép, thì Gia cốp được 91, là lấy 130 trừ cho 39.
Xem Sáng 30:25-26, khi Ra chên sanh Giô sép là ngày Gia cốp mãn hạn 14 năm ở đợ nhà bố vợ La ban để cưới hai vợ Lê A và Ra Chên. Khấu trừ 91 với 14, chúng ta có con số 77, là tuổi của Gia cốp khi ông vâng lời Y sác, là bố đẻ, đi cưới vợ. Xem Sáng 28:1-5.
Sáng thế ký 25:26, Y-sác được 60 tuổi khi sanh Gia cốp và Ê-sau.
Khi Gia cốp ra đi cưới vợ thì Y sác đã được 137 tuổi. Sau khi Gia cốp và đại gia đình với 4 vợ và 13 con trở về gặp Y sác thì Y sác còn sống thêm 21 năm nữa với con cháu, và Y sác qua đời năm 180 tuổi- Xem Sáng 35: 27 -28.
Do tính toán ra, tôi nhận thấy, Y sác cách xa Gia cốp khoảng 22 năm, và ông sống chung với Gia đình đông đảo của Gia cốp đến 21 năm nữa.
Khi GIô sép bị bán lén đi, mà Gia cốp tưởng là bị thú dữ ăn thịt, thì lúc ấy ông nội là Y sác còn sống và chúng kiến mọi sự.
Ông Y-sác có tánh ham thích ăn thịt rừng. Và trong 22 năm không có Gia cốp ở nhà, thì Y sác làm gì cho Chúa? Ai cung cấp thịt rừng cho ông ăn?
Sau khi gia đình Gia cốp đoàn tụ, tôi tin Gia cốp phải ngã thịt đàn gia súc đông đảo của mình mỗi ngày để nuôi bố Y sác và các con trong suốt 21 năm trước khi ông và gia đình di trú xuống Ai cập.
Tôi thấy nhiều con cái Chúa ăn không ngồi rồi mấy chục năm dài, cà ngày nầy qua ngày khác. Mỗi ngày họ tìm kiếm món ngon vật lạ để ăn uống thỏa vui, mà không quan tâm hay dành thì giờ hầu việc Chúa gì cả. Đáng tiếc lắm thay!-
-===
Những Mẫu Người Trong Kinh Thánh- 2-
Giô-ách, người vong ân-
Những Mẫu Người Trong Kinh Thánh- 2
Giô -ách- người vong ân-
2 Vua 12: 2 Sử 23-24-
2 Sử 23:22, “Như vậy, vua Giô-ách không những quên ơn của Giê-hô-gia-đa, cha của Xa-cha-ri, đã làm cho mình mà còn giết con trai của ông ấy. Lúc sắp chết, Xa-cha-ri nói: “Nguyện Đức Giê-hô-va xem xét và báo ứng!”
Vua Giô sa phát, nước Giu đa kết thông gia với vua A-háp, nước Israel. Con trai Giô sa- phát là Giô ram lấy A-tha li, con gái A-háp, Giê sa bên, sinh ra A-cha xia. Sau khi A cha xia bị Giê hu bắn trọng thương rồi chết, A tha li chổi dạy giết hết dòng dõi của của A cha xia. Nhưng Giô sa bát, em gái vủa A cha xia, là vợ thầy thượng tế Giê hô gia đa, lén ẵm Giô ách là con nhỏ nhất của vua A cha xia, lúc ấy mới một tuổi, đem giấu trong đền thờ của Chúa.
Sau 6 năm cai trị của nữ hoàng độc ác A-tha-li, vào năm thứ bảy, Giê hô gia đa cùng các tướng lãnh lật đổ A-tha-li, giết chết bà đi, và lập Giô ách mới 7 tuổi lên ngồi trên.ngôi của vua David.
Thầy tế lễ Giê hô gia đa là dượng rễ của Giô ách đã đỡ đầu cho chức vụ làm vua của Giô ách suốt 23 năm đầu. Năm Giô ách được 30 tuổi ông khởi sự thể hiện nhân vị nhân cách của ông trong quyền làm vua. Kinh thánh chép, “Khi lên ngôi vua, Giô-ách được bảy tuổi và cai trị bốn mươi năm tại Giê-ru-sa-lem. Mẹ vua tên là Xi-bia quê ở Bê-e Sê-ba. Giô-ách làm điều ngay thẳng dưới mắt Đức Giê-hô-va suốt thời gian thầy tế lễ Giê-hô-gia-đa còn sống”
Kinh thánh chép, “Nhờ được thầy tế lễ Giê-hô-gia-đa dạy dỗ, Giô-ách làm điều ngay thẳng dưới mắt Đức Giê-hô-va trọn đời mình. Tuy nhiên, các nơi cao vẫn chưa bị tháo dỡ; dân chúng vẫn tiếp tục dâng sinh tế và đốt hương trên các nơi cao ấy.”
Sau khi thượng tế Giê hô gia đa qua đời, Giô ách bị các quan trưởng xúi giục thờ hình tượng mà A-tha-li, bà nội mình đã đem vào Giu đa. Chúa khiến quân Sy ri đến cướp phá xứ Gia đa. Chúa dấy con Giê hô gia đa là Xa cha ri, nói tiên tri chống sự thờ hình tượng của Vua. Vua và các quan trưởng tức giận và sai ngươi ném đá và giết tiên tri Xa cha ri đi. “Như vậy, vua Giô-ách không những quên ơn của Giê-hô-gia-đa, cha của Xa-cha-ri, đã làm cho mình mà còn giết con trai của ông ấy. Lúc sắp chết, Xa-cha-ri nói: “Nguyện Đức Giê-hô-va xem xét và báo ứng!”
Đó là một gương xấu cho hội thánh ngày nay. Tôi thấy rất nhiều tín đồ vong ân trong hội thánh. Không những không tri ân mà còn hãm hại những các bậc tiền bối, những người mở đường cho mình hầu việc Chúa:
Có một câu thánh ca cổ điển:
Lúc anh thu hoạch lúa chín hôm nay,
Hãy dâng lên là của lễ tôn trọng Cha,
Thiên dân hi sinh vì anh nhiều thay,
Giống bông lúa do hạt chết mọc ra.
Chẳng có dân thánh xưa nay tận trung,
Chịu đóng đinh, đau thương bao tháng ngày,
Đánh đuổi bầy quỷ khôi phục đường lối,
Làm gì anh có lúa ăn như vậy.

