Thứ Tư, 9 tháng 3, 2022

Nước Mắt Của Ai?

Các nhà hóa học nói rằng nước mắt là một sự kết hợp của sodium chloride (muối ăn), phosphate (chất lân, chất vôi), chất nhầy và nước. Mục tử thì nói rằng nước mắt là sự chảy máu của một trái tim tan vỡ. Các sĩ quan cảnh sát sẽ nói rằng nước mắt là một dấu hiệu của sự yếu đuối.

Có rất nhiều điều về nước mắt trong Kinh Thánh. Cứu Chúa chúng ta chỉ để lại hai điều trên trái đất mà là một phần của chính mình Ngài; nước mắt và máu của Ngài. Nước mắt của Ngài tiết lộ rằng trái tim Ngài đã xúc động với cảm giác về sự nhu nhược của chúng ta và Ngài vui mừng gánh chịu đau khổ cùng mang nỗi buồn của chúng ta. Máu của Ngài làm chứng cho khát vọng lớn lao của Ngài muốn chúng ta được sạch sự gian ác và tội lỗi. Trong Gethsemane, Đấng Cứu Thế đã cầu nguyện với tiếng khóc và nước mắt tuôn tràn.- Heb. 5:7- Đấng ấy khi còn trong xác thịt, đã lớn tiếng khóc than tuôn lụy mà dâng lời cầu nguyện nài xin ..
-
Nước mắt MỘT HOÀNG HẬU-“Bà Ê-xơ-tê lại còn nói trước mặt vua, và phục xuống dưới chân người mà khóc lóc, cầu xin vua diệt mưu ác mà Ha-man, người A-gát, đã toan ý hại dân Giu-đa”--
-- được đề cập trong E-xo-tê 8: 3. Ở đây người đàn bà Do thái đáng yêu này được trình bày kiến nghị của mình cho nhà vua về việc bảo tồn dân tộc của cô. Lời cầu nguyện có hiệu quả, nhà vua đã cảm động, lời thỉnh cầu đã được ban cấp. Cô đã yêu cầu cho dân tộc mình lúc có nguy cơ về mạng sống. Những giọt nước mắt nầy tiết lộ sự nhiệt thành, sự tận tâm, và mục đích tấm lòng của cô. Ai cầu nguyện bằng nước mắt thường có hiệu quả.
-
Nước mắt của Một NÔNG DÂN- “Kẻ nào gieo giống mà giọt lệ,… Người nào vừa đi vừa khóc đem giống ra rải..”--
---được nhắc đến trong Thánh Vịnh 126: 5,6. Nước muối dường như làm cho giống nẩy mầm. Tại sao một người gieo giống cần nên khóc? Có những gì về hạt giống hoặc đất hoặc dịch vụ làm chảy nước mắt? Đoạn này nói, "Kẻ nào gieo giống mà giọt lệ, Sẽ gặt hái cách vui mừng". Đoạn nầy đề cập đến việc gieo hạt giống Tin Mừng, không phải gieo ngô, lúa mì hoặc lúa mạch.
Những giọt nước mắt đổ ra vì bi kịch của một cuộc sống không có Đấng Christ. Khi sự nhẫn nhịn lâu dài của Đức Chúa Trời kết thúc, thì đau khổ lâu dài của tội nhân bắt đầu. Những giọt nước mắt đang tuôn rơi vì người gieo giống thấy trước sự nguy hiểm trên đường đi của một trong những người chưa nhận được hạt giống tốt vào tấm lòng mình. Những giọt nước mắt cho thấy rằng chúng ta tin điều đó. Những giọt nước mắt là bằng chứng rằng chúng ta quan tâm khi chúng ta đi ra ngoài rao Tin Mừng. Nguyện Chúa giúp chúng ta than khóc cho những con người bị hư mất!
-
Nước mắt CỦA MỘT NGƯỜI CHA- “Tức thì cha đứa trẻ kêu lên rằng: “Tôi tin; xin Chúa giúp đỡ sự vô tín của tôi!” --
--được đưa ra trước chúng ta trong Mác 9:24. Đấy thật là một cảnh đau buồn. Nó được tái diễn nhiều lần ở nhiều gia đình. Dưới đây là một cậu bé xấu xa với một người cha cầu nguyện. Thật đau đớn khi mà người cha đã nhìn thấy như có linh độc ác đã làm khổ chàng trai.
Tấm lòng khao khát của người cha dành cho cậu bé chưa được an ủi. Ác quỉ độc ác biết bao! Hắn phá nát nhiều cuộc đời và mỉm cười cuộc đời bị đổ nát. Hắn tàn phá hồn người và vui mừng về sự tàn phá. Hắn phá vỡ trái tim và đổ dung dịch bắt lửa vào vết thương. Không có ân sủng trong chương trình của ma quỷ. Không có lòng thương xót trong kế hoạch của Satan.
Lời cầu nguyện của người cha được ghi lại trong đoạn văn này khi ông đến với Chúa Giêsu và nói trong nước mắt: "Lạy Chúa, tôi tin, xin giúp đỡ sự không tin của tôi". Nước mắt như vậy là quý giá trước mặt Chúa. Nước mắt như vậy nói lên một trái tim chân thành, một trái tim tin tưởng, một trái tim tha thiết hết sức. Nước mắt như có năng lực với Đức Chúa Trời. Hỡi các bậc làm cha, hãy mang con trai bạn, mang con gái của bạn đến với Chúa. Ngài sẽ thấy nước mắt của bạn và đáp lời tiếng khóc của bạn.
-
Nước mắt CỦA MỘT NỮ TỘI NHÂN –“Kìa, có một nữ tội nhân ở thành đó, ..đem đến một bầu bằng ngọc đựng dầu thơm, đứng đằng sau nơi chân Ngài mà khóc, nước mắt nhỏ ướt chân Ngài, rồi lấy tóc mình mà lau, và hôn riết chân Ngài, lại xức dầu thơm cho”.--
