Thứ Bảy, 28 tháng 8, 2021

VÀNG, NHŨ HƯƠNG VÀ MỘT DƯỢC-

Ma-thi-ơ 2: 10-11-

Các nhà thông thái từ phương đông đã đi một chặng đường dài. Có lẽ họ đến từ Ba Tư xa xôi. Nhưng không chỉ như vậy. Không. Chúa đã đưa họ đến Bết-lê-hem theo cách mà họ có thể hiểu được. Những người uyên bác này đã tham gia vào chiêm tinh học và Đức Chúa Trời đã sử dụng nó. Ngài đã ban cho họ một ngôi sao với tư cách là một hướng dẫn viên cuôc hành trình. Và bây giờ họ đã đến ngôi nhà cụ thể.
“Khi họ thấy ngôi sao, lấy làm vui mừng quá đỗi, bèn vào nhà, thấy Con trẻ cùng Ma-ri mẹ Ngài, thì sấp mình xuống mà thờ lạy Ngài; rồi họ mở của báu ra, dâng lễ vật cho Ngài là vàng, nhũ hương và một dược ”( Math. 2:10-11 ).
Rõ ràng là chính Đức Chúa Trời đã kêu gọi những pháp sư này cho một nhiệm vụ đặc biệt. Họ nên bày tỏ lòng tôn kính đối với Chúa Jêsus ở đó, ngay sau khi Ngài sinh ra, ngay sau khi Ngài đến thế giới này, và họ mang theo những món quà: vàng, nhũ hương và một dược. Chúng không chỉ được liệt kê, và chúng ta sẽ thấy rằng thứ tự mà chúng được đề cập cũng rất quan trọng.
Trước tiên hãy nói về ý nghĩa biểu hiệu của vàng, nhũ hương và một dược trong Kinh thánh:
Vàng luôn nói về sự vinh hiển và sự công nghĩa của Chúa Giê-xu và sự hoàn hảo thần thượng của Ngài. Ví dụ, hãy lấy rương Giao ước, hình ảnh vinh quang của Chúa Jêsus, trong đó mọi thứ từ đòn khiêng đều được dát vàng (Xuất. 25: 10-13).
Nhũ hương là hình ảnh vinh quang của Chúa khi Ngài bước đi trên đất này trong sự hiệp thông hoàn hảo với Chúa Cha (xem Lê-vi Ký 2: 1-3 và Giăng 4:34). Sự cầu nguyện có một vị trí đặc biệt ở đây (Lu-ca 22:41–45, Khải. 8:3–5).
Một dược nói rất nhiều về những đau khổ của Chúa. Đó là một thứ nhựa thơm tuyệt vời, nhưng rất đắng (Eph 5:2; Mác 15:23; Thi. 69:22).
--Đền tạm
Các khía cạnh nói trên về thân vị của Chúa Giê-su cũng có thể được tìm thấy ở những nơi khác trong Kinh Thánh, cụ thể là tại đền tạm. Như đã đề cập, gương Giao ước, như chúng ta tìm thấy trong Xuất hành, nói về Chúa Giê-su một cách tuyệt vời, với chiếc nắp vàng đúc của sự chuộc tội chiếm một vị trí đặc biệt (Xuất 25: 10-22). Đây chúng ta có vàng.
Và khi chúng ta đọc về bàn thờ xông hương trong Xuất. 30 và 40, chẳng phải suy nghĩ của chúng ta tự động chuyển sang những lời cầu nguyện và bước đi của Chúa Giê-su, Đấng hoàn toàn phù hợp với ý muốn của Đức Chúa Trời sao? Đây là những gì nhũ hương nói đến.
Tất cả những gì còn lại là bàn thờ của lễ thiêu (Xuất. 40:29). Khi chúng ta đọc sự mô tả trong Lê-vi Ký 1, không thể nào có cách nào khác hơn là chúng ta thấy Chúa và Đấng Cứu Thế của chúng ta khi Ngài đi đến thập giá khủng khiếp, nơi Ngài đã hi sinh chính mình cho bạn và tôi (xem thêm Eph 5: 2 và Galati 2:20b) . Đó không phải là một dược sao? Dù cay đắng, ngọn lửa tỏa hương thơm của một dược lên cho Đức Chúa Trời.
Vì vậy, chúng ta thấy rằng ở đây trong Ma-thi-ơ 2:11, qua các nhà thông thái từ phương đông, Đức Chúa Trời giới thiệu thân vị và cuộc đời của Chúa Giê-su và công việc vĩ đại mà Ngài sẽ hoàn thành trên thập tự giá ngay sau khi Ngài đến thế giới. Về nguyên tắc, Đức Chúa Trời ban cho sự tiết lộ đầy đủ về con trẻ nầy là Ai. Chúng ta được trình bày ở đây một cách đơn giản nhưng nhấn mạnh con đường mà con trẻ này sẽ làm để tôn vinh Cha mình ở mức độ cao nhất và để dọn đường cho bạn và tôi.đến với Cha của Ngài.
--Thứ tự của những món quà:
Chúng ta đã nói về Hòm Giao ước, bàn thờ xông hương và bàn thờ của lễ thiêu. Nếu chúng ta chuyển sang Xuất. 40, chúng ta sẽ thấy sự mô tả chi tiết về cách sắp đặt tất cả những điều này:
--Hòm Giao ước đứng trong nơi chí thánh (câu 20-21).
--Bàn thờ xông hương phải đặt trong đền tạm, trước bức màn (câu 26).
--Và bàn thờ của lễ toàn thiêu đặt ở lối vào đền tạm, ngoài sân (câu 29).
Vì vậy, khi bạn đi vào đền tạm, trước tiên bạn đi ngang qua bàn thờ của lễ thiêu, sau đó dọc theo bàn thờ xông hương để đến nơi chí thánh, nơi đặt hòm giao ước. Trong đó chúng ta thấy một dược, nhũ hương và vàng. Chính xác theo thứ tự ngược lại. Đó là thứ tự của con người. Nhưng nhiều điều hơn điều này có thể có về sau.
Đức Chúa Trời luôn luôn ghi nhớ sự vinh hiển của Chúa Giê-xu Con Ngài. Chúa Giêsu đã được vinh quang chưa từng có với Chúa Cha (Giăng 17:24). Do đó, trong Ma-thi-ơ 2:11, vàng được xếp trước, sau đó là nhũ hương và một dược. Đây là cách Đức Chúa Trời nhìn thấy Chúa Jêsus. Chúng ta tìm thấy nó một lần nữa trong đền tạm. Trong Xuất 25:22, chúng ta đọc rằng Đức Chúa Trời sẽ phán ra từ nắp thi ân giữa hai chê-ru-bim ở trên hòm chứng cớ. Và khi nào Đức Chúa Trời đã phát ngôn với vẻ kinh sợ, từ nơi này nhìn ra bên ngoài, Ngài thấy trước tiên là bàn thờ xông hương và sau đó là bàn thờ của lễ thiêu. Vàng, nhũ hương, một dược. Đây là con đường mà Chúa và Đấng Cứu Rỗi của chúng ta đã bước đi:
--Ngài đã để lại vinh quang trên trời - vàng.
--Ngài đã sống ở đây trên trái đất hoàn toàn phù hợp với ý muốn của Đức Chúa Trời – nhũ hương.
--Cuối cùng, Ngài đã đi đến thập tự giá khủng khiếp – một dược.
Chúng ta tìm thấy thứ tự tương tự trong Phi-líp 2: 6–8.
Trong Xuất. 30, chúng ta tìm thấy sự mô tả thùng rửa. Luôn luôn là hình ảnh của Kinh thánh, lời Chúa, và quyền năng thanh tẩy của Ngài (Eph. 5:26). Nhìn từ hòm giao ước, chậu rửa đặt ngay trước bàn thờ của lễ thiêu (Xuất. 40:30). Chúng ta tìm thấy điều đó một lần nữa trong Giăng 19:28. Trước khi của lễ thiêu, tất cả những gì được chép trong Lời Đức Chúa Trời về Chúa Giê-su phải được ứng nghiệm để Chúa có thể kêu lên trong câu 30, "xong rồi".
--Vàng và một dược-
Nếu chúng ta đọc tiếp câu 9 trong Phi-líp 2, chúng ta sẽ thấy ngay lập tức có vàng tiếp sau một dược.- chúng thuộc về lẫn nhau. Bạn không thể tách rời chúng ra khỏi nhau. Và Satan đã cố gắng như thế nào! Trong Ma-thi-ơ 4: 8–9, hắn nói: "Nếu Ngài sấp mình xuống thờ lạy tôi, thì tôi sẽ cho Ngài hết thảy mọi sự nầy". Sa tan như cũng nói với mỗi chúng ta: “Bạn không cần chịu bất kỳ đau khổ nào, không cần một dược, bạn chỉ cần yêu mến tôi và tôi sẽ cho bạn tất cả vàng”.
Trong Ma-thi-ơ 16: 21-23, Sa-tan lại tấn công. Khi Chúa nói đến sự đau khổ, Phi-e-rơ nói, "Điều này sẽ không xảy ra cho Ngài đâu!"
Nhưng Chúa của chúng ta không muốn biết bất cứ điều gì về điều đó. Ngài phải trải qua sự đau khổ này. Đó là ý muốn của Cha Ngài và tuân theo ý muốn đó có nghĩa là tất cả đối với Ngài.
Trong Lu-ca 24: 19-26, chúng ta cũng thấy rõ ràng vàng và một dược thuộc về nhau bất khả xâm phạm như thế nào: "Chẳng phải Đấng Christ đã phải chịu đau khổ như vầy và được vào trong vinh quang của Ngài sao?"
Đa-vít dường như cũng hiểu điều đó. Khi ông ở trong hang đá và Sau-lơ cũng vào đó, Sa-tan lại có mặt ở đó nữa (1 Sa-mu-ên 24: 1-8). Hắn thậm chí còn dùng danh Chúa để dụ dỗ Đa-vít. Qua những người bạn của Đa-vít, sa-tan nói: “Sau-lơ đang ở trong tay ngươi, hãy giết nó đi, mọi đau khổ của ngươi chấm dứt và ngươi sẽ trở thành vua tức thì”. Sau đó, Đa-vít sẽ lấy được vàng mà không cần một dược. Nhưng Đa-vít đã không làm như vậy. Ông ấy đã phải chịu đựng rất nhiều đau khổ trước khi làm vua. Đa-vít đã chọn cách của Đức Chúa Trời. Đầu tiên là một dược và sau đó là vàng.
Không lâu sau khi Chúa Giê-su ra đời, Đức Chúa Trời đặt ba quà tặng này dưới chân Ngài. Kể từ lúc đó, một dược, đau khổ của thập tự giá, sẽ càng ngày càng đến gần hơn. “Một dược” chỉ xuất hiện ba lần trong văn bản cơ bản trong các sách Phúc âm. Lần đề cập đầu tiên là trong Ma-thi-ơ 2:11, lần thứ hai trong Mác 15:23. Ở đây nó ở dạng động từ, biểu thị hỗn hợp. Phân đoạn thứ ba được tìm thấy trong Giăng 19:39.
Trong Mác 15:23, một được kết hợp rất rõ ràng với sự đau khổ của Chúa. Chúng ta thấy một được thực sự ngày càng đến gần hơn trong cuộc đời của Chúa Jêsus.
--Trong Ma-thi-ơ 2:11, vàng nằm dưới chân Ngài.
--Trong Lu-ca 7: 38-39, chúng ta thấy nhũ hương chảy qua chân Ngài v
--Trong Ma-thi-ơ 26: 6-12 đổ trên đầu và toàn thân.
Điều đáng chú ý là bất cứ nơi nào tìm thấy một dược hoặc nhũ hương, các tội nhân đều có liên hệ với hai thứ đó.
--Nữ tội nhân trong Lu-ca 7:
--Ni-cô-đem trong Giăng 19:
--Các nhà thông thái từ phương đông (các quốc gia),
-- Ma-ri, em Ma-thê, đầy ơn trong Ma-thi-ơ 26.
Vì những người này, Chúa đã đến Gô-gô- tha để chịu chết tại đó trên thập giá, như Ngài đã trả lời với các kinh sư và người Pha-ri-si: “Ta không phải đến gọi người công nghĩa, bèn là gọi các tội nhân ăn năn” (Lu-ca 5:32).
--Thứ tự cho loài người
Như tôi đã nói, thứ tự hoàn toàn ngược lại đối với con người. Chúa Jêsus đã rời bỏ vinh quang để sống theo ý muốn của Cha Ngài ở trên đất này. Nhưng sau khi cải đạo, chúng ta để lại tình trạng tồi tệ và hư mất của mình. Đây là một cái gì đó hoàn toàn khác biệt.
Trước tiên, người đó sẽ phải đi dọc theo bàn thờ của lễ thiêu. Không có thập tự giá, không có sự hi sinh của Chúa Jêsus, thì không thể có sự cứu rỗi (1 Ti-mô-thê 2:5,6). Khi chúng ta đã thú nhận các tội lỗi của mình ở đó, dưới chân thập tự giá, tại bàn thờ của lễ thiêu, và đã chấp nhận Chúa Giê-xu là Đấng Cứu Rỗi của cá nhân chúng ta và để chúng vào lòng, thì việc xông nhũ hương bắt đầu. Sau đó, chúng ta tiếp tục con đường của mình đồng đi với Ngài. Sau đó, chúng ta muốn sống trong sự hiệp thông với Đấng đã mua chúng ta. Chậu rửa, lời của Đức Chúa Trời, tự nhiên đóng một vai trò quan trọng trong việc này. Đọc Xuất. 30:17. Chỉ một lần thôi.
Sự chuyển đổi cuộc sống này sẽ không thể thiếu một dược. Nhiều người chỉ biết quá rõ Giăng 15: 18-22 nói về điều gì. Sứ đồ Phi-e-rơ viết chi tiết về điều này trong lá thư đầu tiên của ông. Đầu tiên là một dược, sau đó là vàng (xem 1. Phiero 1: 4–7; 2: 19–21; 3: 13–18; 4: 1, 2; 4: 12–14; 5: 10, 11). Làm thế nào mà Phi-e-rơ không phát hiện ra chứ? Ông đã không tránh khỏi đau khổ sao? Ông đã ba lần phủ nhận việc trở thành môn đồ của Chúa Giê-su. Chính anh ấy đã hét lên, "Điều này sẽ không xảy ra với Chúa đâu!" Khi Chúa nói đến đau khổ. Phi-e-rơ đã học tốt bài học này.
Vì vậy, chúng ta đến với vàng, rương giao ước, là Chúa Jêsus. Chúng ta thấy một ví dụ sâu sắc về một dược, nhũ hương và vàng trong Ê-tiên (Công vụ 7: 54–60). Trong lúc đau khổ, ông có thể kêu lên: "kìa xem, tôi thấy các tầng trời mở ra và Con người đứng bên hữu Đức Chúa Trời". Và thật là một lời cầu nguyện diệu kì cho những kẻ thù đã giết mình: “Lạy Chúa, xin đừng kể tội này cho họ”. Thật là một hình mẫu! Tôi có sẵn sàng cho điều đó không?

CÁC NHÀ THÔNG THÁI LÀ AI?

Mathio 2:1-2, “Khi Đức Chúa Jêsus đã được sinh ra tại thành Bết-lê-hem miền Giu-đê, vào thời trị vì của vua Hê-rốt, có mấy nhà thông thái ở đông phương đến thành Giê-ru-sa-lem hỏi rằng: “Vua dân Do Thái vừa sinh tại đâu? Vì chúng tôi đã thấy ngôi sao Ngài bên đông phương nên đến để tôn thờ Ngài”.

Trước kia bản Kinh thánh Tuyền thống dịch chữ “nhà thông thái” là  “bác sĩ”, ngụ ý  người khôn ngoan.

 Trong tiếng Hi lạp thì chữ μάγος, được phiên âm là magos, đọc là mag'-os, tiếng Anh sát nghĩa là magian, magus, số nhiều là magi.-- pháp sư hay nhà chiêm tinh.  Chữ magos nầy ngụ ý  nhà khoa học đông phương, pháp sư, thầy phù thủy, nhà thông thái.

Danh từ nầy xuất hiện 3 lần trong Mathio 2: 1,7, 16, và danh từ nầy cũng  xuất hiện hai lần nữa ở Công 13: 6, 8. Nhưng hai lần trong Công vụ dịch giả Kinh thánh Anh văn và Việt văn lại dịch chữ magos nầy là sorcerer, thuật sĩ, hay thầy phủ thủy với ý nghĩa xấu xa, không còn hàm ý là nhà thông thái nữa.

Công 13: 6, 8, “Khi đi khắp đảo cho đến Pa-phô, tại đây họ gặp một thuật sĩ là kẻ tiên tri giả người Do Thái tên Ba-Giê-su;  người nầy đang ở với tổng đốc Sê-giút Phao-lút, là một người khôn ngoan.Tổng đốc sai mời Ba-na-ba và Sau-lơ đến, vì ông muốn nghe lời Đức Chúa Trời. 8 Nhưng thuật sĩ ấy, tên Hi Lạp là Ê-ly-ma, chống đối hai ông,tìm mọi cách ngăn cản tổng đốc tin Chúa”.

Chữ “Ba Giê-su” có nghĩa là con của Giê- su, một người Do thái nào đó có tên là Giê- su, không phải Chúa Giê-su Christ của chúng ta.

 Tóm lại, các bác sĩ thăm viếng chúc mừng sự ra đời của Chúa Giê su là các chiêm tinh gia, là pháp sư, là các nhà thông thái, các nhà khoa học từ Đông phương, có lẽ là từ  nước I-ran (Ba tư).

 Người ta không dám xác quyết là ba hay bốn người, họ chỉ dựa vào ba món quà nên tạm kết luận là  có ba nhà thông thái, ba vị vua.

CUỘC HÀNH TRÌNH KHỨ HỒI CỦA GIÔ-SÉP VÀ MA-RI-

(Từ Na-xa-rét và trở lại Na-xa-rét)

Trước và sau khi Chúa Giê-su sinh ra, cặp vợ chồng Giô-sép, Ma-ri, vốn là hoàng tử và công chúa mất ngôi của dòng vua Đa-vít, đã có một cuộc hành trình khứ hồi nổi tiếng, từ Na-xa-rét và đánh một vòng rất xa, khá lâu,  có thể cũng vài ba năm và 700 hay 800 km đường đi.

So sánh hai sách Ma-thi-ơ và Lu ca chúng ta thấy hai người đã đi qua các địa điểm sau đây, trong thời gian có thể vài năm, không xác định được.

1-Từ Na-xa-rét đến Bết-lê-hem—Lu-ca 2:1-18-

Từ Na-xa rét hai người đến Bết-lê-hem để đăng bộ trong kỳ điều tra dân số của đế quốc La mã. Khoảng cách đường đi là 157, 8 km theo hệ thống đường sá ngày nay. Hồi xưa ông bà đi bằng lừa, đường bộ có lẽ dài hơn, và thời gian đi đưỡng cũng rất lâu.

2.Từ Bết-lê-hem lên Giê-su-sa-lem và trở về. Lu-ca 2: 20-24.

Hai người đưa Chúa lên đền thờ Jerusalem để dâng Chúa lên cho Đức Chúa Trời. Từ Bết lê hem cõi lừa đi đường bộ phải mất gần 10 km mới tới nơi. Đường bộ ngày nay là 8, 8 km

3. Từ Bết-lê-hem đi Ai Cập và trở về: Mathio 2: 13-18.

Sau khi các nhà thông thái đến chúc mừng Chúa Giê-su, vợ chồng Giô sép  đưa Chúa đi lánh  nạn ở Ai cập. Chúng ta không biết thời gian họ tạm trú ở Ai -cập, có khi một hay hai năm, không ai biết được.

4. Từ Ai-cập trở về Bết-lê-hem và Na-xa-rét- Mathio 2:19-23.

Sau khi Hê rốt đại vương băng hà, thiên sứ Chúa kêu Giô sép trở về Israel. Chắc chắc ông bà có đưa Chúa Giê-su trở lại Bết-le-hem, để đừng chân, và vào nhà thân nhân tại nguyên quán nầy. Nhưng khi nghe tin con của vua Hê rốt đã lên ngôi kế vị vua cha, vợ chồng Giô-sép còn sợ dòng vua Hê-rốt phát hiện Ấu Chúa mà giết đi, nên khi được thiên sứ Chúa mách bảo, hai vợ chồng bàn tính đưa Chúa  về tiểu thôn Na-xa-rét, xứ Ga-li-lê, sống biệt tích, bên ngoài tầm nhìn của con vua Hê-rốt và binh đội truy lùng của vua ấy.

Thứ Năm, 26 tháng 8, 2021

Hòa Bình Và An Ninh-

1 Tê. 5: 2-3; Lu-ca 21: 34-38; Khải. 6:4;

Bản thân bạn biết rất rõ rằng ngày của Chúa đến như kẻ trộm trong đêm. Khi họ nói: “Hoà bình an ổn,' thì cơn diệt vong thình lình vụt đến trên họ như cơn quặn thắt xảy đến cho người đàn bà có thai, và họ hẳn chẳng thoát khỏi được đâu” (1Tê. 5:3).

Người phụ nữ có mang gặp phải những cơn co thắt thường xuyên khi mang thai là vô hại. Nhưng đột nhiên cơn đau chuyển dạ ập đến và sau đó tiến trình này diễn ra không ngừng nghỉ. Vì vậy, có hai thành phần quan trọng đối với sự chuyển dạ: cơn co thắt đến đột ngột và và không thể thu hồi được.

Vì vậy, có sự đổ nát sẽ đến với kẻ ác khi antichrist lên ngôi: nó đến đột ngột và nó xảy ra theo cách mà họ không thể trốn thoát.

Các sự phán xét do 4  con ngựa  bày tỏ sau khi Chúa Giê-su thăng thiên đã xảy ra suốt gần 2000 năm qua.  Nhưng vào những năm sau cùng sẽ báo hiệu bằng sự bắt đầu của “con ngựa trắng” xuất hiện lần nữa (Khải  6:1...): