Thứ Bảy, 11 tháng 9, 2021

CHÚA GIÊ-SU CHỊU CÁM DỖ?

 Ma-thi-ơ 4: 1, “Bấy giờ Thánh Linh đưa Đức Jêsus đến đồng vắng để chịu Ma quỷ cám dỗ”.

Khi xem xét chủ đề trang trọng và quan trọng về sự cám dỗ của Chúa, chúng ta cần nhớ rằng Ngài là Đức Chúa Trời và là con người trong một ngôi vị. Trong khi thực sự là con người như thể Ngài chưa bao giờ là Đức Chúa Trời, song le Ngài vẫn thực sự là Đức Chúa Trời như thể Ngài chưa bao giờ trở thành con người, và do đó chúng ta không được nghĩ Ngài chỉ là người bị thử thách, như A-đam ở trong vườn Ê-đen.

Việc thử thách Chúa Giê-xu trong đồng vắng không phải để xem liệu Ngài có phạm tội hay không, nhưng để chứng minh rằng Ngài hoàn toàn là Đấng không có tội và do đó Ngài là sự thay thế thích hợp cho những tội nhân cả về bản chất và thực tế.

Khi câu hỏi được đặt ra (có lẽ là câu hỏi ngây thơ), "Có thể nào Chúa Giê-su đã phạm tội không?" chúng ta cần cân nhắc trước khi trả lời trong câu khẳng định điều gì sẽ xảy ra nếu Ngài phạm tội. Ngài không phải là hai thân vị, mà là một. Ngài là Con của Đức Chúa Cha với hai bản tính là phàm nhân và thần thượng. Những bản chất này không bao giờ có thể tách rời sau khi Ngài hóa thân làm người

Bản chất nầy không thể hành động đối lập với bản chất kia; do đó ý nghĩ về tội lỗi liên quan đến Ngài là hoàn toàn ghê tởm. Chúa có thể nói, “Người cai trị thế giới này sẽ đến, và hắn không có gì trong Ta” (Giăng 14:30). Không có kẻ phản bội ẩn nấp bên trong Ngài. Ngay từ khi Ngài sinh ra, Ngài đã là “Đấng Thánh” (Lu-ca 1:35). Sự cám dỗ đã chứng tỏ Ngài là tất cả những gì Đức Chúa Trời Cha nói về Ngài, là: Con yêu dấu của Ngài, người mà Ngài đã tìm thấy tất cả niềm vui của mình (Ma-thi-ơ 3:17).

Hai Công Cụ Làm Ác Của Sa-tan-- Hai Con Thú-

Trong Khải Huyền 13, chúng ta có sự phát triển rõ ràng và đầy đủ về công cụ làm điều ác của Sa-tan. Chúng là hai thú mười sừng và hai sừng. Trước hết, đối với con rồng, kẻ dùng đuôi quét một phần ba  các ngôi sao xuống trái đất. Satan dưới hình thức của Đế chế La Mã, đã trao ngai vàng và nhiều quyền hành của hắn cho con thú thứ nhất. Con thứ hai không chỉ sử dụng quyền lực hành chính đầu tiên trước mặt con rồng, mà còn là sức mạnh chủ động của cái ác để dẫn dắt loài người nhìn nhận con vật đầu tiên, là con rồng.

Con thú là Đế chế La Mã ban đầu, nhưng phần lớn được sửa đổi theo tính cách mới. Nó có sự hoàn chỉnh hoàn hảo trong các hình thức chính phủ hoặc những người đứng đầu, nhưng bao gồm mười vương quốc. Nó không có mười hai sừng; ngụ ý không đầy đủ. Bảy sẽ là sự hoàn chỉnh của một loại cao hơn. Chiên Con có bảy sừng; người phụ nữ, mười hai ngôi sao trên đầu. Một là sự hoàn hảo trong chính nó; còn cái kia là hành chính (12 sao) khác ở con người. Bảy là số nguyên tố cao nhất (bạn không thể tạo ra nó); mười hai, số chia hoàn hảo nhất, bao gồm các phần tử giống nhau, nhưng được nhân lên, 4 nhân cho 3. Vì vậy, bốn là sự hoàn hảo hữu hạn của loại người vô tín, cũng như một hình vuông và vẫn là một hình lập phương, hoàn toàn giống nhau về mọi mặt nhưng hữu hạn.

Nhưng con thú có nhiều tên phạm thượng. Đó là kẻ thù công khai của Đức Chúa Trời và Đấng Christ của Ngài. Nó đã hấp thụ các đế chế trước nó và đại diện cho các đế chết qua rồi. Con rồng, sức mạnh trực tiếp của Sa-tan dưới hình thức Đế chế La Mã ngoại đạo, đã trao ngai vàng và quyền lực của mình cho con thú mới này. Điều đó không thuộc về Chúa. Đức Chúa Trời không sở hữu quyền năng nào trên trái đất. Trái đất đã có chiến tranh với Ngài.

BÁP-TÊM RỬA TỘI-

Công vụ 22:16, “Nay anh còn dần dà làm chi? Hãy chờ dậy, cầu khẩn danh Ngài mà chịu báp-têm, và rửa các tội của anh đi”.

Từ “rửa” theo nguyên văn là ἀπολούω, phiên âm là apolouō, đọc là ap-ol-oo'-o, tiếng Anh là release, set free, wash away—giải phóng, tẩy trừ đi. Bạn nhớ chữ “các tội: thuộc số nhiều, sins, ám chỉ các hành vi tội lỗi.

Giáo hội kia rao giảng cách sai lầm là chỉ cần được rảy nước thánh lên đầu, người tín đồ sẽ được rửa tội, được sạch các tội lỗi đời đời.

Sự thật của báp-têm bằng nước tại đây cho Sau-lơ, tức là cho Phao lô, sẽ giải phóng ông, xóa đi các tội lỗi, hành vi gian ác trước đây mà ông đã làm cho các cộng đồng dân Chúa.

 Lu ca mô tả, “Vả, Sau-lơ cứ thở hơi ngăm đe và tàn sát tín đồ của Chúa, ….hễ gặp ai thuộc về Đạo, bất cứ đờn ông đờn bà, thì trói giải về Giê-ru-sa-lem” (Công 9:1-2). Ông nói “Tôi từng bắt bớ Đạo nầy cho đến chết, bất kỳ đàn ông, đàn bà đều trói bỏ tù-- Tôi cũng đã ….bỏ tù nhiều thánh đồ, và lúc họ bị giết, tôi cũng bỏ thăm ưng thuận. Lại ghe phen tôi hình phạt họ trong các nhà hội, ra sức khiến họ lộng ngôn, và vì tôi giận họ quá đỗi, nên đuổi theo bắt bớ cho đến các thành ngoại quốc” (Công 22: 4; 26:10-11). Ông nói, “Thưa Chúa, chính họ biết rằng trong mỗi nhà hội tôi từng bỏ tù và đánh đòn những người tin Ngài.  Lại khi huyết Ê-tiên là chứng nhân của Ngài bị đổ ra, tôi cũng đứng một bên, tán thành và giữ áo xống những kẻ giết người” (Công 22:19-20).

 Những tội ác của Phao-lô phạm đến Chúa và nhà của Ngài, gây một bầu sát khí, một sự kinh sợ và ghê tởm với cộng đồng dân Chúa.

Nên khi Phao-lô được báp- têm công khai trong danh của Chúa Giê-su Christ, thì trong lòng ông được Chúa ban cho sự sống mới, đầy dẫy Thánh Linh ngay, còn bên ngoài, báp têm bằng nước đó giải phóng ông khỏi tình trạng thù ghét đối với các Cơ Đốc nhân, và nước báp-têm đó xóa đi những tội ác, khỏa lấp những việc bắt bớ của ông trên các hội thánh. Dân Chúa không còn sợ ông nữa, và bỏ qua những gian ác của ông.

Về một mặt, báp têm là rửa đi các tội ác của ông đối với cái nhìn của các Cơ Đốc nhân thời đó.TỘI-

 Công vụ 22:16, “Nay anh còn dần dà làm chi? Hãy chờ dậy, cầu khẩn danh Ngài mà chịu báp-têm, và rửa các tội của anh đi”.

Từ “rửa” theo nguyên văn là ἀπολούω, phiên âm là apolouō, đọc là ap-ol-oo'-o, tiếng Anh là release, set free, wash away—giải phóng, tẩy trừ đi. Bạn nhớ chữ “các tội: thuộc số nhiều, sins, ám chỉ các hành vi tội lỗi.

Giáo hội kia rao giảng cách sai lầm là chỉ cần được rảy nước thánh lên đầu, người tín đồ sẽ được rửa tội, được sạch các tội lỗi đời đời.

Sự thật của báp-têm bằng nước tại đây cho Sau-lơ, tức là cho Phao lô, sẽ giải phóng ông, xóa đi các tội lỗi, hành vi gian ác trước đây mà ông đã làm cho các cộng đồng dân Chúa.