---đã cảm động trái tim của chúng ta như chúng ta đọc Luca 7:38. Dưới đây là một người phụ nữ tội lỗi quỳ dưới chân Chúa Giêsu. Cô rửa chân Chúa bằng nước mắt và lau chúng với tóc mình. Có lẽ cô đã được đứng trong một số ô cửa tối trên một đường phố của Capernaum khi Chúa Giêsu thốt lên tiếng kêu đáng nhớ, "Hãy đến cùng Ta, tất cả các người mệt mỏi và gánh nặng và Ta sẽ cung cấp cho sự nghỉ ngơi" (Math 11:28).
Tất cả những người đàn ông mà cô từng gặp, đã đến cướp bóc cô. Có lẽ đã giựt lấy tất cả những cô đã có, thậm chí đức hạnh của cô. Họ đã thêm vào đời cô nhiều rắc rối và gia tăng nỗi buồn. Tại đây có một Người mà sẽ cung cấp sự an nghỉ cho trái tim bối rối của cô. Cô mang bình ngọc trắng của mình, là vật quý các cô gái phương Đông, bẻ ra đổ trên hai bàn chân của Đấng mà cô sẽ dâng tấm lòng và tình yêu kính của mình. Đấng Christ đã nhìn thấy những giọt nước mắt đó. Chúng tiết lộ sự ăn năn thật sự của cô. Ngài đã ban tha thứ và sự bình an của Ngài cho cô. Bạn đã từng đến bên chân của Đấng Cứu Rỗi với nước mắt của bạn chưa? Bạn đã bao giờ thực sự đến với Ngài vì những gì mà chỉ có Ngài mới có thể ban cho không? Hãy quỳ xuống tại đó ngày hôm nay, cầu khẩn lòng thương xót của Ngài.
-
Những giọt nước mắt của MỘT VỊ VUA- "Ê-xê-chia khóc rất thảm thiết".
Giê-hô-va Đức Chúa Trời ..phán như vầy: Ta có nghe lời cầu nguyện ngươi, thấy nước mắt của ngươi… »,\--
---khi vua Ê xê chia đã khóc trên giường của mình trước sự hiện diện của sự chết (2 Các Vua 20: 5) nhắc nhở chúng ta rằng, ngay cả dòng hoàng phái cũng phải cùng khổ. Các vua và hoàng hậu cũng có nước mắt, vì vậy dù làm chính khách, chủ ngân hàng, đô đốc và chủ tịch, tổng thống cũng phải khóc. Người giàu, người mạnh mẽ, người nổi bật, tất cả đều có nước mắt. Nỗi buồn thì phổ quát. Nó có thể xâm chiếm bất kỳ trái tim nào, nơi mà con người không có cách gì có thể ngăn chặn nó. Những giọt nước mắt của Hezekiah, nhà vua, chạm vào trái tim của Đức Chúa Trời và mang lại cho ông mười lăm năm nữa cho cuộc sống của mình. Cầu nguyện bằng nước mắt thường có hiệu quả. Lời cầu nguyện không có nước mắt thường xuất phát từ trái tim khô khan. Trái tim khô khan không sản xuất những bông hoa nở lớn bằng ân sủng của thiên đàng. Chúng ta hãy cầu xin Chúa ban cho chúng ta trái tim mềm mại.
-
Nước mắt của cô CÔ AN NE –“An-ne lấy làm sầu khổ trong lòng, vừa cầu khẩn Đức Giê-hô-va, vừa tuôn tràn giọt lệ”--
---đã cầu nguyện trong nước mắt (I Samuel 1:10). Dưới đây là một người phụ nữ đã nhìn thấy nhu cầu rất lớn của Israel và cầu nguyện cho một người con trai có thể đem dân chúng trở về với Chúa. Cô là một người phụ nữ cằn cỗi, son sẻ. Mặc dù cô đã cằn cỗi không có con, trái tim cô đã giàu có khát vọng hướng về Đức Chúa Trời. Cô nhìn thấy sự cần thiết của dân tộc mình, cô nhận ra sự cần thiết sự hiện diện của Đức Chúa Trời, cô khao khát được làm dụng cụ mà qua đó vị cứu tinh có thể đến. Một lần nữa, Chúa đã thấy những giọt nước mắt quý giá, nhìn vào trái tim cầu nguyện và ban cấp những mong muốn của tâm hồn cô. Ô nguyện chúng ta cũng có thể như vậy, khóc trên nhu cầu của dân Chúa và tiếp nhận được câu trả lời từ Thiên Đàng.
-
Nước mắt của Một GIẢNG SƯ QUYỀN NĂNG- Tôi “hầu việc Chúa cách khiêm nhường mọi bề, đầy nước mắt”--
---đã đổ nước mắt (Công. 20:19). Sứ đồ Phaolô đã hùng mạnh trong lời nói và việc làm và có một trái tim nhân hậu. Ông khóc vì dân của Đức Chúa Trời cả đêm và ngày. Nên ông không có bài giảng khô hạn. Họ đã được ấm áp bằng nước mắt của ông. Những bài giảng của ông không phải là bài giảng lạnh nhạt. Những giọt nước mắt nóng từ một trái tim ấm áp nói ra bằng tình yêu sâu sắc đối với những người mà ông đã truyền đạo ở Ephesus. Ông khóc vì ông quan tâm. Những người mới tin là một gánh nặng trên tâm hồn ông. Cuộc gặp gỡ kéo dài của ông đã dài ra suốt ba năm (Công 20:31). Chúng ta không biết, khi nào ông đã gom tiền dâng hiến cứu trợ của tín đồ, nhưng chúng ta biết khi ông khóc. Thật là một giảng sư gương mẫu. Xin Chúa cho chúng ta tấm lòng nhân hậu, đôi mắt ẩm áp và tâm linh yêu mến những người mà chúng ta đã rao lời Chúa cho.
-Dr. Walter L. Wilson