Chữa Lành Người Mù- Ba-ti-mê--2-

--Ba-ti-mê được kêu gọi -

Chúa Giêsu dừng lại. Vào thời Giô-suê, mặt trời đứng yên (Giô-suê 10: 12-13), nhưng bây giờ Đấng tạo thành mặt trời đứng yên. Người đã xác định hướng mặt của Ngài đi đến Giê-ru-sa-lem thì dừng lại. Tại sao? Có phải Ngài đã bị một quyền lực của kẻ thù ngăn cản việc tiếp tục đi trên con đường được Đức Chúa Trời chỉ định không? Không bao giờ. Trái tim tràn đầy tình yêu của Chúa đã khiến Ngài chú ý đến tiếng kêu la của một kẻ bất lực.
Chúa Giêsu đã truyền lệnh rằng phải gọi và đưa Ba-ti-mê đến với Người (Lu 18: 40). Các sứ giả của Chúa đã nói ba điều với Ba-ti-mê (Mác 10:49):
--"Hãy vững lòng" Bạn hãy khích lệ anh ấy trước, như Chúa đã làm nhiều lần.
--"Đứng dậy." Họ thúc giục anh ta đứng dậy.
--"Ngài gọi ngươi!" Họ nói rõ rằng chính Chúa Giê-su đã gọi anh ta.
Vì vậy, với tư cách là những sứ giả của Chúa, chúng ta có thể khuyến khích mọi người đến với Đấng Cứu Rỗi và chúng ta thúc giục họ đáp lại lời kêu gọi của Ngài kẻo họ bỏ lỡ sự cứu rỗi.
Người mù không thể chen mình vào đám đông. Vì vậy, Ba-ti-mê phải đợi cho đến khi Chúa Giêsu dừng lại và gọi anh ta. Đó là bây giờ! Phản ứng của Ba-ti-mê nói lên rất nhiều điều (Mác 10: 50):
"Anh ấy đã vứt bỏ áo ngoài của mình." Anh lặng lẽ không đặt chiếc áo của mình sang một bên, cất nó đi cẩn thận để tìm lại - không, anh kiên quyết ném nó đi. Anh muốn đến với Chúa càng sớm càng tốt.
Hắn nhảy dựng lên. Anh không từ từ đứng dậy, anh đã bật dậy.
"Và đến với Chúa Jêsus." Anh ta dường như đã lao đi mà không để những người trợ giúp sẵn sàng dẫn dắt anh ta.
Tất cả những điều này cho thấy Ba-ti-mê khao khát được chữa lành mãnh liệt như thế nào. Ngay cả ngày nay, giữa sự thờ ơ đáng sợ, vẫn có những người đang háo hức muốn biết con đường cứu rỗi. Vì không ai có ước nguyện này ghi trên trán, chúng ta phải gieo hạt giống Lời Chúa thật rộng rãi, để nó có thể rơi vào những tấm lòng đã được chuẩn bị sẵn sàng ở nơi này và nơi khác.
--Ba-ti-mê được chữa lành=
Khi Ba-ti-mê đến gần Chúa Giêsu, Chúa hỏi ông: "Con muốn ta làm gì cho con?" Tất nhiên Chúa biết điều này, nhưng điều quan trọng là Ba-ti-mê phải đưa ra yêu cầu để cảm thấy sâu sắc hơn sự phụ thuộc và bất lực của ông. Và những người xung quanh biết rằng người ăn xin Ba-ti-mê có đức tin để được chữa lành, và anh ta không đến để xin bố thí.
Ba-ti-mê đã không ngần ngại và xin Chúa Giê-su được sáng mắt (Mác 10: 51). Ông gọi Ngài là "Rabbuni" (tức là "Thầy"), cho thấy rằng ông coi trọng lời nói của Ngài cũng như việc làm của Ngài. Ông cũng tôn kính gọi Ngài là “Chúa” (Lu 18: 41). Ông tin rằng Chúa Jêsus có thể làm điều mà không con người nào có thể làm được: cho người mù nhìn thấy.
Chúa đã đáp ứng yêu cầu này như thế nào? Kinh thánh nói rõ điều gì ở trong lòng Ngài, những gì tay Ngài đã làm và lời Ngài phán:
Chúa Giêsu đã cảm động trong lòng (Math. 20: 34). Trái tim Ngài đầy xót thương. Điều này phân biệt Ngài với đám đông, vì họ đã khắc nghiệt với người mù.