 Lu ca mô tả, “Vả, Sau-lơ cứ thở hơi ngăm đe và tàn sát tín đồ của Chúa, ….hễ gặp ai thuộc về Đạo, bất cứ đờn ông đờn bà, thì trói giải về Giê-ru-sa-lem” (Công 9:1-2). Ông nói “Tôi từng bắt bớ Đạo nầy cho đến chết, bất kỳ đàn ông, đàn bà đều trói bỏ tù-- Tôi cũng đã ….bỏ tù nhiều thánh đồ, và lúc họ bị giết, tôi cũng bỏ thăm ưng thuận. Lại ghe phen tôi hình phạt họ trong các nhà hội, ra sức khiến họ lộng ngôn, và vì tôi giận họ quá đỗi, nên đuổi theo bắt bớ cho đến các thành ngoại quốc” (Công 22: 4; 26:10-11). Ông nói, “Thưa Chúa, chính họ biết rằng trong mỗi nhà hội tôi từng bỏ tù và đánh đòn những người tin Ngài.  Lại khi huyết Ê-tiên là chứng nhân của Ngài bị đổ ra, tôi cũng đứng một bên, tán thành và giữ áo xống những kẻ giết người” (Công 22:19-20).

 Những tội ác của Phao-lô phạm đến Chúa và nhà của Ngài, gây một bầu sát khí, một sự kinh sợ và ghê tởm với cộng đồng dân Chúa.

Nên khi Phao-lô được báp- têm công khai trong danh của Chúa Giê-su Christ, thì trong lòng ông được Chúa ban cho sự sống mới, đầy dẫy Thánh Linh ngay, còn bên ngoài, báp têm bằng nước đó giải phóng ông khỏi tình trạng thù ghét đối với các Cơ Đốc nhân, và nước báp-têm đó xóa đi những tội ác, khỏa lấp những việc bắt bớ của ông trên các hội thánh. Dân Chúa không còn sợ ông nữa, và bỏ qua những gian ác của ông.

Về một mặt, báp têm là rửa đi các tội ác của ông đối với cái nhìn của các Cơ Đốc nhân thời đó.

Ma-thi-ơ chương 3-

Chương ba của phúc âm Mathio mô tả lời rao giảng của Giăng Báp-tít theo sự ứng nghiệm lời của nhà tiên tri, "Có tiếng người kêu lên trong hoang mạc: ‘Hãy dọn đường cho Chúa. Làm thẳng các lối Ngài.”

Chúng ta có thể chắc chắn rằng “Chúa”, Đức Giê-hô-va, được nói đến bằng những lời này, thì không ai khác hơn là Chúa Jêsus, mà con đường đang được Giăng chuẩn bị cho Ngài là sự rao giảng về sự ăn năn. Giăng mô tả về Ngài cao trọng hơn chính mình ông, là lời xác nhận của điều này.
Báp têm của Chúa làm, không phải bằng nước, là hình thức bên ngoài, nhưng với Đức Thánh Linh. Điều nầy được hoàn thành vào Lễ Ngũ Tuần, khi các lưỡi lửa hiện ra, biểu hiệu bề ngoài của Đức Thánh Linh, đã đến trên các sứ đồ. Báp têm cuối cùng bằng lửa vẫn chờ đợi trong sự nhẫn nại của Chúa cho đến sự xét đoán cuối cùng trê nhân loại vô tín kể từ thời A-đam, sau 1000 năm bình an.
Tiếp theo chúng ta có một lời chứng về Chúa Giê-su, lớn hơn lời chứng của Giăng. Trong khi Chúa Giê su chịu báp-têm, các tầng trời được mở ra, và từ đó Đức Chúa Trời là Cha vinh quang tuyệt vời, tuyên bố Đấng thấp hèn đó là “Con yêu dấu của Ta, là Đấng mà Ta rất hài lòng". Lời của Nhân chứng thần thượng này được đóng ấn bởi sự giáng hạ của Đức Thánh Linh như chim bồ câu đậu trên Con Đức Chúa Trời. Như con chim của tình yêu, nỗi buồn và sinh tế, chim bồ câu là biểu hiệu tuyệt đẹp của tính cách và công việc của Ngài được chỉ định như vậy.

ĂN NĂN ĐỂ VÀO NƯỚC TRỜI-

Mathio 3:1, "Các ngươi hãy ăn năn, vì nước trời đã đến gần!"
Mathio 3: 8, 10, “Vậy, hãy kết quả xứng đáng với sự ăn năn, Nay búa đã để kề gốc cây rồi; hễ cây nào không sanh trái tốt thì đốn mà quăng vào lửa".
Thật không nghi ngờ gì, sự ăn năn là điều cần thiết vĩnh cửu đối với mọi hồn người khi đến gần Đức Chúa Trời; nhưng ánh sáng chiếu vào sự thật này là gì, khi chúng ta thấy sự can thiệp của chính Chúa, Đấng kêu gọi dân của Ngài đến với sự ăn năn này, bị gạt sang một bên — là sự từ chối của họ — toàn bộ hệ thống các mối quan hệ của họ với Ngài, và thiết lập một thời kỳ mới — một Vương quốc vốn chỉ thuộc về những ai nghe tiếng Ngài — và khiến sự phán xét của Ngài chờ từ lâu sẽ nổ ra chống lại dân Ngài và thành thánh Jerusalem mà Ngài đã ấp ủ bấy lâu! “Ước gì ngươi trong ngày nay ít nữa đã biết những điều quan hệ cho sự bình an! Song nay những điều ấy vẫn kín giấu đối với mắt ngươi" (Lu-ca 19:42).
Sự thật này nhường chỗ cho việc triển lãm một sự thật khác và cực kỳ quan trọng, được công bố ở đây liên quan đến các quyền tối thượng của Đức Chúa Trời hơn là các hậu quả của nó, nhưng tự nó đã chứa đựng tất cả những hệ quả đó. Mọi người từ khắp mọi nơi, và như chúng ta học biết ở những nơi khác, đặc biệt là những người không tin kính và bị khinh thường, đã thoát ra ngoài tôn giáo Do thái để chịu báp têm, thú nhận các tội lỗi của họ. Nhưng những ai, trong mắt họ, giữ vị trí quan trọng trong dân chúng, trong mắt của vị tiên tri yêu dân theo ý Đức Chúa Trời, lại là đối tượng của sự phán xét mà ông đã công bố. Cơn thịnh nộ sắp xảy ra. Ai đã cảnh báo những người ngạo mạn, ưa khinh dể người khác này chạy trốn khỏi con thịnh nộ của Chúa? Hãy để họ hạ mình như những người còn lại; hãy để họ thay thế vị trí thực sự của họ, và chứng minh sự thay đổi tấm lòng của họ.
Tự hào về những đặc quyền của quốc gia mình, hoặc của tổ phụ họ, chẳng ích lợi gì trước mặt Đức Chúa Trời. Ngài yêu cầu điều mà chính bản chất của Ngài, lẽ thật của Ngài, đã đòi hỏi. Hơn nữa, Ngài đã có chủ quyền; Ngài đã có thể từ những viên đá đó để dấy lên con cái cho Áp-ra-ham. Đây là điều mà ân điển tối cao của Ngài đã làm, qua Đấng Christ, đối với dân ngoại. Có thực tế cần thiết. Rìu đặt ở gốc cây, những cây nào không sinh trái tốt thì nên chặt đi. Đây là nguyên tắc đạo đức tuyệt vời mà bản án sẽ có hiệu lực. Cú đánh chưa được giáng xuống, nhưng chiếc rìu đã cắm vào gốc cây rồi.
Giăng đến để đưa những người đã tiếp nhận lời chứng của ông vào một vị trí mới, hoặc ít nhất là vào một trạng thái mới mà họ đã chuẩn bị cho điều đó. Khi họ ăn năn, ông sẽ phân biệt họ với những người còn lại bằng phép báp têm. Nhưng Đấng đang đến sau Giăng — Đấng mà Giăng không xứng đáng xách giày của Ngài — sẽ thanh trừng kỹ lưỡng sân đạp lúa của mình (Math 3:12), sẽ tách những người thực sự thuộc về Ngài, về mặt đạo đức của Ngài, khỏi dân Israel của Ngài (đó là sân đạp lúa của Ngài), và sẽ thi hành sự phán xét trên phần còn lại. Về phần mình, Giăng đã mở cửa cho sự ăn năn từ trước; sau đó sẽ đến sự phán xét.
1
9 người đã xem
Thích
Bình luận
Chia sẻ

Vài Lời Về Ma-thi-ơ Chương 3-

Bây giờ chúng ta bắt đầu chương 3 sách Mathio. Lịch sử thực tế của ông ấy. Giăng Báp-tít đến để dọn đường cho Đức Giê-hô-va, ông đi trước mặt Ngài, theo lời tiên tri của Ê-sai; công bố rằng nước thiên đàng đã ở trong tầm tay, và kêu gọi dân chúng ăn năn. Chính bởi ba điều này mà chức vụ của Giăng được định tính chất đối với dân Y-sơ-ra-ên trong Phúc âm này. 1/.Đầu tiên, chính Chúa là Đức Giê-hô-va đang đến. Đức Thánh Linh để lại những từ ngữ “dành cho Đức Chúa Trời của chúng ta” ở cuối câu, bởi vì Chúa Giê-su đến như một con người trong sự hạ mình, mặc dù đồng thời được thừa nhận là Đức Giê-hô-va, và dân Y-sơ-ra-ên không thể sở hữu Chúa, như không có quyền nói về Chúa là “ của chúng tôi."