LÊN NÚI XUỐNG TRŨNG- 2


Áp- ra-ham Trên Núi Mô-ri-a-
Chứng nhân Ê-tiên làm chứng về Áp-ra-ham, “Đức Chúa Trời vinh quang đã hiện ra cùng tổ phụ chúng ta là Áp-ra-ham khi ông còn ở tại Mê-sô-bô-ta-mi, trước khi đến định cư tại Cha-ran,”. Sau ngày gặp Chúa tại U-rơ, Áp-ra-ham trở thành kiều dân và lữ khách. Ông nhút nhát nên nhường quyền lãnh đạo cho bố Tha-rê, và cùng ra đi theo bố mẹ từ U-rơ đến Cha-ran. Bố ông không dám liều mạng đi tới nữa, nên lữ khách Áp-ra-ham đành phải tạm cư tại Cha ran đến 75 năm.
--- Lữ khách
Thơ Hê-bơ-rơ 11 ghi lại: “bởi đức tin, Áp-ra-ham vâng lời Chúa gọi đi đến nơi mình sẽ nhận làm cơ nghiệp, ông ra đi dù chẳng biết mình đi đâu. Bởi đức tin, ông cư ngụ như một ngoại kiều trong xứ Chúa đã hứa cho mình, sống trong các lều trại cũng như Y-sác và Gia-cốp, là những người đồng thừa kế cùng một lời hứa ấy, vì ông mong đợi một thành phố có các nền tảng do Đức Chúa Trời thiết kế và xây dựng”.
Sau khi bố Tha rê qua đời tại Cha-ran, Áp- ra-ham được 75 tuổi đạo. Ông cùng vợ là Sa ra và cháu là Lót, lên đường xuôi nam, và vào xứ Ca-na-an, là vùng cao mà Chúa đã chỉ cho ông. Đức Chúa Trời nói sẽ ban xứ đó cho hậu tư ông làm cơ nghiệm đời đời, nhưng bản thân ông là một lữ khách, một bộ hành, chưa sở hữu được “một thẻo đất lọt bàn chân” (Công 7:5). Trong suốt đời mình, ông không hề xây nhà định cư tại chỗ nào cố định, nhưng cứ ở trong lều trại tạm bợ, di trú luôn, vì ông mong đợi thành phố hầu đến.
Trong sách Khải huyền có chép 12 lần“những kẻ định cư trên trái đất”, thí dụ 3:10. Áp-ra -ham có nếp sống lữ khách trái ngược lại nhưng kẻ định cư trên đất, vì ông chờ đợi vĩnh trú trong thành phố có các nền tảng là Giê-ru-sa-lem mới. Ngày nay dân Chúa sống bám trụ, sống cuộc sống mọc rễ trong đời nầy, xây biệt thự hoành tráng cố định, vì họ không biết và không muốn sống cuộc đời lữ khách tạm thời trên trái đất. Tôi không có ngụ ý chúng ta không cần xây nhà mà sống nhà trại theo nghĩa đen.
--- Người xây dựng bàn thờ:
Một sự thật, tôi nghĩ, làm cột trụ trung tâm đời sống của Áp-ra-ham, là bàn thờ của Chúa. Ba địa điểm ghi dấu bàn thờ của ông là Si-chem, Bê tên và Hếp rôn. Ông cũng xây bàn thờ những nơi nào mà ông di trú đến, nhưng Kinh thánh không nói rõ.
Mọi sự Áp-ra-ham có như bản thân, tương lai, gia súc, của cải, thì giờ, ngay cả con trai độc nhất, con thừa kế, ông cũng đặt trên bàn thờ. Anh em có thể cầu nguyện như vầy chăng:
.
“Tôi nguyện dâng tất sanh, Chúa hãy nhậm lời,
Jesus Chân Chúa ơi, quyết dâng trọn đời,
Muôn sự dâng ở bàn thờ, xin toàn dâng Chúa bây giờ,
Huyết Chúa mua thân hồn nầy, nguyền đầu phục Ngài”.
.
Ước mong ngày nay còn có nhiều lữ khách có thể làm chứng: ‘Tôi đã lấy xích yêu thương tự cột mình như con sinh vào các sừng bàn thờ của Chúa trọn cuộc đời của tôi’. (Thi 118:27).
--- Được khải thị Danh của Chúa
Khi bố Tha-rê qua đời, theo Sáng 11: 26, 32, thì Áp-ra-ham phải 135 tuổi, nhưng Sáng 12: 4 chép ông chỉ có 75 tuổi và qua đời năm 175 tuổi đạo. Trong cuộc đời tin kính 175 năm, Chúa hiện ra với ông nhiều lần, mà Kinh thánh chỉ ghi lại khoảng 10 lần. Đó là lần Chúa hiện ra tại U-rơ, tại Cha-ran, tại Si chem, tại Bê tên sau khi ông từ Ai cập trở về. Chúa hiện ra với ông sau khi Lót ra đi. Chúa hiện ra với ông để lập giao ước sau khi ông giải cứu Lót xong… Trong những lần Chúa hiện ra đó có hai lần quan trọng nhất là hiện ra vào năm ông 99 tuổi, bày tỏ Danh El-Shaddai (The all-sufficient God)- Đức Chúa Trời Toàn Túc- cho ông lần đầu tiên. Và lần Chúa hiện ra, có lẽ là cuối cùng với ông là Ngài hiện ra trên núi Mô-ri-a.