Chúa Giêsu chạm vào mắt anh ta và nói: "Hãy sáng mắt lại!" (Math. 20: 34; Mác 10:41). Chúa đã bày tỏ lòng thương xót và quyền năng của Ngài bằng cách dễ dàng mở mắt người mù.
Chúa Giêsu cũng đã nói: “Anh hãy đi, lòng tin của anh đã chữa lành cho anh rồi” (Mác 10: 52; Lu 18: 42). Mặc dù sự chữa lành là một minh chứng tuyệt vời về quyền năng, nhưng Chúa không nói về nó mà nói về đức tin đã đòi hỏi quyền năng của Ngài. Mọi người đều nhận ra rằng người mù không được chữa lành vì anh ta đã làm điều gì đó, mà vì anh ta tin.
Ba-ti-mê mở to mắt đứng đó. Trước đây anh chỉ có thể khóc bằng mắt, nhưng bây giờ anh có thể nhìn thấy bằng mắt. Và điều đầu tiên anh nhìn thấy là đôi mắt nhân hậu của Người cứu hộ. Niềm vui lớn lao đã tràn ngập trái tim anh!
Con người ngày nay trông đợi gì nơi Chúa Giê-su? Nhiều người chỉ liên kết tên của Chúa Giê-su với những hướng dẫn tốt để sống với nhau, các giá trị cho xã hội, và những thứ tương tự. Họ không nghĩ rằng Ngài muốn dẫn tội nhân ra khỏi bóng tối để đến với ánh sáng diệu kỳ của Đức Chúa Trời. Sẽ thật bi thảm biết bao nếu Ba-ti-mê không yêu cầu được sáng mắt — và bi thảm hơn biết bao khi người ta chọn sống ở trong bóng tối mãi mãi!
--Ba-ti-mê theo Chúa Giê-su-
Khi công việc chữa bệnh hoàn thành, người Đấy Tớ hoàn hảo ngay lập tức tiếp tục. Với lời “Hãy đi đi” (Mác 10,52) Người để lại cho người được chữa lành chọn con đường xa hơn của mình. Nhưng không cần được hỏi, người mù trước đây đã đi theo bước chân của Ngài.
Chúa không cấm điều đó. Ngài cũng không ra lệnh cho Ba-ti-mê im lặng như Ngài đã làm với hai người mù được chữa lành trong Ma-thi-ơ 9: 30. Vì Ngài đang trên đường đến Giê-ru-sa-lem để được giới thiệu cho dân chúng với tư cách là Vua. Không chỉ có hai người mù kêu “Con vua Đavít!”, Mà còn có một đám đông lớn (Math. 21:9.15).
Ba-ti-mê đã theo Chúa Jêsus và tôn vinh Đức Chúa Trời trên con đường hạnh phúc của ông. Anh ta không đợi đến đền thờ để khen ngợi, nhưng lòng biết ơn đã bùng lên trong anh ta. Lời ca tụng này có tính lan truyền, bởi vì toàn dân được dẫn dắt để ca tụng Thiên Chúa (Lu 18: 43) - ngay cả những người trước đó đã tấn công Người.
Khi chúng ta ra khỏi bóng tối để đến với ánh sáng của Đức Chúa Trời, chúng ta có thể và nên theo Chúa Jêsus và dùng miệng mình mà tôn vinh Đức Chúa Trời. Môn đồ hóa và sự khen ngợi thuộc về nhau!
--Bản tóm tắt--
Chúa Jêsus sẵn sàng ban ánh sáng sự sống cho mọi người mù thuộc linh. Không có tội nhân nào phải chờ đợi một thời điểm đặc biệt cho đến khi có liên quan đến việc "chữa lành" của mình. Ngày nay mọi người đều có thể và nên kiên quyết nắm lấy bàn tay cứu độ của Đức Chúa Trời trong đức tin. Với tư cách là Cơ đốc nhân, nhiệm vụ của chúng ta là trình bày điều này với đồng loại.
Và khi một người nào đó đã bước đến gần Đấng Christ, điều tự nhiên là họ muốn ở gần Chúa Jêsus và miệng họ mở ra để ngợi khen Đức Chúa Trời.