2/.Ở vị trí thứ hai, vương quốc của thiên đàng đã ở trong tầm tay — thời kỳ mới đó sẽ thay thế cho một thời kỳ Cựu ước, nói một cách chính xác, là thời kỳ thuộc về Si-nai, nơi Chúa đã phán từ trên núi. Trong thời kỳ mới này, "các từng trời sẽ trị vì." Chỗ đó phải là nguồn gốc và đặc trưng, thẩm quyền của Đức Chúa Trời trong Đấng Christ của Ngài.
3/.Thứ ba, dân chúng, thay vì được ban phước trong tình trạng hiện tại, đã được kêu gọi ăn năn để có thể tiếp cận vương quốc này. Do đó, Giăng tiếp lấy vị trí của mình trong đồng vắng, khởi hành chức vụ với những người Do Thái, những người mà ông không thể liên kết họ với mình vì ông đến theo con đường công bình (chương 21:32). Thức ăn của ông ấy là thứ ông ấy tìm thấy trong đồng vắng (ngay cả những bộ quần áo tiên tri của ông ấy làm chứng cho vị trí mà ông ấy đã đảm nhận phần của Đức Chúa Trời), chính ông ấy được đầy dẫy Đức Thánh Linh từ trong lòng mẹ.
Ông cũng là một nhà tiên tri, vì ông đến từ Đức Chúa Trời, đến xưng hô với dân Đức Chúa Trời để kêu gọi họ ăn năn, và công bố sự ban phước của Đức Chúa Trời theo lời hứa của Giê-hô-va Đức Chúa Trời của họ; nhưng ông còn lớn hơn cả mọi nhà tiên tri (Math 11:11), vì ông đã tuyên bố ngay lập tức về việc giới thiệu một thời kỳ mới, đã được mong đợi từ lâu, và sự xuất hiện của Chúa trong Thân vị sống. Đồng thời, tuy đến cùng Y-sơ-ra-ên, nhưng Ngài không chiếm hữu dân nầy, vì họ sẽ bị đoán xét; sân đập lúa của Đức Giê-hô-va phải được tẩy sạch, những cây không sinh trái tốt sẽ bị đốn hạ. Sẽ chỉ là dân sót nếu Đức Giê-hô-va được đặt vào vị trí mới trong vương quốc mà ngài đã công bố, mà vương quốc này chưa được tiết lộ về việc nó sẽ được thành lập theo cách nào. Giăng tuyên bố sự phán xét trên người dân.
Thật là một sự thật vĩ đại vô cùng là sự hiện diện của Chúa là Đức Chúa Trời ở giữa dân của Ngài, trong Ngôi vị của Ngài, Đấng, mặc dù Ông Giăng không nghi ngờ gì là sự hoàn thành của tất cả các lời hứa, nhưng nhất thiết, mặc dù Chúa bị từ chối, là Đấng phán xét của tất cả, về điều ác hiện hữu trong dân của Ngài!
Và chúng ta càng cho những đoạn văn này có sự ứng dụng thực sự của chúng, nghĩa là chúng ta càng áp dụng chúng cho Israel, chúng ta càng hiểu rõ sức mạnh thực sự của chúng.

TIN CHÚA VÀ CHỊU BÁP-TÊM-

 Mác 16:16, “Ai tin và chịu báp-têm thì được cứu….”

Công 2: 41, “Vậy, những kẻ tiếp nhận lời đó đều chịu báp-têm; trong ngày ấy thêm lên được độ ba ngàn  hồn”.

Chữ “báp-têm” có nghĩa đen là “dìm xuống”, người chịu báp-têm trong nước là được trầm mình xuống nước. Nước tượng trưng mồ chôn của người tin, để chôn người cũ và  lịch sử quá khứ của người.

Tin là tiếp nhận Chúa vào lòng, vào tâm linh (Giăng 1:12), không chỉ để được tha thứ các tội lỗi (Công 10:43), nhưng cũng để được tái sinh (1 Phiero 1:21, 23). Do đó những người tin trở thành con cái của Đức Chúa Trời và các chi thể của Đấng Christ (Eph 5:30) hình thành Thân Thể Ngài.

 Báp-têm trong nước là khẳng định điều nầy bởi việc được chôn mà chấm dứt sáng tạo cũ qua sự đồng hóa với sự chết của Cứu Chúa (Rô. 6:4) và được sống lại làm sáng tạo mới của Đức Chúa Trời qua sự phục sinh của Đấng Christ.

 Báp-têm của Giăng Báp tít chỉ  giúp người ta ăn năn các tội lỗi mình, từ bỏ nếp sống cũ (Công 1:4), không giúp cho người chịu báp têm tiếp nhận được Chúa vào lòng, để được cứu rỗi và tái sinh.

Tin và chịu báp-têm là hai phần của một bước để tiếp nhận sự cứu rỗi đầy đủ của Đức Chúa Trời. Chịu báp-têm mà không tin trong lòng thì đó chỉ là nghi lễ trống rỗng, còn tin trong lòng mà không chịu báp têm công khai thì chỉ được cứu bên trong (Rô 10:10) mà không có sự khẳng định bên ngoài về sự cứu rỗi bên trong.--- tức là chưa được cứu rỗi trước mặt loài người.

Thứ Năm, 9 tháng 9, 2021

Có Phải Chỉ Có Bốn Đế Chế?

Khải huyền 13: 2; Xa-cha-ri 6: 1-18; Daniel 2:

--Câu hỏi: Khi nói đến lời tiên tri trong Kinh thánh, tôi vẫn nghe nói đến bốn đế chế. Nhưng không phải đã có hơn bốn đế chế trong lịch sử sao?

--Trả lời: Câu hỏi này là chính đáng. Trước hết, cần đề cập đến bốn đế quốc trên thế giới, đóng một vai trò quan trọng trong lời tiên tri trong Kinh thánh (xem Đa 2 và 7; Xa 6:1–8; Rev 13:2):

1.) Đế chế Ba-by-lôn (khoảng 609-539 TCN)

2.) Đế chế Mê-đô Ba- Tư (khoảng 539–330 TCN)

3.) Đế chế Hi Lạp (khoảng 330–146 TCN)

4.) Đế chế La Mã (khoảng 146 TCN-476 SCN)

Trước khi Đế chế Ba-by-lôn trở thành cường quốc thống trị, Đế chế A-si-ri đã tồn tại. Đế chế này đôi khi được sử sách gọi là đế chế thế giới và cũng rộng lớn như Đế chế Ba-by-lôn. Tuy nhiên, Đế chế A-si-ri không được nhắc đến như một đế chế thế giới trong Sách Đa-ni-ên vì có một điểm khác biệt quan trọng: Chính những người Ba-by-lôn đã phá hủy Giê-ru-sa-lem và đảm bảo rằng vương quyền do Đức Chúa Trời thiết lập ở Israel chấm dứt. Trong quyền cai trị của mình, Đức Chúa Trời đặt mọi quyền cai trị trong tay Vua Nê-bu-cát-nết-sa của Ba-by-lôn. Với điều này đã bắt đầu “thời của các dân tộc” (Lu-ca 21:24). Từ thời điểm đó, Israel giống như Ô-sê 1 biểu thị “Lo-Ru-ha-ma” (không được ân xá) và “Lo-Ammi” (không phải dân của Ta). Đối với việc quản lý trái đất, Israel giờ đây đã bị gạt sang một bên, ngay cả khi Đức Chúa Trời vẫn còn “chiếm đóng”  người Do Thái và cũng ban cho họ một sự phục hưng quốc gia.

Vào năm 539 trước Công nguyên, Ba-by-lôn bị người Mê-đô Ba- Tư chinh phục (Ê-sai 13:17-22; Đa. 6:1). Chỉ hai năm sau, một phần còn lại của người Do Thái đã có thể trở về đất nước của họ (E-xơ-ra 1). Người Do Thái trên thực tế đã hình thành một nhà nước nhỏ một lần nữa, ngay cả khi họ phụ thuộc vào quyền lực của các đế quốc khác nhau. Đất nước này cuối cùng đã trở thành một phần của đế chế Hi Lạp hoặc đế chế của các vua Sy-ri. Vào năm 63 trước Công nguyên, Israel nằm dưới quyền cai trị của người La Mã. Người Do Thái đã chiến đấu bằng một số cuộc giao tranh với lực lượng La mã chiếm đóng, và vào năm 70 sau Công nguyên, thành phố Jerusalem và đền thờ đã bị phá hủy. Vào năm 135 sau Công nguyên, người La Mã đã dẹp tan cuộc nổi dậy cuối cùng của người Do Thái, phá hủy những gì còn lại của một khu định cư lớn hơn của người Do Thái và phân tán người Do Thái còn lại trong xứ thánh đến trên toàn thế giới. Israel không còn tồn tại như một quốc gia. Bản thân đế chế La Mã sau đó cũng đã sụp đổ vào năm 476 sau Công nguyên (tức là đế chế La Mã phương Tây).

Các đế chế thế giới đến sau thời điểm này đều nằm ngoài sự xem xét của các nhà tiên tri, vì không có liên quan trực tiếp nào đến Israel. Điều này bao gồm, ví dụ, đế chế Mông Cổ, đế chết Hồi giáo…đã hình thành khu vực thống trị nhất quán lớn nhất trong lịch sử thế giới. Tuy nhiên, vì lý do đã đưa ra, họ không được tính trong số bốn đế chế thế giới mô tả trong sách Đa-ni-ên.