Hai danh thánh nầy của Chúa đã khải thị cho Áp-ra-ham biết và kinh nghiệm nhiều điều thâm thúy. Đức Chúa Trời toàn túc biến đổi ông trở nên người hoàn hảo thuộc linh (Mathio 5:48). Đức Giê-hô-va Di rê, quan phòng, thấy trước và dự bị Đấng Mê-si-a, là sự dự bị đầy đủ cho ông và hậu tự kể từ cõi thời gian nầy cho đến cả cõi vĩnh hăng lai thế.
--- Con người của đức tin lên núi Mô-ri-a-
Khi Chúa thấy Y-sác, con yêu dấu đã xâm chiếm toàn bộ tâm tư, tình cảm, ý muốn con người Áp-ra ham, Chúa trắc nghiệm ông, nhằm mục đích rứt Y-sác ra khỏi sự chiếm hữu lạm dụng của Áp-ra-ham đối với quà tặng của Ngài. Áp- ra- ham đã đậu bài thi trắc nghiệm khó khăn đó, khi ông không bàn luận với vợ, chỉ âm thầm đem con trai yêu quý dâng lên làm của lễ thiêu cho Đức Chúa Trời trên núi. Ông coi việc đó chỉ là một hành động thờ phượng. Có lẽ lúc đó Y-sác khoảng 12 tuổi, nên sau 112 năm theo Chúa, thờ phương Ngài, Áp-ra-ham đã leo lên được ngọn núi Mô-ri-a. Tự điển ghi “Mô-ri-a” là “Jah provides”(Đức Giê-hô-va dự bị). Khi đó, dường như do cảm động, Chúa đã lấy bản thể Ngài mà hai lần thề ban phước cho Á-ra-ham và hậu tự của ông... mà theo Mathio 1:1, và Galati 3: 16, hậu tự quan trọng nhất của Áp ra ham là Chúa Giê-su.
Tác giả thơ Hê-bơ-rơ 11, chắc là Phao-lô, đánh giá cao khi Áp-ra-ham leo lên được núi Mô-ri-a, “Bởi đức tin, Áp-ra-ham dâng hiến Y-sác làm sinh tế khi bị Chúa thử nghiệm. Ông sẵn sàng dâng hiến con một của mình, dù đứa con đó chính là lời hứa ông đã nhận. Vì Đức Chúa Trời đã phán bảo ông: “Từ Y-sác, con sẽ có một dòng dõi mang tên con.” Vì kể rằng Đức Chúa Trời có khả năng khiến kẻ chết sống lại, nên theo nghĩa bóng Áp-ra-ham đã nhận lại con mình từ cõi chết”.
---Bạn hữu của Đức Chúa Trời-
Sau khi lên tuyệt đỉnh trong kinh nghiệm thuộc linh của mình, núi Mô-ri-a, Áp-ra-ham được Đức Thánh Linh, Tác giả Kinh thánh ban cho ông một tước hiệu là “Bạn hữu của Đức Chúa Trời”. Kinh thánh mô tả Đa-vít là người vừa lòng Chúa, Đa-ni-ên là người rất được thiên đàng yêu quý, chỉ có Áp-ra-ham được danh hiệu: “Bạn của Đức Chúa Trời”. Kinh thánh chép việc nầy đến ba lần là 2 Sử kí 20:7; Ê-sai 41: 8 và Gia cơ 2:23. Chúa tôn quý Áp-ra-ham biết dường nào!
--Xuống Ai-cập-
Không có đỉnh núi vinh quang nào mà không có vực sâu nằm kế bên. Trước khi lên núi Mô-ri-a, Áp ra ham chỉ mới lên được núi Si-chem, Bê-tên, nhưng vì thích sống theo trào lưu dân thế tục đương thời, ông đã theo đoàn ngừi xuôi Nam, đi lần xuống “xứ đượm sữa và mật” thời đó (Dân 16: 13), là xứ Ai cập, để mưu sinh. Đức Chúa Trời vinh hiển đã gọi Áp-ra-ham cho mục đính đời đời, Ngài không bỏ cuộc, nên đã tạo ra sự bất ổn cho ông tại Ai-cập. Cám ơn Chúa, ông đã ra khỏi “ nồi thịt”, lìa bỏ “những dưa chuột, dưa gang, củ kiệu, hành, và tỏi”, với đủ thứ mùi vị khoái khẩu của nó. Ngợi khen Chúa, Áp-ra-ham đã được phục hồi nếp sống lữ khách và bàn thờ, khi ông trở lại Bê-tên lần thứ hai và tiếp tục thờ phượng cùng kêu cầu “danh Đức Giê-hô-va, là Đức Chúa Trời hằng hữu” (Sáng 21: 33) do đó ông mới lên được núi Mô-ri-a, núi của Đức Giê-hô-va thiên hựu vào lúc kết cuộc. Ngợi khen Chúa.
Minh Khải- March 9, 2022