Công Nghĩa- צְדָקָה--δικαιοσύνη-義-

Trong Kinh thánh, từ ngữ "công nghĩa" được bản Việt văn dịch là:
công bình, công chính, công nghĩa. Ai có thể phán quyết chữ nào trong ba chữ nầy là đúng ý nghĩa của nguyên văn Kinh thánh?
  1. Cựu ước: צְדָקָה. Chữ nầy được phiên âm là tsedâqâh, đọc là tsed-aw-kaw', nghĩa đen là công nghĩa, chính trực, công lí. דָקָה. xuất hiện 146 lần trong kinh cựu ước.
  2. Tân ước: δικαιοσύνη phiên âm là dikaiosunē, đọc là dik-ah-yos-oo'-nay., nghĩa đen là công bằng, sự công nghĩa, sự biện minh, sự xưng nghĩa. Từ ngữ nầy xuất hiện 94 lần trong kinh tân ước.
  3. 義- Vào khoảng năm 2400 TCN, sau khi tháp Ba bên tan rả, các nhà thông thái Trung hoa sáng chế chữ nầy theo ý nghĩa của việc dâng con chiên làm sinh tế lên Chúa trước thấp Ba bên..
Chữ 義 gồm có chữ 羊, dương, dịch là chiên con, hay dê con, nằm bên trên chữ 我, là ngã, là tôi. Ý nghĩa của chữ "nghĩa" là người công nghĩa là người núp mình dưới Chúa Giê-su, được Chúa Giê su bao phủ bản ngã mình.
Một lời dạy dỗ sai lầm của giáo hội là Chúa ban áo công nghĩa của Ngài cho chúng ta. Thật ra Đức Chúa Trời chỉ ban Chúa Giê-su cho chúng ta, và Đấng đó trở nên áo công bình, trở nên sự công nghĩa, trở nên mỹ đức công chính tái tạo, tái hiện trong đời sống chúng ta. Phao lô dạy dỗ, "Vả, ấy là nhờ Ngài mà anh em ở trong Đức Chúa Jêsus-Christ, là Đấng mà Đức Chúa Trời đã làm nên sự khôn-ngoan, sự công-bình, sự thánh hóa, và sự cứu-chuộc cho chúng ta" (1 Cor 1:30).
Đức Chúa Trời không ban sự công nghĩa của Đấng Christ cho chúng ta, Ngài ban thân vị Chúa Giê su cho chúng ta, hầu Chúa Giê-su trở nên sự công nghĩa, trở thành áo công bình bao phủ chúng ta vậy.
Có thể là hình ảnh về văn bản cho biết '我 「義'
Phiet Nguyen, Phiet Nguyen và 2 người khác
8 người đã xem
Thích
Bình luận
Chia sẻ

Thứ Ba, 8 tháng 2, 2022

LINH- RUACH- PNEUMA-SPIRIT-

Đến ngày nay (2022) bản dịch Kinh thánh truyền thống đã gần 100 tuổi. Cám ơn Chúa đã dùng bản kinh thánh Việt văn nầy trong nhà Chúa ngót một thế kỉ vừa qua. Nhưng bản nầy đã dịch một Danh hiệu của Chúa cách sai lầm nặng nề và do đó còn lưu lại kết quả xấu trong tư tưởng dân Chúa trong các hội thánh Tin lành Việt nam đến hôm nay như sau.
Sáng thế kí 1:2 TT dịch, "Thần Đức Chúa Trời vận-hành trên mặt nước" và Giăng 4: 24, "Đức Chúa Trời là Thần,". Điều đáng tiếc là bản hiệu đính 2010, cũng dịch là "Thần" trong Sáng 1: 2 và "thần linh" (không viết hoa) trong Giăng 4: 24.
Như bài trước tôi cắt nghĩa chữ "Thần" là chữ Hán nôm nghĩa là Đức Chúa Trời. Cho nên thật ngây ngô khi dịch "Thần (Đức Chúa Trời) của Đức Chúa Trời vận hành trên mặt nước". Người vô tín, vốn không có sự soi sáng của Thánh Linh, cũng không thể nói năng như vậy bao giờ. Cho nên theo nguyên văn Hebrew thì Sáng thế kí 1: 2 là : "And the Spirit of God moved upon the face of the waters.".- Linh của Đức Chúa Trời đã vận hành trên mặt nước.
--Trong chữ Hebrew, "Spirit" là רוּחַ phiên âm là rûach, đọc là roo'-akh. Nghĩa đen của chữ nầy có 3 nghĩa là : gió, Linh và hơi thở. Ruach xuất hiện khoảng 387 lần trong kinh Cựu ước. Xem Ezekiel 37, anh em sẽ thấy chữ ruach dịch luân phiên là gió hoặc hơi thở hoặc Linh của Chúa.
--Trong chữ Hi lạp, danh từ πνεῦμα , phiên âm là pneuma, và đọc là pnyoo'-mah. Chữ Pneuma cũng có 3 nghĩa: gió, Linh và hơi thở. Xem Giăng 3:8. Chúng ta nhớ có pneuma là Linh của Chúa và pneuma là tâm linh của con người. Vào thời Trung cổ, có trường phái Kinh viện triết học của giáo hội dịch sai lầm rằng: pneuma (spirit tiếng Anh hay esprit tiếng Pháp) là tinh thần, vì tinh thần khác với tâm linh của con người. Pneuma được chép 388 lần trong kinh Tân ước.
-- Trong Hán tự chữ Linh là 靈..
Trang website www.bible.ca cắt nghĩa chữ Linh như sau:
"Trong phần dưới của chữ Linh, dường như có liên quan đến ba người của Thần Cách (Godhead). Nó phác họa ba NGƯỜI cùng nhau. Dưới ba người nầy, chúng ta thấy một nhân vật như một Công Nhân Ma Thuật, gợi nhớ đến quyền năng kỳ diệu của Đức Chúa Trời trong công việc sáng tạo. Trong hình ảnh thứ hai này, ba ngôi vị của Đức Chúa Trời được vẽ ra một lần nữa. Thoạt nhìn, nó chia thành hai CON NGƯỜI và hình ảnh cho CÔNG VIỆC. Tuy nhiên, đường thẳng đứng (xem được đánh dấu) trong CÔNG VIỆC cũng có thể đại diện cho một NGƯỜI. Một đường ngang có thể có nghĩa là MỘT người như ở phần trên của chữ Linh, nhưng nó cũng có thể đại diện cho TOÀN BỘ, TOÀN THỂ hoặc TẤT CẢ. Hai đường ngang trong hình ảnh chữ này có thể ám chỉ đến trời và đất là kết quả của công trình thần kỳ của Đức Chúa Trời".
Cho nên tôi khuyên anh chị em đừng lẫn lộn Thần Và Linh. Phải phân biệt Linh lớn (Đức Thánh Linh) và linh nhỏ, tâm linh con người. Và đừng bao giờ hiểu rằng tâm linh con người là tinh thần, vì tinh thần thuộc về hồn người (soul). Tâm linh, tâm hồn và thân thể là ba phần của con người, xem 1 Tê sa lô ni ca 5: 23
Minh Khải-
Có thể là hình ảnh về văn bản