Đế chế La Mã và Israel đã biến mất khỏi bản đồ thế giới trong nhiều thế kỷ. Nhưng rõ ràng từ lời tiên tri trong Kinh thánh nói rằng phải có cả hai quyền lực nầy hối sinh nếu Chúa Jêsus tái xuất hiện trong quyền năng và vinh quang. Sứ đồ Giăng viết rằng Đế quốc La Mã đã tồn tại (vào thời của nó) và không tồn tại (điều đó vẫn còn xảy ra ngày nay) và sẽ trở lại (Khải 17: 8). Vương quốc đến từ vực thẳm này sẽ bị xóa bỏ khi Chúa Jêsus lên nắm quyền cai trị (Đa 2: 44,45; 7:11-14; Khải 13: 19,19-21). Ngài cũng sẽ xét xử Antichrist và những người Israel không tin Chúa trước khi lên ngôi tại Giê-ru-sa-lem và bắt đầu triều đại đầy phước hạnh (Ê-sai 30:19; Giê 31: 38-40; Ê-xêch- 48; Rô 11:26, 27).

Rồi ngày nay, chúng ta có thể thấy những diễn biến chính trị dường như thể hiện sự chuẩn bị cho "thời kỳ cuối cùng". Năm 1948, trước sự ngạc nhiên của nhiều người, nhà nước Israel được công bố. Ngay cả khi đế chế La Mã vẫn chưa trỗi dậy từ vực thẳm, điều đáng chú ý là ngay sau đó, vào năm 1957, một số quốc gia châu Âu đã ký Hiệp ước Rome, tạo nên Cộng đồng Kinh tế châu Âu (EEC). Ngay sau khi Israel xuất hiện trở lại trên bình diện chính trị, châu Âu đã xích lại gần nhau hơn! Người ta tự hỏi: Sẽ mất bao lâu trước khi đế chế La Mã trỗi dậy từ vực thẳm và mọi điều Kinh thánh đã báo trước - cũng như về sự phán xét đối với Israel - sẽ xảy ra?

Thể Chế Tế Lễ Tổng Quát-

1 Phi-e-rơ 2: 4, “anh em …làm chức tế lễ thánh, để dâng linh tế nhờ Jêsus Christ được Đức Chúa Trời vui nhận”.

Khải Huyền 1:6, “làm cho chúng ta nên nước, nên thầy tế lễ cho Đức Chúa Trời là Cha của Ngài”.

Trong một số nhà thờ (cộng đồng) không có người truyền đạo thường trực. Điều này thường được chứng minh với thực tế là người ta muốn nhận ra “chức tư tế chung của các tín đồ” trong các cộng đồng này.

Tuy nhiên, với câu nói này, người ta nghe và đọc rất thường xuyên, chứng tỏ rằng người ta chưa thực sự hiểu ngữ cảnh. Bởi vì chức tư tế của tất cả các tín hữu không liên quan gì đến phụng sự ở công trường!

Tất cả các tín hữu đều có chức tư tế (1 Phi. 2:4; Khải 1:6). Tất cả chúng ta đều có thể đến trước mặt Đức Chúa Trời với  của lễ thuộc linh của mình. Người Israel xưa kia không thể làm điều đó. Hầu hết họ không phải là thầy tế lễ và do đó họ phải nhờ đến sự phục vụ của các thầy tế lễ nếu họ muốn dâng của lễ cho Đức Chúa Trời. Khi các Cơ Đốc nhân thờ phượng Đức Chúa Trời một cách cá nhân hoặc tập thể, chúng ta không cần những người lãnh đạo hay giáo nghi. Tất cả những Cơ Đốc nhân chúng ta hãy mạnh dạn bước vào nơi tôn nghiêm, trên con đường mới và sống (Hê. 10:19).

Chức vụ giảng Lời Kinh thánh là một vấn đề hoàn toàn khác. Nó không được giao phó cho tất cả mọi người. Chúa ban những ơn tứ của Ngài theo nhiều cách khác nhau (1Cor 12; Rom 12; Eph 4) và chỉ một số có thể được gọi là “thừa sai của Lời” (Lu ca 1:2; Công 6:4).

Không nơi nào trong Kinh Thánh, chúng ta tìm thấy một giảng sư hoặc mục tử được con người thuê mướn để chuyên trách giảng Kinh thánh.. Khi các Cơ Đốc nhân đi trước điều đó, không phải vì họ muốn thi hành “chức tư tế thông thường” mà vì họ muốn những ân tứ khác nhau do Chúa vinh hiển ban cho sẽ được thực hiện trong các buổi nhóm dưới tác động của Đức Thánh Linh.

Đừng Vấy Bẩn Bản Thân-

Khải Huyền 14: 4, “Những lẻ ấy chưa bị ô uế với đàn bà, vì vốn còn đồng than”.

2 Cô-rinh-tô 11: 2-3, “Vì tôi lấy sự ghen tức của Đức Chúa Trời mà ghen tức anh em, bởi tôi đã gả anh em cho một chồng mà thôi, hầu trình diện anh em cho Đấng Christ như một đồng nữ trinh khiết.  Nhưng tôi ngại rằng tâm tư của anh em bị bại hoại mất sự đơn thuần thanh khiết đối với Đấng Christ,cũng như xưa kia con rắn đã dùng quỉ kế mà dụ hoặc Ê-va vậy”

Cơ đốc nhân được hứa hôn với Đấng Christ như một trinh nữ thuần khiết; Do đó, họ nên hướng tình cảm của mình về phía Người và không cho phép mình bị ngăn cách với Người (2 Cor. 11: 2-3).

Kinh thánh nói về những người trong đại nạn: “Những lẻ ấy chưa bị ô uế với các đàn bà, vì vốn còn đồng thân. Hễ Chiên Con đi đâu thì họ cũng theo đó”(Khải. 14: 4). Họ thể hiện sự tinh khiết, nhưng cũng có tình cảm không phân chia đối với Chiên Con. Sự ô uế với phụ nữ được hiểu một cách tượng trưng vào thời điểm này, đó là về sự ô nhiểm với thế giới (Gia cơ 1:27) chứ không phải nói về quan hệ tình dục nghĩa đen trái phép với phụ nữ (mặc dù điều này được bao gồm).

Cơ Đốc nhân chúng ta cũng nên đề phòng sự ô nhiễm của thế giới, để quần áo của mình không bị ô uế (Khải. 3: 4). Nhưng chúng ta cũng phải đề phòng sự ô uế của xác thịt bên trong chúng ta nữa (Giu-đe 1: 23). Đặc biệt là khi chúng ta đang sử dụng Internet, chắc chắn sẽ rất tốt khi ghi nhớ điều đó...


KHÔNG TÌ VÍT-—

 Khải Huyền 14: 5, “Trong miệng họ chẳng có lời dối nào, họ cũng không có tì vít gì”.

1. Phi-e-rơ 1:19; Phi-líp 2:15; Hê-bơ-rơ 9:14; Cô-lô-se 1:22; Giu-đe 24; Khải Huyền 14: 5

“Vì biết rằng chẳng phải bởi vật hay hư nát, như bạc hoặc vàng, mà anh em đã được chuộc khỏi cách ăn ở hư không của tổ phụ truyền lại,  bèn là bởi huyết báu, như huyết của chiên con không tì không vít, tức là huyết của Christ” (1 Phi. 1:18- 19).

Từ ngữ “không có tì vít” ở đây xuất hiện bảy hoặc tám lần trong kinh Tân Ước. Từ ngữ nầy được nói đến về Chúa và Đấng Cứu Rỗi yêu dấu của chúng ta 2 lần - trong câu 1 Phi. 1:18-19  ở trên và trong Hê-bơ-rơ 9: 14, nơi nó được chép là "không có vết". Là Chiên Con của Đức Chúa Trời, Ngài không chỗ chê trách được, là Chiên Con nhờ huyết quý báu mà chúng ta đã được chuộc; và “bởi Thánh Linh đời đời”, Đấng ấy “dâng chính mình không tì vít cho Đức Chúa Trời”.

Mọi nơi khác mà chữ nầy xuất hiện, nó được áp dụng cho các tín đồ. Vì vậy, chúng ta đọc trong Ê-phê-sô 1: 4 rằng Đức Chúa Trời trong Đấng Christ đã chọn chúng ta trước khi sáng thế để chúng ta “nên thánh hóa không chỗ trách được trước mặt Ngài”; trong Phi-líp 2:15 nói về việc “làm con cái Đức Chúa Trời không tì vít ở giữa dòng dõi bội nghịch nầy”; trong Cô-lô-se 1:22, Đức Chúa Trời đã hòa giải chúng ta để chúng ta có thể “thánh khiết, không tì vít, không chỗ trách được”; trong Giu-đe 24 rằng chúng ta được trình diện là “không tì vít hoàn hảo trước sự vinh hiển của Ngài”; và cuối cùng, trong Khải Huyền 14: 5 trong số 144.000 người sẽ đứng với Chiên Con trên Núi Si-ôn đã nói: “họ cũng không có tì vít gì”.

Chúng tôi để người đọc làm theo lời dạy dỗ  trong mỗi đoạn văn, và chúng tôi muốn tập trung vào hai hoặc ba điều: Thứ nhất, vị trí hiện tại của chúng ta trước mặt Đức Chúa Trời là “hoàn hảo” - nói ngắn gọn, Đức Chúa Trời nhìn thấy chúng ta dựa trên công việc trên thập hình của Đấng Christ; thứ hai, trách nhiệm của chúng ta ngày nay là “không lỗi lầm” (“không chỗ chê trách”, Phi-líp 2:15) trong bước đi của mình trên thế giới này; và thứ ba, hầu cuối cùng chúng ta sẽ thực sự được trình diện “hoàn hảo” trước mặt Đức Chúa Trời, hoàn toàn đồng nhất với Đấng Christ. Thật là một ân điển không thể diễn tả và vô hạn!

Thứ Tư, 8 tháng 9, 2021

Ma-thi-ơ chương 3-

Chương ba của phúc âm Mathio  mô tả lời rao giảng của Giăng Báp-tít theo sự ứng nghiệm lời của nhà tiên tri, "Có tiếng người kêu lên trong hoang mạc: ‘Hãy dọn đường cho Chúa. Làm thẳng các lối Ngài.”

Chúng ta có thể chắc chắn rằng “Chúa”, Đức Giê-hô-va, được nói đến bằng những lời này, thì không ai khác hơn là Chúa Jêsus, mà con đường đang được Giăng chuẩn bị cho Ngài là sự rao giảng về sự ăn năn. Giăng  mô tả về Ngài cao trọng hơn chính mình ông, là lời xác nhận của điều này.

Báp têm của Chúa làm, không phải bằng nước, là hình thức bên ngoài, nhưng với Đức Thánh Linh. Điều nầy được hoàn thành vào Lễ Ngũ Tuần, khi các lưỡi lửa hiện ra, biểu hiệu bề ngoài của Đức Thánh Linh, đã đến trên các sứ đồ. Báp têm cuối cùng bằng lửa vẫn chờ đợi trong sự nhẫn nại của Chúa cho đến sự xét đoán cuối cùng trê nhân loại vô tín kể từ thời A-đam, sau 1000 năm bình an.

Tiếp theo chúng ta có một lời chứng về Chúa Giê-su, lớn hơn lời chứng của Giăng. Trong khi Chúa Giê su chịu báp-têm, các tầng trời được mở ra, và từ đó Đức Chúa Trời là Cha vinh quang tuyệt vời, tuyên bố Đấng thấp hèn đó là “Con yêu dấu của Ta, là Đấng mà Ta rất hài lòng". Lời của Nhân chứng thần thượng này được đóng ấn bởi sự giáng hạ của Đức Thánh Linh như chim bồ câu đậu trên Con Đức Chúa Trời. Như con chim của tình yêu, nỗi buồn và  sinh tế, chim bồ câu là biểu hiệu tuyệt đẹp của tính cách và công việc của Ngài được chỉ định như vậy.

Sinh Nở Không Đau-

Khải Huyền 12: 1-17, “có một người đờn bà mình mặc mặt trời, chơn đạp mặt trăng, đầu đội mão miện bằng mười hai ngôi sao.  Nàng có thai và kêu la vì quặn thắt và đau đẻ”.

“Trước khi chuyển dạ, Người đàn bà đã sinh con; Trước khi cơn quặn thắt đến, Nàng đã sinh một trai. Ai đã từng nghe một việc như thế? Ai đã từng thấy những việc giống như vậy? Có đất nước nào chuyển dạ trong một ngày, Hay dân tộc nào được sinh ra trong một lúc không? Thế mà Si-ôn mới vừa chuyển dạ Đã sinh con cái. Đức Giê-hô-va phán: “Chính Ta đã khiến tử cung người mẹ mở ra, Lại không cho sinh nở sao?”(Ê-sai 66: 7-9).

Ước mơ của mọi bà mẹ là: một ca sinh nở không mệt nhọc và không đau đớn. Nó áp dụng cho ai? Đối với tổng hội dân Chúa, là toàn bộ Cơ Đốc nhân trong hơn 2000 năm qua, và trong thời gian đại nạn sắp tới. Khi những "cơn đau đẻ" này xảy ra, tổng hội thánh sẽ sanh con trai (số nhiều!) - theo câu 8 - vào thế giới. Đây là dân sót đáng tin cậy sẽ được hình thành trong những ngày khó khăn này bởi công việc của Thánh Linh Đức Chúa Trời.

Thứ nhất đó là 144.000 người Israel sẽ được đóng ấn. Chúa bảo tồn họ suốt con đại nạn (Khải 12:17), để sau khi Chúa hiện ra họ sẽ thành lập vương quốc Israel thầy tế lễ trong 1000 năm trên đất. Đó cũng là “con trai” được sinh nở theo Ê-sai 66 nói trên đây.

 Người đàn bà trong Khải 12 là một tổng thể dân Chúa từ thời các tổ phụ (12 ngôi sao), như ông Nô-ê, Áp-ra-ham, cộng với  các thánh đồ thời Cựu ước (mặt trăng) như Môi-se, Đa-vít… thêm với thánh đồ Tân ước (mặt trời) như Phi-e-rơ, Phao-lô, cho nên người con trai mà bà sinh ra cũng là một tổng thể gồm những thành phần thánh đồ ưu tú, trưởng thành của 3 thời đại trên. Tổng thể người con trai nầy, gồm những người sẽ sống lại từ Cựu ước và biến hóa từ các thánh đồ trưởng thành hôm nay, như các trái đầu mùa,  đang sống trong hội thánh hôm nay (Khải. 14:1-6).

Tổng thể dân Chúa nói chung từ thời Cựu ước đến hôm nay đã trải qua những cơn đau đẻ dữ dội để sinh ra những thành phần ưu tú nầy. Thí dụ dân Israel thời lao động khổ sai tại Ai-cập trong 400 năm đã sinh ta Môi-se. Dân Chúa thời trung cổ ám thế đau đẻ và sinh ra John wycliffe, Martin Luther…, đưa đến sự đổi dời trong giáo hội chung. Con rồng đã từng muốn ăn thít những nhận vật đó.

Tất nhiên con rồng này cũng sẽ bắt bớ người phụ nữ, là tổng bộ hội thánh còn bị để lại trong cơn đại nạn (3, 5 năm sau) đã sinh con trai (câu 13).

 Những thành phần ưu tú bao gồm trong người con trai, sẽ được cất lên trời, trước khi con rồng bị đuổi khỏi bầu trời, rớt xuống trái đất    mở màn cho cơn đại bạn xảy ra (Khải 9: 1-2, 11; 12:7-8).

Nếu tổng thể dân Chúa từ Cựu ước đến hội thánh ngày cuối cùng không trải qua những cơn đau đẻ kinh khủng thì họ không thể sinh những người con trai ưu tú, và Đức Chúa Trời đã không thể chuyển đổi thời đại vài ba lần trong quá khứ. Và sự chuyển đổi cuối cùng là “Bây giờ sự cứu rỗi, quyền năng, nước của Đức Chúa Trời chúng ta, và quyền bính của Đấng Christ của Ngài đã đến, vì kẻ tố cáo anh em chúng ta đã bị quăng xuống,…” (Khải 12: 10). “Thiên sứ thứ bảy thổi lên, liền có những tiếng lớn trên trời  rằng:“Nước của thế giới đã trở nên nước của Chúa chúng ta và của Đấng Christ của  Ngài, Ngài sẽ làm Vua cho đến đời đời vô cùng” (Khải 11:15),

Từ Chế Độ Dân Chủ Đến Chế Độ Dộc Tài-

 Khải huyền 13: 1-8

Kinh thánh cho thấy Đế chế La Mã sẽ được phục sinh. Sẽ có sự cai trị độc đoán một lần nữa ở Châu Âu. Trước hết, các yếu tố dân chủ và độc tài sẽ cùng tồn tại trong lĩnh vực này. Nhưng sau một thời gian ngắn, một nhà  cai trị siêu việt sẽ cai trị bằng sức mạnh tàn bạo. Các nền dân chủ của châu Âu sẽ kết thúc trong một chế độ độc tài khủng khiếp.

Có một sự phát triển tương tự trong lịch sử của Đế chế La Mã. Nền cộng hòa của đế chế ra đời vào giữa thế kỷ thứ 2 trước Công nguyên, đã rơi vào một cuộc khủng hoảng chính trị trong nước, mà cuối cùng đã lên đến đỉnh điểm trong thời kỳ nội chiến và kết thúc bằng sự sụp đổ của hình thức chính quyền trước đó. Nền tảng của chế độsau,  ban đầu là lời kêu gọi cải cách, đặc biệt là trong lĩnh vực nông nghiệp.

Vài năm trước khi Chúa sinh ra, thời điểm đã đến: Thượng viện coi Gaius Octavian là “công dân đầu tiên của nhà nước”. Octavian tiếp nhận được vinh dự đó vào năm 27 trước Công nguyên. Ông được Thượng viện trao tặng danh hiệu "Augustus" ("Người siêu phàm"). Octavian là hoàng đế La Mã đầu tiên. Ông lấy đế hiệu là Sê-sa Au-gút-tơ (Lu ca 2:1). Ông là cháu ruột của Julius Caesar, người sáng lập ra đế quốc La mã. Thậm chí người ta lấy lên của Julius và Augustus đặt tên cho hai tháng 7 và 8 trong dương lịch là July (tháng 7) và August (tháng 8).

David Engels, nhà sử học cổ đại tại Đại học Brussels, cho biết (Focus Online 2017): Trong 20 đến 30 năm nữa, châu Âu sẽ trở thành một quốc gia hoặc đế quốc độc tài, sau một giai đoạn của các điều kiện giống như nội chiến và có dấu hiệu suy tàn. Ít nhất đó là những gì tương tự giữa cuộc khủng hoảng hiện tại ở châu Âu và sự chuyển đổi từ Cộng hòa La Mã cuối cùng sang nhà nước Augustus được mong đợi ... Một châu Âu thống nhất với một tổng thống có sức lôi cuốn có thể cai trị ngay từ cấp độ của một công dân, đối với tôi đó dường như là một tiên lượng rất tốt có thể xảy ra".

Khi Đấng Christ đến thế giới, Đế chế La Mã tồn tại dưới thời một hoàng đế, dưới một nhà cai trị chuyên chế. Khi Đấng Christ trở lại, Đế chế La Mã một lần nữa sẽ nằm dưới quyền một người cai trị. Kinh thánh nói rõ điều đó.

Một ví dụ khác về việc nền dân chủ có thể biến thành chế độ độc tài nhanh chóng như thế nào là nước Pháp. Trong cuộc Cách mạng Pháp năm 1789, những "công trình kiến ​​trúc cũ" đã bị quét sạch một cách tàn bạo. Và điều gì đã xảy ra ngay sau đó? Năm 1804, Napoléon trở thành hoàng đế! Những người "anh em" của ông trong thế kỷ 19 đã bị ấn tượng bởi những sự kiện này đến nỗi họ thậm chí còn xem Napoléon là cái đầu thứ bảy từ Khải Huyền 17:10. Lời lý luận đó chắc chắn đã đi quá xa. Tuy nhiên, sự kiện lịch sử này là một dấu hiệu chắc chắn về những gì sẽ sớm xảy ra tại châu Âu. Thời gian ở trong tầm tay!

Các Từng Trời Mở Ra-

 Ma-thi-ơ 3:16” Khi chịu báp-têm rồi, Đức Jêsus liền lên khỏi nước, kìa, các từng trời mở ra, Ngài thấy Thánh Linh của Đức Chúa Trời ngự xuống như bồ câu đậu trên Ngài”  

Công vụ 7:56, “Kìa, tôi thấy các từng trời mở ra, và Con Người đứng bên hữu Đức Chúa Trời”.

Trong khi Cựu ước nói một lần về trời (thiên đàng) rộng mở (Ê-xê-chi-ên 1:1), thì chúng ta thấy rằng các tầng trời đã mở ra năm lần trong Tân ước:

-Lúc Chúa Giêsu chịu báp-têm (Mat 3:16; Mác 1:10; Lu ca 3:21)

-Khi người ta ném đá Ê-tiên (Công. 7:56)

-Trong sự ngất trí của Phi-e-rơ (Công vụ 10: 11)

-Khi Chúa Giêsu hiện ra công khai (Khải. 19:11)

-Trong Vương quốc thiên hi niên  (Giăng 1: 51)

Đức Chúa Trời trong ân điển của Ngài đã vui lòng mở thiên đàng vào nhiều dịp khác nhau. Khi Ngài cho chúng ta một cái nhìn thoáng qua về thiên đàng rộng mở theo cách này, Ngài làm điều đó để cho chúng ta thấy Ai là trọng tâm của mối quan tâm trên trời. Đồng thời, Ngài có ý định giới thiệu cho chúng ta những vinh quang nhất định của Con Người này. Khi các tầng trời mở ra trong Tân Ước, thì -- có lẽ chỉ có một ngoại lệ ở Công vụ 10 - Chúa Giê-su luôn là người trung tâm.

Ngày nay, các từng trời cũng mở ra cho chúng ta - không phải theo nghĩa đen, mà mở ra cho con mắt đức tin của chúng ta. Kể từ khi Đấng Christ hoàn thành công việc cứu chuộc và chiếm chỗ của Ngài ở bên hữu Đức Chúa Trời, chúng ta đã nhìn vào một thiên đàng rộng mở. Ở đó, chúng ta thấy Ngài được đăng quang trong vinh quang, ngự bên hữu Đức Chúa Trời (Heb.2: 9). Và chẳng bao lâu nữa sẽ đến lúc chúng ta theo Ngài vào thiên đàng rộng mở để ở với Ngài mãi mãi. Ô một Hi vọng phước hạnh!

Đặc biệt, bức thư gửi cho người Hê-bơ-rơ cho chúng ta một cái nhìn về bầu trời rộng mở. Ông nói rõ rằng chúng ta có thể tiếp cận với Đức Chúa Trời. Bức màn của ngôi đền thờ đã bị xé làm hai và con đường dẫn vào nơi chí thánh được dọn dẹp. Dựa trên dòng máu quý giá của Chúa Giê-su, chúng ta được phép dạn dĩ vào nơi chí thánh (Hê-bơ-rơ 10:19). Quyền được vào thiên đàng, đến với sự hiện diện của Đức Chúa Trời, giờ đây đã mở ra cho mọi tín đồ. Một đặc ân tuyệt vời!

& Sau đây, các sự kiện nêu trên sẽ được xem xét chi tiết hơn.

1.Tại báp-têm của Chúa Giê- su-

Các tầng trời lần đầu tiên mở ra khi Chúa Giêsu chịu phép báp-têm. Chúa đã chịu báp têm như người tôi tớ khiêm nhường qua Giăng tại sông Giô-đanh. Khi làm như vậy, Ngài đã khiến mình hiệp một với những người Do Thái đã đến để thú nhận các tội lỗi của họ bằng cách chấp nhận “bản án tử hình” cho chính họ trong phép báp têm dưới nước. Tuy nhiên, Đấng Cứu Rỗi không có gì để thú nhận: Ngài hoàn toàn vô tội, không biết tội lỗi, không phạm tội và không có tội lỗi (2 Cô 5:21; 1 Phi 2:22; 1 Giăng 3: 5).

Khi Chúa Giê-su chịu báp têm và “vừa lên khỏi nước, người thấy các từng trời xé ra, và Thánh Linh như bồ câu ngự xuống trên Ngài, có tiếng từ trời phán rằng: “Ngươi là Con yêu dấu của Ta, đẹp lòng Ta mọi đường” (Mác 1: 10, 11). Sau khi Chúa hiệp một với dân sót trung thành trong  báp têm, Thánh Linh ngự xuống trên Ngài dưới hình dạng con bồ câu. Trên Chúa Giê-su,  Đức Thánh Linh có thể tìm thấy một nơi an nghỉ. Chim bồ câu tượng trưng cho sự thuần khiết và hiền lành; là dấu hiệu đặc biệt của sự phục vụ Chúa trong quyền năng của Thánh Linh. Người đầy tớ trung thành sắp bắt đầu công vụ của mình. Với ý nghĩ này, Ngài đã được xức dầu bởi Đức Thánh Linh (xem Thi 89: 21; Êsai 42: 1).

Cảnh tượng gần sông Giô-đanh này có thể làm cho lòng Cha  trên trời vui sướng biết bao! Khi Ngài thấy Con yêu dấu của mình đã hạ mình xuống sâu sắc, làm cho mình hiệp một với  dân sót ăn năn của Giu- đa và được Giăng làm báp têm, Ngài không còn có thể im lặng được nữa: các tầng trời mở ra và có tiếng nói từ các tầng trời, bày tỏ sự vui sướng của Chúa  Cha khi làm chứng về con trai mình. Nơi Con đã hạ mình quá sâu, Đức Chúa Trời đã nói rõ rằng tôi tớ khiêm nhường này không ai khác chính là Con yêu dấu của Ngài - đối tượng khiến Ngài hết sức vui mừng.

 

2.Trước sự ném đá của Ê-tiên-

Ê-tiên, nhân chứng trung thành, sắp tử vì đạo. Sau khi ông buộc tội khán giả của mình về tội phản bội và giết người công nghĩa trong bài phát biểu của mình trước công hội, ông đã phải đối mặt với lòng căm thù sâu sắc và thù hận không thể hàn gắn.“Chúng nghe những lời đó thì lòng tức như băm, và nghiến răng với Ê-tiên”(Công 7:54). Ê-tiên phản ứng thế nào trước sự thù địch gay gắt này? Có sự phẫn nộ hay thậm chí căm thù trên khuôn mặt ông không? Hay nỗi sợ hãi và kinh hoàng đã chiếm lấy ông? Không hoàn toàn không.

Ê-tiên nhìn xa hơn khán giả và hoàn cảnh của mình vào một thế giới khác, một thế giới trên trời. Ông không nhìn vào khuôn mặt đáng ghét của người nghe mà nhìn vào bầu trời rộng mở. Và ở đó ông đã thấy một vinh quang vượt xa mọi vinh quang trần thế. Ông nhìn thấy sự vinh hiển của Đức Chúa Trời và Chúa Giê-xu đứng bên hữu Đức Chúa Trời. Nhìn thẳng lên trời, Người nói: “Kìa, tôi thấy các từng trời mở ra, và Con Người đứng bên hữu Đức Chúa Trời" (c. 56). Cảnh tượng huy hoàng này đã thu hút toàn bộ sự chú ý của ông và làm cho gương mặt ông rạng rỡ (xem Công vụ 6:15). Điều chúng ta tìm thấy trong 2 Cô-rinh-tô 3:18 được ứng nghiệm ở đây nơi Ê-tiên trình bày: Nhìn vào sự vinh hiển của Chúa, ông đã được biến đổi từ vinh quang sang vinh quang giống như hình ảnh bởi Chúa là Thánh Linh. Diễn biến sâu hơn của sự việc này cho thấy người đầy tớ trở nên giống với Chủ của mình như thế nào. Ê-tiên thấy Con Người đứng bên hữu Đức Chúa Trời, sẵn sàng đón tôi tớ Ngài sắp bước vào thiên đàng.

Sau khi công việc cứu chuộc hoàn thành, Chúa Jêsus đã về trời. Khi làm như vậy, Ngài đã “để trời rộng mở sau lưng mình để tất cả tình yêu thương, sức mạnh và ân điển của con người trên trời có thể chảy xuống con người trên đất” (H.Smith). Thiên đàng rộng mở đối với con mắt của tâm hồn chúng ta, chúng ta thấy Con Người ngự bên hữu Đức Chúa Trời, được đăng quang vinh quang và vinh dự. Đồng thời, tất cả tình yêu, sức mạnh và ân sủng của Ngài đều có sẵn cho chúng ta ở đây trên trái đất.

3. Trong sự ngất trí thấy khải tượng của Phi-e-rơ-

Theo lời Chúa, Phi-e-rơ được cho là đã mở mang nước thiên đàng - cũng đưa các tín hữu từ các nước đến (Math. 16:19). Tuy nhiên, là một người Do Thái, ban đầu ông tránh kết giao với những người ngoại giáo. Trước khi Đức Chúa Trời có thể sử dụng ông trong chức vụ này, Phi-e-rơ có một bài học quan trọng để học.

Chúng ta được dạy bài học này trong Công vụ 10: 9-16. Theo phong tục của mình, Phi-e-rơ lên mái nhà vào khoảng giờ thứ sáu (12 giờ trưa) để cầu nguyện. Trong khi cầu nguyện, ông đói bụng và muốn ăn. Trong khi bữa ăn đang được chuẩn bị, một trạng thái ngất trí đến với ông và ông thấy thiên đàng mở ra. Một tấm vải lanh lớn từ trời rơi xuống chứa đủ loại súc vật ô uế, và Phi-e-rơ được yêu cầu ăn. Khi Phi-e-rơ từ chối, thì có tiếng nói với ông lần thứ hai: "Phàm vật chi Đức Chúa Trời đã làm cho sạch, thì chớ cầm bằng dơ bẩn”. Toàn bộ sự việc đã xảy ra ba lần.

Phi-e-rơ phải biết rằng những gì Đức Chúa Trời đã tẩy rửa cũng được chấp nhận là tinh khiết. Bài học này quan trọng đối với ông đến nỗi Chúa đã mở thiên đường để cho ông thấy điều phi thường này. Tấm vải lanh lớn ám chỉ phúc âm về ân điển của Đức Chúa Trời, theo nghĩa nào đó, phúc âm này từ trên trời giáng xuống và được gửi đến tất cả mọi người - bất kể họ là người Do Thái hay người ngoại giáo. Nếu Đức Chúa Trời chấp nhận cả người Do Thái và dân ngoại trên cơ sở đức tin nơi phúc âm, thì Phi-e-rơ cũng phải chấp nhận điều đó. Điều kiện tiên quyết cho điều này là công trình cứu chuộc mà Chúa Jêsus đã hoàn thành trên thập tự giá (xem Eph. 2:14). Qua công việc này, Đức Chúa Trời vẫn thanh tẩy mọi tín đồ ngày nay, bất kể người đó thuộc quốc gia nào.

4.Tại sự hiện ra công khai của Chúa Jêsus

Giăng, người tiên kiến, cũng nhìn vào bầu trời rộng mở. Ông nhìn thấy Chúa Jêsus bước ra khỏi thiên đàng trên con ngựa trắng trong vinh quang tư pháp của Ngài. Giăng cũng thấy cách Ngài phán xét và tiến hành chiến tranh với sa-tan trong sự công bình (Khải 19: 11-16).

Cảnh thiên đàng này tượng trưng cho khoảnh khắc mà Đức Chúa Trời sẽ cho Con đầu lòng vào trong thế giới (Heb. 1: 6). Vì Đức Chúa Trời đã ấn định một ngày mà Ngài sẽ phán xét thế giới trong sự công bình qua một người mà Ngài đã chỉ định (Công vụ 17:31). Và người đó sẽ là Chúa Giê-su người Na-xa-rét đã từng bị khinh thường. Lần cuối cùng mọi người trên thế giới nhìn thấy Ngài là khi Ngài bị treo trên thập hình. Tất cả những điều lớn hơn sẽ là sự ngạc nhiên và kinh ngạc của họ khi Ngài từ trời trở lại! Trong Khải Huyền 1.7 ghi: " Kìa, Ngài cỡi đám mây mà đến, mọi mắt sẽ trông thấy Ngài, cả đến những kẻ đã đâm Ngài cũng vậy; hết thảy các chi phái trên đất đều sẽ than khóc Ngài. Phải, A-men". Và trong Ma-thi-ơ 24:30, chúng ta đọc, họ “thấy Con người lấy đại quyền đại vinh ngự trên mây trời mà đến”.Đó sẽ là một khoảnh khắc trang trọng làm sao! Đấng đã từng đến với tư cách là Đấng Cứu Rỗi của thế giới trong sự khiêm nhường và hạ mình chịu chết trên thập tự giá, một ngày nào đó sẽ trở lại với tư cách là Đấng Phán Xét của thế giới. Đấng tự nguyện chiếm vị trí thấp nhất trên thập hình, một ngày nào đó sẽ chiếm vị trí cao nhất trên trái đất. Đấng bị mọi người khinh miệt và coi thường, một ngày nào đó sẽ được mọi người tôn vinh, rồi sẽ được mọi người tôn trọng và ban vinh dự đến muôn đời nhờ phẩm giá con người và công việc đã hoàn thành của mình. Ngài - và chỉ một mình Ngài - là Vua của các vua và Chúa của các chúa (Khải 19:16).

5. Trong thiên hi niên-

Trong cuộc trò chuyện với Na-tha-na-ên, Chúa Jêsus đề cập đến thời gian của thiên niên kỷ mới. Na-tha-na-ên công nhận Chúa Jêsus là Con Đức Chúa Trời và là Vua của Israel. Nhưng ông sẽ thấy những điều vĩ đại hơn thế này: Ông sẽ thấy thiên đàng mở ra và các thiên thần của Đức Chúa Trời lên và xuống trên Con Người (Giăng 1: 49-51).

Trong thời kỳ huy hoàng đó của Thiên niên kỷ sau đây, các tầng trời sẽ được mở ra và các thiên thần của Đức Chúa Trời sẽ lên và xuống trên Con Người (xem Sáng thế Ký 28:12). Chúa Jêsus sẽ là trung tâm và quản  gia trong vũ trụ của Đức Chúa Trời. Các thiên thần sẽ phục vụ trước mặt và cho Ngài. Tất cả các chức vụ sẽ bắt đầu từ Ngài và sẽ được thực hiện trong sự lệ thuộc vào Ngài. Toàn thể vũ trụ sẽ chịu phục tùng Ngài.

Vào ngày đó, các tầng trời sẽ được mở ra - trời và đất sẽ không còn tách biệt nhau về mặt đạo đức nữa mà sẽ tạo thành một thể hiệp nhất. Sẽ có một cuộc trao đổi sôi nổi giữa hai khu vực: các dòng sông phước lành sẽ chảy từ trời xuống đất, và lời cảm ơn và sự tôn thờ sẽ từ đất lên trời. Vào lúc đó, Chúa Giê-su sẽ là trung tâm và điểm khởi đầu của mọi phước hạnh và vinh quang, cả trên trời và dưới đất. Khi đó những gì Ê-sai viết sẽ được ứng nghiệm: “và ý chỉ Đức Giê-hô-va nhờ tay người được thạnh vượng” (Ês 53:10). Đó sẽ là một thời gian của những phước lành không thể diễn tả được!

--TÓM LƯỢC-

Trong Tân Ước, chúng ta thấy các tầng trời đã mở ra năm lần. Từ những sự kiện này, chúng tôi muốn ghi lại những điểm sau:

Khi các tầng trời mở ra trong Tân Ước, trọng tâm là Đấng Christ và sự vinh hiển của Ngài.

Các tầng trời mở ra cho thấy Đức Chúa Trời Cha hài lòng về con trai mình.

Các tầng trời đã mở ra chiếu sáng địa vị và chức vụ của Chúa Giê-su vào những thời điểm khác nhau.

Ê-tiên, Phi-e-rơ và Giăng nhìn lên bầu trời rộng mở.

Ê-tiên được khích lệ trước sự tử đạo sắp xảy ra của mình, Phi-e-rơ được  dạy dỗ trực tiếp, và Giăng được cho thấy vinh quang tư pháp xét xử trong tương lai của Chúa Giê-su.

BA LOẠI BÁP-TÊM TRONG MA-THI-Ơ CHƯƠNG 3-

Từ ngữ báp-têm theo nguyên văn trong kinh thánh Hi lạp là: βαπτίζω, phiên âm là baptizō, đọc là bap-tid'-zo, tiếng Anh là to make whelmed (that is, fully wet), tiếng Việt là làm ướt hoàn toàn, là dìm, làm đắm, dìm xuống, được trầm mình--- do đó báp=têm rảy nước không đúng theo lời Kinh thánh:

--Báp-têm trong nước: Mathio 3: 6, “thừa nhận các tội mình mà chịu người làm báp têm dưới sông Giô-đanh”. 1 Phi-e-rơ 3: 20-21

-- Báp-têm trong Đức Thánh Linh- Mathio 3:11, “Ngài sẽ làm báp-têm cho các ngươi bằng (trong) Thánh Linh…”--- Công 2:1-2; 1 Cor. 12:13

--Báp-têm trong lửa- Mathio 3:11, 10, 12 “Ngài sẽ làm báp-têm cho các ngươi bằng (trong)…lửa-- hễ cây nào không sanh trái tốt thì đốn mà quăng vào lửa.-- còn trấu thì đốt trong lửa chẳng hề tắt”. Khải. 20:11-15

LƯỠI, TAI, LƯNG, MÁ VÀ MẶT-

 Ê-sai 50: 4-7

Trong Ê-sai 50: 4-7, các bộ phận khác nhau của thân thể Chúa Giê-su Christ được đề cập đến theo cách tiên tri, có thể là sự tôn kính.

--Lưỡi: Tôi tớ Chúa có cái lưỡi của người uyên bác, dùng nó nâng người mệt nhọc. Hãy nhớ cách Chúa khuyến khích hai môn đồ về Em-ma-út. “Chúa là Đức Giê-hô-va đã ban cho Ta Cái lưỡi của người được dạy dỗ, Để Ta biết dùng lời nói Nâng đỡ kẻ mệt mỏi”

--Tai: Người đầy tớ chân chính vui lòng cho Đức Chúa Trời mở lỗ tai mình để nhận sự hướng dẫn. Vì vậy, sáng sớm, khi trời còn tối, Chúa Giê-su đã tìm đến chỗ vắng vẻ để bầu bạn với Cha mình.- “Ngài đánh thức Ta mỗi buổi sáng, Ngài đánh thức tai Ta Để lắng nghe như người học trò vậy”.

--Lưng: Chúa đã đưa lưng cho những người đánh đòn. Lưng Ngài đã không tránh những trận đánh đòn tàn bạo – “Ta đã đưa lưng cho kẻ đánh Ta”

--Má: Ngài cũng đưa má cho mấy thằng ẩu đả. Ngài không hề vật lộn khi chúng cấu xé Ngài. “Và đưa má cho kẻ nhổ râu Ta; Ta không che mặt Khi bị sỉ vả hoặc bị nhổ nước bọt vào mặt”.

--Mặt: Chúa không giấu mặt khi bị ai đó sỉ nhục và nhổ vào mặt mình, nhưng làm cho nó cứng như một viên sỏi để tiếp tục trên con đường của Đức Chúa Trời -- lên đến thập hình. ”Vì vậy, Ta làm cho mặt Ta cứng như đá, Vì biết rằng mình chẳng có điều gì phải hổ thẹn”.

Ngợi khen người Tôi Tớ thánh của Đức Chúa Trời - Chúa Giê-su!

BẢY “TÊN” CỦA LUCIFER-

 Khải 12:9, “Con rồng lớn bị quăng xuống, tức là con rắn xưa, gọi là Ma quỉ và Sa-tan, đứa lừa dối cả thiên hạ nó bị quăng xuống đất…”

Mathio 12: 27, “Còn nếu ta nhờ Bê-ên-xê-bun mà đuổi quỉ, thì con trai các ngươi nhờ ai mà đuổi quỉ ư?”

2 Cor. 6:15, “Đấng Christ và Bê-li-an nào có tương hoà chi?”.

Chữ “Lucifer” là chữ phiên âm của bản Kinh thánh Vulgate bằng tiếng Latinh hồi thế kỷ thứ 4. Lucifer dịch âm từ chữ “Sao mai” trong Ê-sai 14: 12. Chữ Lucifer có nghĩa “sự chói sáng”. Sau khi sa ngã, Lucifer được Đức Thánh Linh là Tác giả Kinh Thánh định tính chất bằng 6 tên nữa như sau:

1.Con rắn:  xưa kia trong vườn Ê-đen Lucifer mượn hình con rắn vật lý để nói chuyện với Ê-va, từ đó Kinh thánh gọi Lucifer theo nghĩa tượng trưng là  con rắn, điêu ngoa, cong quẹo, gian xảo… con rắn xưa.

2. Con rồng: con rắn bò bằng bụng, ăn bụi đất (hồn người) suốt đời. Sau 6000 năm, do ăn được quá nhiều hồn người, Lucifer bành trướng thành con rồng, bay liệng trên bầu khí quyển suốt 6000 năm qua. Còn rồng bí  hiểm, sâu hiểm hơn con rắn. Trước đại nạn, rồng bị hất xuống trái đất, trở lại thành con rắn đời xưa.

3.Ma-quỷ: The Devil, không phải demon (quỷ nhỏ, tà linh….). Chữ nầy có nghĩa đen là “kẻ phỉ báng”, “kẻ báng bổ”.

4. Sa-tan: nghĩa đen là “kẻ thù”

5. Bê-ên-xê-bun-  Βεελζεβούλ phiên âm là Beelzeboul, đọc là beh-el-zeb-ool', tiếng Anh là dung god, thần của đống phân. Trên đống phân hữu cơ thường có nhiều ruồi xanh bay vần vũ. Bê-ên-xê-bun là vua của bầy ruồi xanh. Cả thế giới nầy như một đống phân, trên đó có bầy ruồi xanh vô hình bay vần vũ. Lucifer là thần của bầy ruồi, thần của đống phân, nói theo nghĩa bóng.

6. Bê-li-an: Βελίαλ dịch là  Belial,, bel-ee'-al, tiếng Anh là worthlessness; Belial,—vô dụng, vô lại, là một cái tên gọi rất có ý nghĩa dành cho Lucifer,  một tên vô lại, tàn bạo, mất hết nhân cách.-

Phần Thứ Ba- (The Third Part)

Khải Huyền 12:4 “Đuôi nó kéo một phần ba các ngôi sao trên trời mà quăng xuống đất”.

Sách Khải Huyền nói mười lăm lần về “phần thứ ba”, không phải "một phần ba" sẽ bị phán xét cách đặc biệt. Phần thứ ba này được nhắc đến mười bốn lần liên quan đến bảy cuộc phán xét, kéo dài theo thời gian đại nạn (Khải. 8 và 9). Các chuỗi sau đây có thể được tìm thấy:

Phần thứ ba trái đất đang bốc cháy (Khải. 8:7).

Phần thứ ba cây cối bị cháy (Khải 8:7).

Phần thứ ba các loài động vật biển chết (Khải. 8:8).

Phần thứ ba các tàu bè bị phá hủy (Khải 8:9).

Phần thứ ba các sông ngòi và nguồn nước hóa ra đắng (Khải. 8:10, 11).

Phần thứ ba của mặt trời, mặt trăng và các vì sao trở nên tối tăm (Khải. 8:12).

Phần thứ ba của dân chúng bị giết (Khải 9:15, 18).

Nơi cuối cùng mà phần thứ ba được đề cập là Khải Huyền 12: 4. Phân đoạn này cũng giúp hiểu phần thứ ba nói về điều gì: “Trên trời cũng hiện ra một dấu hiệu khác nữa: Kìa, một con rồng lớn sắc hồng, có bảy đầu, mười sừng, đầu đội bảy vương miện. Đuôi nó kéo một phần ba các ngôi sao trên trời mà quăng xuống đất”(Khải. 12:4).

Con rồng tất nhiên là ác quỷ sa-tan - là kẻ sẽ lãnh đạo Đế chế La Mã phục sinh. Mười sừng và bảy đầu biểu thị vương quốc này, như Khải huyền 13 và 17 đã nói rõ. Và nếu các sừng và các đầu chỉ tỏ về vương quốc này, thì điều này cũng áp dụng cho đuôi của con rồng, nó kéo phần ba của các ngôi sao cùng với nó và ném xuống trái đất. Các ngôi sao là những thiên sứ mang ánh sáng về mặt đạo đức trong vương quốc này, sẽ hoàn toàn mất đi ảnh hưởng tốt của chúng qua công việc của Satan (về “đuôi” xem Ê-sai 9:14—Đuôi là kẻ tiên tri dạy điều dối trá”). Cái đuôi con rồng—ngụ ý sa-tan dung lời nói dối dụ dỗ  phần thứ ba các thiên sứ theo hắn. Mặt luân lý đạo đức của vương quốc nầy do các thiên sứ ác nám và ảnh hưởng.

Do đó, phần thứ ba chỉ ra Đế chế La Mã, đế chế sẽ sống lại vào thời kỳ cuối cùng và được định hình bởi những giáo lý ma quỷ. Ánh sáng của Cơ đốc giáo sẽ được thay thế bằng bóng tối.

Điều này đặt ra câu hỏi rằng chúng ta phải suy nghĩ về mức độ nào của Đế chế La Mã. Chính xác thì “phần thứ ba” này bao gồm những gì? Câu hỏi này không thể được trả lời hoàn toàn và kết luận ngày hôm nay. Nhưng rõ ràng đó là về Đế chế La Mã thực sự, tức là phần phía tây Âu. Hay nói một cách khác: Đó là về khu vực mà Cơ đốc giáo là quê hương. Bởi vì con thú La Mã lần đầu tiên bị kỹ nữ điều khiển, là hình ảnh của giáo hội bội đạo (Khải. 17:3).

Người ta cũng có thể nghĩ về ý nghĩa của hai phần còn lại. Kinh thánh không đưa ra câu trả lời trực tiếp ở đây. Nhưng liệu chúng ta có thể nhớ rằng một phần là các quốc gia còn lại và phần khác là Israel, tuy nhỏ bé không đáng kể nhưng sẽ lại đóng một vai trò lớn trong tương lai?

Đức Chúa Trời sẽ đưa ra sự phán xét đặc biệt khó khăn đối với Đế quốc La Mã, đối với Tây Âu, nơi đã có ánh sáng của Cơ đốc giáo từ lâu và Chúa sẽ quay lưng lại với họ vào một ngày nào đó. Đó là lý do tại sao chúng ta, các Cơ đốc nhân vẫn nên làm việc ngày hôm nay, bởi vì đêm sẽ sớm đến khi không ai có thể làm việc gì ở đây nữa.