Thứ Ba, 8 tháng 3, 2022

Người Đầy Tớ Trung Thành Và Khôn Ngoan-

Ma-thi-ơ 24: 45-47, "Ai là đầy tớ trung tín và khôn ngoan, được chủ giao quản lý nhà mình để cấp phát thức ăn đúng giờ? Phước cho đầy tớ ấy, khi chủ đến thấy làm như vậy!".
Dụ ngôn này từ miệng Chúa Jêsus đề cập đến thời kỳ của hộ gia đình Cơ đốc mà chúng ta đang sống. Vào thời điểm Chúa vắng mặt, có hai loại tôi tớ ở đây trên đất — những người mà chúng ta nhận ra qua hình ảnh của người đầy tớ trung tín và khôn ngoan, và loại đầy tớ mà chúng ta nhận ra trong hình ảnh của tôi tớ gian ác. Trong phần tiếp theo, chúng ta sẽ hướng sự chú ý đến người đầy tớ trung thành và khôn ngoan, sống ngược lại với người đầy tớ gian ác, nhưng cung cấp chất dinh dưỡng thuộc linh cho các thành viên trong gia đình khi vắng mặt chủ. Anh ta được mô tả là trung thành và khôn ngoan, và có đặc điểm là cho anh em đồng đạo ăn đúng lúc. Lòng trung thành và sự cẩn trọng của người đầy tớ này là điều kiện tiên quyết quan trọng cho sự phục vụ mà chủ giao cho anh ta:
--Anh ấy trung tín-

Lòng trung tín của người đầy tớ này được thể hiện qua việc anh ta cung cấp thức ăn cần thiết cho những người được giao cho anh ta chăm sóc. Khi hoàn thành nhiệm vụ này, anh ấy là người đáng tin cậy và trung thành. Anh ấy thấy rằng không ai trong số anh em của mình đói thuộc linh hoặc thiếu ân điển của Đức Chúa Trời (Hê-bơ-rơ 12:15). Anh ấy mang đến cho họ sự nuôi dưỡng thuộc linh mà họ cần vào đúng thời điểm. Để thực thi chức vụ này theo tâm trí của Thầy, đòi hỏi phải học Lời Chúa thường xuyên và sốt sắng. Vì chỉ những ai để cho Lời Chúa ở trong mình một cách phong phú và những ai nuôi dưỡng mình hằng ngày từ thân vịi của Chúa Giêsu, mới có thể cung cấp cho người khác sự nuôi dưỡng thuộc linh (Col. :16). Ngoài ra, một phụng vụ như vậy đòi hỏi phải từ bỏ một số tiện nghi và niềm vui trần thế. Nhưng lời khen “được lắm” từ miệng chủ sẽ bù đắp cho mọi nỗ lực và hi sinh của người hầu việc. Một ngày nào đó, chủ sẽ đặt đầy tớ trung thành và khôn ngoan nầy trên tất cả tài sản của mình.
--Anh ta thông minh

Sự cẩn trọng của người đầy tớ này được thể hiện qua việc cho gia đình mình thức ăn tương xứng với sự trưởng thành và hiểu biết của họ. Trong khi phân phát sữa cho trẻ em và những người trẻ mới cải đạo, anh cho người lớn và những người tín đồ cao cấp thức ăn cứng (Hê-bơ-rơ 5:14; 1 Phi 2: 2). Sự phụ thuộc vào Ngài, do Thánh Linh hướng dẫn, và có sự khôn ngoan từ trên cao là điều cần thiết để phân phát chất bổ thuộc linh mà Chúa đã dành đúng cho đối tượng và hoàn cảnh (1 Phi 4:11). Chắc chắn, Chúa biết mọi thứ và có thể đáp ứng mọi nhu cầu, nhưng Ngài muốn sử dụng các tôi tớ của Ngài cho việc này. Sự cẩn trọng của người đầy tớ này còn được thể hiện rõ qua việc anh ta thực hiện nhiệm vụ của mình trong sự mong đợi chủ không ngừng. Anh ấy ý thức rằng Chúa của anh ấy - khi Ngài tái lâm - sẽ đưa mọi thứ ra ánh sáng và cũng xét xử chức vụ của anh (2 Cô 5:10). Mong muốn của anh ấy là được phục vụ khi Chúa đến và được sự chấp thuận của Chúa tại tòa án của Đấng Christ. Điều đó đã thúc đẩy anh ấy trung thành phục vụ.
Chẳng phải chúng ta cũng nên là những tôi tớ như vậy, phục vụ trong ánh sáng ngày Chúa đến sao? Ai là người trung thành và khôn ngoan đây?
1 lượt chia sẻ
Thích
Bình luận
Chia sẻ

Giá Trị Của Thời Gian-

Ma-thi-ơ 25:46, "Rồi những kẻ nầy sẽ vào hình phạt đời đời, còn những người công chính sẽ vào sự sống đời đời"
- Để hiểu giá trị của một năm, hãy hỏi một học sinh đã trượt kỳ thi quan trọng cuối cùng của năm học.
- Để hiểu giá trị của một tháng, hãy hỏi bất kỳ bà mẹ nào có con sinh non.
- Để hiểu giá trị của một tuần: Hãy hỏi biên tập viên của một tờ báo hàng tuần.
- Để hiểu giá trị của một ngày: Hỏi một người lao động một ngày phải nuôi 10 người con.
- Để hiểu giá trị của một giờ: hãy hỏi những người yêu nhau đang chờ đợi nhau.
- Để hiểu giá trị của một phút, hãy hỏi ai đó vừa bị lỡ chuyến tàu điện, xe buýt hoặc máy bay được cho là sẽ đưa họ đến một điểm đến quan trọng.
- Để hiểu giá trị của một giây, hãy hỏi một người sống sót sau một vụ va chạm, tại nạn trực diện trong một chiếc xe.
- Để hiểu giá trị của một mili giây, hãy hỏi một vận động viên đã giành được huy chương bạc khi về nhì lúc kết thúc Olympic.
Bạn có thể tìm thấy nhiều ví dụ về điều này hoặc điều gì đó tương tự trên Internet.
Nhưng một câu hỏi lớn vẫn còn đó: ai có thể hiểu được giá trị của cõi vĩnh hằng?
Đức Chúa Trời có thể. Và Ngài nói với chúng ta rằng có hai cách để tồn tại vĩnh viễn: trong mối tương giao với Ngài hoặc xa cách Ngài. Mãi mãi ở địa ngục hay mãi mãi trên thiên đường. Mong tất cả những ai đọc được những dòng này sẽ có quyết định đúng đắn!