Đức Chúa Trời-- Thần- Elohim- Theos-

Chữ Hebrew là אֱלֹהִים, phiên âm là 'ĕlôhı̂ym đọc là el-o-heem'. Tiếng Anh dịch là God. Tiếng Hoa dịch nghĩa là Thần. Bản Kinh thánh truyền thống dịch chữ Linh (Spirit) là Thần rất sai lầm.
Danh từ Elohim trong tiếng Hebrew có nghĩa là Gods, Các Đức Chúa Trời, ngụ ý Đức Chúa Trời đa số.
Trong chữ Hoa, 神 gồm có hai chữ: chữ bên trái là một vị khải thị hay truyên bố, chữ bên phải là vị đặt con người trong vườn.
Danh từ Hi lạp θεός phiên âm là Theos, đọc là Theh'-os ngụ ý là God, Đức Chúa Trời.
Khi các giáo sĩ Công Giáo đến Hoa lục hồi thế kỉ 7 SCN, Họ tạm dùng chữ Hán "Thiên Chúa" để dịch nghĩa chữ Elohim. Chữ Thiên Chúa chỉ có nghĩa là "Chúa của bầu trời".
Hồi thế kỉ 16, các giáo sĩ Tây ban nha và Bô đào nha đến truyền giáo tại Việt Nam, học dịch chữ Thiên Chúa ra chữ Đức Chúa Trời-- Chúa của bầu trời-- cho Hội thánh tại Việt Nam dùng đến ngày hôm nay.
Đa số dân Chúa ngày nay không hiểu chữ Elohim là Đức Chúa Trời đa số và cũng không hiểu rõ rằng danh "Đức Chúa Trời" mà Hôi thánh Việt nam đang dùng không chuyển dịch hết ý nghĩa sâu nghiệm của chữ Elohim hay chữ Theos. Chữ "Thần" của người Hoa nhắc nhỡ chúng ta câu chuyện Chúa sáng tạo vườn Ê-đen . Đó là một chữ dịch có ý nghĩa thâm thúy.
Có thể là hình ảnh về văn bản
c

Thích
Bình luận
Chia sẻ

Li Hôn Và Tái Hôn- 1-

Phục truyền 24: 1-4; Ma-thi-ơ 5:32; Ma-thi-ơ 19: 8-9; 1 Cô-rinh-tô 7:10
Vấn đề li hôn và tái hôn là một chủ đề nóng của những Cơ Đốc nhân. Các ý kiến ​​rất khác nhau. Một số người nói rằng li hôn và hoặc tái hôn là hợp pháp trong một số điều kiện nhất định và trong những trường hợp ngoại lệ, những người khác bác bỏ cả hai và coi đó là điều đáng trách trong mọi trường hợp. Vẫn còn những người khác gặp ít rắc rối với việc thường xuyên li thân và kết hôn nhiều lần. Tuy nhiên, vẫn có sự đồng ý chung rằng sự kết nối trọn đời giữa người nam và người nữ là lý tưởng ràng buộc của Đức Chúa Trời mà chúng ta muốn đề cao, tôn vinh và thực hiện.
Chúng ta hãy xem Kinh thánh nói gì về điều này từng điểm một. Chúng ta bắt đầu với Cựu ước. Ở đây, chúng ta nên biết rằng các giới luật của luật pháp dành cho “người bằng xương bằng thịt”, cho “người đầu tiên”. Nhưng chúng ta, những Cơ đốc nhân có sự mặc khải đầy đủ về tư tưởng của Đức Chúa Trời qua Chúa Jêsus và những lời thuộc về Ngài, Ngài là “người thứ hai”. Vì vậy, mặc dù chúng ta học các nguyên tắc quan trọng và phân biệt sự khôn ngoan, tốt lành và công bình của Đức Chúa Trời trong các quy định của luật pháp, nhưng chúng ta không thể đơn giản áp dụng và đánh giá xác thực những gì luật pháp quy định.
-Phục truyền luật lệ ký 24
“Nếu một người đàn ông đã cưới vợ, nhưng sau đó người chồng không thỏa lòng về vợ vì thấy nơi nàng có điều gì không đoan chính, thì người đó có thể viết cho vợ một giấy li hôn, trao vào tay nàng rồi đuổi nàng ra khỏi nhà. Khi ra khỏi nhà, nàng lại đi làm vợ một người khác, và nếu người chồng sau cũng không ưa và cũng viết giấy li hôn, trao vào tay nàng rồi đuổi khỏi nhà, hoặc nếu chồng sau chết đi, thì người chồng đầu tiên, là người đã đuổi nàng đi, không được phép lấy nàng làm vợ một lần nữa, sau khi nàng đã bị ô uế. Đó là điều ghê tởm trước mặt Đức Giê-hô-va; anh em không được đem tội lỗi vào xứ mà Giê-hô-va Đức Chúa Trời anh em ban cho anh em làm sản nghiệp.”(Phục truyền24: 1-4).
Luật Môi-se đề cập đến vấn đề li hôn và tái hôn. Một số điểm nổi lên:
-Việc ly hôn không được ra lệnh hoặc khuyến nghị, nó chỉ đơn thuần được tuyên bố rằng có sự sa thải, từ bỏ vợ.
Lý do sa thải theo Phục truyền 24 chỉ có thể là người đàn ông nhận thấy điều gì đó xúc phạm ở người phụ nữ khiến cô ấy bực bội và gây ra sự thù hận nơi người đàn ông. Một cuộc hôn nhân không thể tan ra theo ý muốn.
Môi-se nói nhiều lần về sự tái hôn. Nghị định li hôn được đưa ra để xác nhận sự tan rã của cuộc hôn nhân hầu có thể tái hôn hợp pháp.
Người phụ nữ đã li hôn, theo Phục truyền 24, không được phép quay lại với người chồng đầu tiên nếu cô ấy đã kết hôn với một người đàn ông khác. Không quan trọng là người đàn ông mới này có vứt bỏ cô hay chết.
Chúng tôi thấy rằng theo luật pháp, dân của Đức Chúa Trời có thể bị sa thải và tái hôn trong một số trường hợp nhất định, mặc dù không được khuyến khích. Tuy nhiên, trong trường hợp hôn nhân hỗn hợp với dân ngoại, thì phải li hôn (E-xơ-ra 9 và 10). Việc li hôn bị từ chối nếu chồng của một người phụ nữ đã từ chối trinh tiết của cô ấy một cách ác ý hoặc đã cưỡng hiếp cô ấy (Phục truyền 22: 19.29).
Trong trường hợp ngoại tình, luật pháp không quy định về việc li hôn, nhưng về cơ bản là hình phạt tử hình (Lê. 20:10; Phục. 22: 22). Hình phạt tử hình chỉ được ra lệnh rõ ràng nếu hai người đã kết hôn với người khác có quan hệ tình dục với nhau. Rõ ràng, nếu một người đã kết hôn có quan hệ mật thiết với một người chưa kết hôn, điều này không được áp dụng, điều này có thể hiểu được do thực hành chế độ đa thê. Cũng cần phải nhớ rằng tội lỗi gian dâm rất khó chứng minh, như được nhấn mạnh bởi việc cung cấp nước
ghen tuông (Dân số ký 5: 11-31). Vì vậy, có thể tưởng tượng rằng trong một số trường hợp, một cuộc xét xử trước tòa án (và án tử hình) đã được hạn chế và thay vào đó là một sự phóng thích. Dù thế nào đi nữa, Giô-sép cũng đã một lần thầm muốn li hôn vợ hứa (Math 1: 19) sau khi nhận thấy Ma-ri đã không do ông làm thụ thai - mặc dù đây dĩ nhiên là một trường hợp đặc biệt về nhiều mặt.
Trước khi chúng ta chuyển sang các phân đoạn trong Tân Ước, cần đề cập đến việc Đức Chúa Trời ban cho dân Y-sơ-ra-ên giấy chứng nhận li dị vì tội tà dâm của họ. “Em gái nó là Ô-hô-li-ba đã thấy mọi việc đó; dù vậy nó buông mình theo tình dục hơn chị nó, và dâm đãng còn nhiều hơn nữa. Ta sẽ giao sự phán xét cho chúng và chúng sẽ xét xử ngươi theo luật của chúng." (Ê-xê 23:11, 24). Chúa đã đuổi Y-sơ-ra-ên bội đạo, vì ccô ta ngoại tình, và đưa cho cô ta bản án ly dị, nhưng Giu-đa bất trung, em gái của cô ta, không hề sợ hãi, .(Dĩ nhiên, đây không phải là một cuộc hôn nhân theo nghĩa đen. Tôi chỉ nói rằng trong thời Cựu Ước Chúa có cho dân Ngài àm tờ để vợ, giấy li hôn và đuổi vợ ngoại tình ra đi.

LI HÔN VÀ TÁI HÔN--2-

Ma-thi-ơ 5: 31-32, "Lại cũng dạy rằng: ‘Ai li dị vợ, hãy cho nàng một giấy li hôn.’ Nhưng Ta bảo các con: Ai li dị vợ không phải vì lý do ngoại tình thì làm cho vợ thành ra người ngoại tình, còn ai cưới người đàn bà bị li dị thì phạm tội ngoại tình".
Phục truyền 24 đề cập đến trường hợp một người đàn ông đuổi một người phụ nữ với tờ ly hôn vì anh ta phát hiện ra điều gì đó "bẩn thìu" về cô ấy. Nhiều thầy thông giáo đã rộng rãi thái quá khi hiểu ý nghĩa của “sự bẩn thỉu” này. Ví dụ, Ra-bi nổi tiếng và tự do tên là Rabbi Hillel, đã dạy rằng một bữa ăn tồi tệ là lý do để li hôn. Tuy nhiên, Môi-se đã ban hành sắc lệnh cấm trở lại với người vợ / chồng đã li hôn sau khi giấy li hôn đã được viết ra, để duy trì trật tự xã hội, không làm cho cuộc hôn nhân trở thành tùy chọn. Và mọi chuyện không ổn chút nào khi bạn viết giấy li dị tuyên bố của bạn đã tuân thủ Luật Môi-se.
Chúa Jêsus đã phơi sáng toàn bộ tâm trí của Đức Chúa Trời về vấn đề này. Ngài không trực tiếp phản đối bức thư li hôn, nhưng thể hiện tiêu chuẩn của riêng mình đối với việc sa thải vơ của người viết tờ để:
--Ai li hôn vợ thì phải chịu trách nhiệm về việc cô ấy ngoại tình. Bởi vì cô ấy sẽ (rất có thể) kết giao với một người đàn ông khác. Và bởi vì cuộc hôn nhân ban đầu không bị giải tán về mặt đạo đức, thì đó là ngoại tình cho cô ấy rồi.
Nhưng nếu người phụ nữ đã phạm gian dâm, bị chồng sa thải thì không nên có sự ngoại tình nào với người đàn ông khác Vì khi ấy người đàn bà đã thực sự ngoại tình rồi. Khi làm như vậy, cô đã đặt nền móng cho việc bị người đàn ông sa thải cô là hợp pháp.
--Ai kết hôn với một người phụ nữ đã ly hôn là phạm tội ngoại tình.
Chúa chỉ ra rằng, mặc dù những khó khăn nghiêm trọng nhất có thể hiện diện, nhưng mối quan hệ giữa con người với nhau này được Ngài nhận ra rõ ràng nhất. Dù là mối quan hệ trần thế, nhưng ánh sáng từ trời đã chiếu rọi vào nó; Việc duy trì sự thánh khiết của hôn nhân và khả năng cho phép bất cứ điều gì vi phạm sự thánh khiết đó đều bị Chúa Giê-su Christ khước từ. Ngoại lệ duy nhất là khi có điều gì đó đã phá hủy hôn nhân trước mắt Đức Chúa Trời . Trong trường hợp này, việc ly hôn chỉ là một sự thừa nhận công khai về sự thật rằng cuộc hôn nhân đã tan vỡ trước mắt Đức Chúa Trời vì tội lỗi ngoại tình lén lút của một trong hai người.
Nhưng có thể có những lý do thực sự [cụ thể là sự tà dâm], và trong trường hợp đó, mối dây hôn nhân với Đức Chúa Trời đã bị phá vỡ. Nếu một người có sự phân biệt đúng đắn về điều gì là hợp pháp trước mặt Chúa, tôi tin rằng không ai sẽ kết hôn chừng nào người bạn đời có tội vẫn còn sống. Nhưng nếu việc đó được thực hiện, tôi không thấy giáo hội có quyền nào phải giải quyết những gì đúng đắn .
Nếu so sánh những câu này với Ma-thi-ơ 19: 9, chúng ta thấy rằng cuộc hôn nhân được Đức Chúa Trời ấn định trọn đời đã bị phá vỡ bởi tội tà dâm nghiêm trọng của người chồng hoặc người vợ. Điều này cho phép bên vô tội tự do tái hôn, nhưng theo 1 Cô-rinh-tô 7 phải tái hôn 'trong Chúa'. Như một số người đã làm, thật là ngu ngốc khi tuyên bố rằng điều này chỉ áp dụng cho hành vi trái đạo đức trước hôn nhân mà sau đó mới được đưa ra ánh sáng (như trong Phục truyền 24: 1),, nhưng không áp dụng nếu phạm tội tương tự trong hôn nhân.
Điều này có nghĩa là vi phạm lời thề nguyện trung thành trong hôn nhân là một tội nhẹ hơn so với tội lỗi tình dục phạm phải trong tình trạng chưa kết hôn. Tầm quan trọng của đoạn văn này là hoàn toàn rõ ràng. Đàn ông hay phụ nữ ngoại tình phá vỡ mối ràng buộc. Việc li hôn chính thức tại tòa án hợp pháp hóa sự li thân và người vô tội được tự do trước mặt Chúa như thể hôn nhân chưa từng xảy ra .

LI HÔN VÀ TÁI HÔN --3--

Ma-thi-ơ 19-

Trong Ma-thi-ơ 19: 8-9, chúng ta đọc: “Ngài đáp: “Vì lòng các ngươi cứng cỏi, nên Môi-se cho phép ly dị vợ; nhưng, từ lúc ban đầu không có như vậy. Còn Ta nói với các ngươi: Hễ người nào không vì lý do gian dâm mà ly dị vợ và đi cưới người khác thì phạm tội ngoại tình”.
Ở đây, người đàn ông tự ý ly hôn được coi là kẻ ngoại tình chứ không phải như trong Ma-thi-ơ 5, được coi là kẻ khiến người phụ nữ trở thành phụ nữ ngoại tình. Từ ngữ cảnh cũng khá rõ ràng là không phải nói về những cặp đôi đính hôn ly thân, mà thực ra đôi khi người ta vẫn khẳng định ( Math. 19: 5).
--Chúng ta hãy xem xét Ma-thi-ơ 19 kỹ hơn -
Việc sa thải vợ mình được đề cập trong luật là một sự nhượng bộ đối với trái tim sắt đá của những người đàn ông. Nó không phù hợp với ý nghĩ ban đầu của Đức Chúa Trời về sự kết hợp trọn đời giữa vợ chồng, điều mà Môi-se đã viết ngay từ đầu.
Ai ly hôn vợ mình và cưới người phụ nữ khác là phạm tội ngoại tình. Điều này không chỉ áp dụng nếu vợ anh ta đã gian dâm. Khi đó người nam (hoặc ngược lại, người nữ) có thể ly hôn và cũng có thể kết hôn mà không phạm tội ngoại tình.
"Ai cưới một người phụ nữ đã ly hôn là phạm tội ngoại tình." - Một phụ nữ đã ly hôn đã ly hôn theo các điều kiện nói trên (tức là không vì gian dâm) không được kết hôn. Nếu cuộc hôn nhân không bị chấm dứt vì tội tà dâm mà vợ chồng lấy vợ mới, thì cả hai đều phạm tội ngoại tình.
Gian dâm làm lung lay hôn nhân tận nền tảng — và chỉ trong trường hợp này, người phối ngẫu không có lỗi khi theo đuổi theo sự ly hôn. Rõ ràng là một Cơ Đốc nhân nên tha thứ và cho người bạn đời cơ hội khởi đầu mới và chắc chắn nên được quan sát. Nhà phiên dịch Kinh thánh Rudolf Brockhaus viết: “Một Cơ đốc nhân đã không hành động với tâm inh ban ơn khi anh ta đệ đơn ly hôn”. Tiên tri Ô-sê thậm chí còn được Đức Chúa Trời trực tiếp yêu cầu yêu một người vợ ngoại tình (Ô-sê 3: 1).
Tuy nhiên, Chúa cho phép người bị phản bội có khả năng ly hôn, vì đôi khi có thể thấy quá khó để chịu đựng tình trạng gian dâm và không tha thứ được một cách lâu dài. Ly hôn không phải là một khuyến nghị, mà chỉ đơn thuần là một lựa chọn được đề cập trong một điều khoản cấp dưới, có thể nói như vậy. Đây là "lệnh khẩn cấp" cho các tình huống hoàn toàn lộn xộn. Thật không may, vẻ đẹp được ban cho trước kia đã sụp đổ (Sáng thế ký 2:24) không thể duy trì được khi đã sụp đổ.
“Ở đây Chúa thêm điều gì đó không có trong luật pháp, và Ngài đặt tâm trí của Đức Chúa Trời vào mối quan hệ này trong ánh sáng đầy đủ. Chỉ có một lý do hợp lệ để giải thể một cuộc hôn nhân: cuộc hôn nhân đó phải bị giải tán về mặt đạo đức trước khi nó thực sự có thể bị giải tán. Trong trường hợp gian dâm, mối ràng buộc trước mặt Đức Chúa Trời đã bị phá vỡ. Sự kết hợp hôn nhân không tương thích với tội lỗi này; sự tàn phá phát ra từ một người phụ nữ tiết lộ cho người khác những gì đã xảy ra trước mắt Chúa. Mọi thứ đều hoàn toàn đơn giản ... Việc đuổi một người phụ nữ vì đủ thứ lý do mỏng manh đã trở nên phổ biến đến mức ngay cả các môn đồ cũng bị sốc khi nghe Chúa nói về sự bất khả phân ly của hôn nhân.
Cũng trong Mác 10: 11-12 và trong Lu-ca 16:18, chúng ta tìm thấy những lời tuyên bố từ Chúa của chúng ta về vấn đề sa thải vợ. Ở đó ngoại lệ ("không phải vì gian dâm") không được đề cập. Điều này cũng dễ hiểu, vì Mác và Lu ca cũng không đề cập đến câu hỏi của những người Pha-ri-si rằng liệu người phụ nữ có thể ly dị vì lý do gì hay không ( Math. 19: 3). Trong Mác và Lu-ca, nguyên tắc tuyệt vời được trình bày một cách đơn giản: Hôn nhân là lẽ sống. Và nguyên tắc này nên được ghi nhớ một cách vững chắc và không đưa ra một quy tắc ngoại lệ nào.