Thứ Hai, 7 tháng 3, 2022

CON CÁI VÀ CON TRƯỞNG-

Kinh thánh Tân ước tiếng Hi lạp dùng hai chữ là teknon và huios mà tiếng Việt đều dịch không sáng tỏ là “con”. Tiếng Anh dịch hai chữ nầy là child và son cách tinh nghĩa hơn. Thực ra teknon nên dịch là “con cái—child), là con theo huyết thống, di truyền bản chất bố mẹ; còn chữ “huios” nên dịch là “con trưởng—son”, là con trưởng thành, có tư cách và địa vị thừa kế tài sản cha mẹ.
1. Giăng 1:12, “Nhưng hễ ai đã tiếp nhận Ngài, thì Ngài ban cho quyền bính trở nên con cái (child) Đức Chúa Trời, tức là cho kẻ tin đến danh Ngài”—
Bất cứ ai tin và tiếp nhận Chúa Jesus đều trở thành con cái Đức Chúa Trời, không phải trả giá gì cả
2 -Mathio 5:9, “Phước cho kẻ giải hoà, vì sẽ được gọi là con (son) Đức Chúa Trời!”.Chỉ con trưởng mới có khả năng giải hòa tín đồ (peacemarkers), không muốn làm xáo trộn dân Chúa.
-Luca 6;35, “Song hãy thương yêu kẻ thù nghịch, hãy làm lành, hãy cho mượn, mà đừng mong báo đáp gì, thì phần thưởng các ngươi là lớn, và các ngươi sẽ làm con (son) của Đấng Chí Cao; vì Ngài làm nhơn cho kẻ phụ ơn và kẻ ác”
Chỉ những tín đồ trả giá như như giải hòa, không gây cho tín đồ chia rẽ, đâm bị thóc chọc bị gạo thương yêu kẻ thù, cho mượn không đòi lại mới được gọi là con trưởng (son). Phải trả giá cao mới trở thành son.
-
* Phao lô nói rõ như sau:
-Con cái được tái sinh mà còn ấu trỉ: “Vì anh em chẳng nhận lãnh tâm linh của danh phận tôi mọi để lại sợ hãi, bèn là đã nhận lãnh tâm linh của danh phận con cái, và nhơn đó chúng ta kêu: "Aba, Cha!" Chính Thánh Linh cùng tâm linh chúng ta đồng chứng rằng chúng ta là con cái ( child) của Đức Chúa Trời” (Rô ma 8:15-16).
-Con trưởng mới có khả năng bước đi theo sự dẫn dắt của Linh Đức Chúa Trời—“phàm ai được Linh Đức Chúa Trời dắt dẫn đều là con (son) của Đức Chúa Trời” (Rô-ma).
Kết luận:
Các bạn chỉ là con cái (children) được cứu, được tái sinh suông hay các bạn đã trưởng thành, do trả giá, làm con trưởng (sons) của Chúa?
Trong hội thánh, lúc nào con cái (children) cũng đông hơn con trưởng (sons). Chỉ con trưởng mới được thừa kế vương quốc thiên hi niên sắp đến (Rô ma 8: 17)

Hoàng Thân Bất Hạnh-

Khải Huyền 1: 5-6.
Vào tối ngày 13/02/2018, Hoàng thân Henrik của Đan Mạch, chồng của Nữ hoàng Margrethe II của nước Đan Mạch, đã qua đời.
Mặc dù được hưởng nhiều tiện nghi từ cuộc sống ở cung đình, nhưng ông đã gây gổ đến cùng với sự thật rằng-- t5i sao với tư cách là chồng của nữ hoàng, ông không được phong tước hiệu là "Vua Đan Mạch". Mùa hè năm ngoái, ông đã thách thức tuyên bố rằng ông không muốn được chôn cất bên cạnh vợ mình, Nữ hoàng, mà không có tước vị thích hợp. Hoàng thân Henrik sống như một vị vua - nhưng không vui vì không có được tước hiệu hoàng gia.
Ngược lại với điều này, con cái của Đức Chúa Trời ngày nay đã có “tước hiệu của các vị vua”, mặc dù người thế giới chưa thể nhìn thấy nó ở bề ngoài - và họ thực lòng vui mừng về điều đó! Vì Chúa chúng ta, Đức Chúa Jêsus Christ đã tạo cho chúng ta một vương quốc:
“Đấng yêu thương chúng ta đã lấy huyết mình giải thoát chúng ta khỏi tội lỗi, 6và làm cho chúng ta trở nên vương quốc, trở nên các thầy tế lễ cho Đức Chúa Trời, là Cha Ngài, đáng được tôn vinh và uy quyền đời đời! A-men ”(Khải. 1: 5,6).
Thuật ngữ "vương quyền" giới thiệu cho chúng ta ba chân lý cao đẹp:
1. Các tín hữu sẽ trị vì (1Cor. 6: 2.3; Khải 20: 4; Eph 1: 10.11). Thật là tuyệt vời khi những ai là người thiên nhiên đã liên tục thất bại trong cuộc đời trong phạm vi trách nhiệm của mình, thì Chúa Giê-su phải cho phép với tư cách là những người đã được cứu chuộc thực thi trách nhiệm và chủ quyền của Đức Chúa Trời vì lợi ích của Ngài và vì sự vinh hiển của Ngài.
2. Họ sẽ ngự trị ở cấp độ cao nhất. Vua là người có chủ quyền tối cao của một vương quốc, nắm giữ quyền lực tối cao của chính phủ. Lời của ông là hoàn toàn ràng buộc đối với tất cả các thần dân của vương quốc của mình. Tuy nhiên, tư tưởng quản trị ở cấp độ cao nhất không làm mất đi thực tế rằng các tín đồ như một vương quốc phải tuân theo và phụ thuộc vào Chúa Giê-su, “Vua của các vị vua”.
3. Các tín đồ sẽ cai trị chung với người khác. Đó là lý do tại sao chúng ta không nói về "các vị vua" ở đây, mà nói về "một vương quốc". Sự trị vì sẽ là một sự “cùng nhau cai trị” (2 Tim 2:12) - với các tín hữu khác và với Đấng Christ! Từ Khải huyền 20: 4, chúng ta biết rằng chúng ta sẽ trị vì "với Đấng Christ một ngàn năm." Là một con người và là vua của các vị vua, Chúa Giê-su sẽ có quyền tối cao tuyệt đối và cũng thực hiện quyền đó trên trái đất này. Nhưng trong sự tốt lành và ân điển của Ngài, Ngài cho phép chúng ta dự phần các quyền vương giả của Ngài - không chỉ trong thiên niên kỷ tới , mà còn vĩnh viễn (Khải 22: 5).
Bên ngoài, phẩm giá hoàng gia này vẫn chưa thể hiện rõ trong các tín đồ. Nhưng thực tế là chúng ta đã có phẩm giá này, nó thúc đẩy chúng ta phải sống theo cách mà cuộc sống thực tế của chúng ta ngày nay phải phù hợp với địa vị cao quý này.
Nhưng khi vương quốc của Ngài được bày tỏ trong vinh quang, thì toàn thế giới sẽ thấy rằng chúng ta là một vương quốc, vâng, vương quốc của Ngài (xem Côl. 3: 4; 2 Tê. 1:10).
Với niềm vui sướng và lòng biết ơn đối với món quà là vương quyền, chúng ta có thể cùng nhau ngợi khen:Ngài "đáng được tôn vinh và uy quyền đời đời! Amen ”(Khải. 1: 6)

Bài Giảng Youtube Ê-Phê-sô

 https://www.facebook.com/101303225616266/videos/1042998452965293/

Chủ Nhật, 6 tháng 3, 2022

NHÀ CÁC NGƯƠI SẼ BỊ HOANG PHẾ-

Ma-thi-ơ 23

Mathio 23:38, “Nầy, nhà các ngươi sẽ bị hoang phế!

Trên đây là phán quyết của Chúa trên nhà Israel do miệng Ngài tuyên ra vào năm 30, và đến năm 70 SCN, Chúa đã dùng quân La mã tiêu diệt đền thánh và thành thánh Jerusalem. Tôi tin phán quyết nầy cũng đã đang xảy ra trên nhà của Đức Chúa Trời hôm nay, là giáo hội nói chung, như sứ đồ Phi-e-rơ đã xác quyết trước khi có sự cố năm 70 xảy ra: “Vì thời kỳ phán xét đã đến, bắt đầu từ nhà Đức Chúa Trời; nếu bắt đầu từ chúng ta thì sự cuối cùng của những kẻ không vâng phục Tin Lành Đức Chúa Trời sẽ thế nào?” (1 Phiero 4:17).

Nhớ lại, trước khi Chúa phán câu: “Nầy, nhà các ngươi sẽ bị hoang phế!”, Ngài đã cỡi lừa con vào thành thánh. Ngay sau đó Ngài đến đền thờ dọn sạch nó. Hơn ba năm trước khi Ngài dọn sạch đến thờ lần thứ nhất, Ngài gọi đền ấy là của Cha Ngài (Giăng 2), hôm nay, trong lần dọn dẹp lần cuối cùng Ngài nói đền thờ đó chỉ là nhà cầu nguyện của muôn dân.. Rồi ba hôm sau, Ngài tuyên ra 8 lời khốn thay, nguyền rủa giai cấp cầm quyền Do thái giáo, và tuyên bố phán quyết: “Nầy, nhà các ngươi sẽ bị hoang phế!”- và đền thờ đó đã hoang phế thật sự hơn 1950 năm qua..

Các bạn ơi, nếu chúng ta suy nghĩ ra lý do mà đền thờ Jerusalem đã bị hoang phế, tôi tin chúng ta sẽ hiểu được lý do tại sao giáo hội Tân ước hôm nay nói chung cũng đã hoang phế.

 -- “Các ngươi đừng để người nào gọi mình là thầy (ra-bi); vì các ngươi chỉ có một Thầy (Teacher0, còn mọi người đều là anh em“--Chúa đã 8 lần, dùng tám lời nặng nề nguyền rủa tập đoàn cầm quyền tôn giáo. Tập đoàn nầy có các thầy (Ra-bi) câu 8, 9. Chữ Ra-bi nghĩa đen là” đấng đáng được tôn kính”. Chúa Giê-su không hề dùng chữ “ra-bi” làm ngôi thứ nhất khi Ngài nói chuyện. Một vài lần người ta gọi Ngài là “ra-bi” (Giăng 1: 38, 20:16). Các môn đồ thường gọi Ngài là “Chúa”, còn người Do thái vô tín gọi Ngài là “thầy” (teacher), Chúa cấm chúng ta làm ra-bi. Vào thời Trung cổ Giáo hội dựa vào Thi thiên 111: 9- “Danh Ngài (Chúa) là thánh và đáng kính sợ”, mà đặt ra một tước hiệu là Reverend (viết tắt là Rev.), nghĩa là người tôn kính. Tước hiệu nầy có giá trị tương đương chữ Ra-bi, đã đặt cho hàng tăng lữ, giáo phẩm trong giáo hội. Các bậc hàng giáo phẩm đều là các rev. , các bậc đáng tôn kính cả. Nhưng Chúa lên án và ghét bỏ (Khải 2: :6)..

-- “Cũng đừng gọi bất cứ người nào trên đất nầy là cha; vì các ngươi chỉ có một Cha, là Đấng ở trên trời”. Tôi không cần nói, anh em cũng thừa biết một giáo hội kia có hàng tăng lữ tự xưng mình “cha” trên mọi người trong chi hội mình, và làm “cha” trên thân sinh, từ mẫu của mình nữa. Điều lạ lùng là có vài hệ phái Tin Lành, trong đó, hàng giáo phẩm ra lệnh cho con cái Chúa gọi mình là “cha” là “mẹ” cách công khai. Thật là lối sống: “thích ngồi chỗ danh dự trong bữa tiệc và những ghế quan trọng nhất trong các nhà hội”. Đáng bị lên án thay!

-- “Cũng đừng để người nào gọi mình là chủ; vì các ngươi chỉ có một Chủ, là Đấng Christ.. Theo nguyên ngữ chữ “chũ” xuất hiện hai lần trong câu nầy , theo nguyên văn là kathegetes. Chữ nầy có nghĩa là người chỉ đạo, lãnh đạo. Ngày nay có nhều nhà chỉ đạo, nhiều nhà lãnh đạo dân Chúa. Họ hành xư qua mặt Đấng Christ, vì Ngài là nhà lãnh đạo Đức Chúa Trời bổ nhiệm làm Đầu của giáo hội chung. (Eph 5:23).

Nếp sống khác biệt của tập đoàn giáo quyền bộ ba: --ra-bi (rev.), các cha, các chủ lãnh đạo nên nhà Chúa bị án phạt hoang phế. Tập đoàn tôn giáo bộ ba nầy ngồi trên tòa Môi-se ra phán quyết về mọi sự vụ đời sống của con chiên, gán gánh nặng khó mang cho con chiên, đè nén con chiên, lợi dụng tiền bạc của quả phụ trong giáo hội.

 Tập đoàn ra-bi tái xuất hiện trong giáo hội hôm nay sau khi dổi thay các danh hiệu là “sư”, là reverend (Rev). Chúa chỉ chấp nhận người chăn, mục tử (xem Lu ca 2:8). Ngài cũng tự xưng là Người chăn, là mục tử, mà con người ta dịch chữ “người chăn” trong Epheso 4:11 ra chữ “mục sư”. Vì theo triết lý Á Đông:-- “quân sự phụ” , thì sư là bậc tôn kinh hơn cha mẹ. Nên “sư” trong mục sư chính là ra-bi ngày nay. Chũ reverend (rev.) cũng đồng nghĩa..Tôi khuyên anh chị em đang mang chức sắc “mục sư” hãy đổi mình làm mục tử đi. Vì chũ “sư” (ra-bi), chữ Reverend (rev), chữ “cha”, chữ “Lãnh đạ” (chủ”--- tât cả đều nằm dưới 8 lời nguyền rủa của Chúa. Và chính nếp sống bề ngoài, ăn trên ngồi trước, ngồi trên tòa Môi sẽ của anh em sẽ đem giáo hội chung đến tình trạng hoang phế hôm nay, và cuối cùng mọi hình thức bên ngoài của Giáo hội sẽ bị xóa sổ khi antichrist lên ngôi (Khải 17: 16).

 Tôi cầu nguyện để anh chị em, là tập đoàn cầm quyền trong giáo hội hiện nay, được Chúa lột xác, biến đổi, để anh chị em sẽ trở nên: “các nhà tiên tri, những người khôn ngoan (minh triết), các thầy thông giáo” của Chúa sai đến (Mathio 23: 34).. Thầy thông giáo tích cực đây là người thông thạo kinh thánh như sứ đồ Phao-lô (Mathio 13:52). Thầy thông giáo nầy không nằm trong tập đoàn Ra-bi trên đây.

 Trước tình trạng nhà Chúa đang bị hoang phế, đã trở thành nhà lớn khoa đại, bề ngoài huênh hoang, Chúa vẫn còn có những nhà tiên tri, những người khôn ngoan, các thầy thông giáo thuộc linh, và “ những người được sai đến” đang sống giữa chúng ta. Anh em không nhận ra họ, còn bách hại họ, và cứ quỵ phục tập đoàn ra-bi đáng tôn kính kia, thì Nhà Chúa hôm nay không thể không đi dần vào tình trạng hoang phế và điều tàn.--- dành sằn cho 10 sừng con thú làm cỏ.

Hodos 6-3-2022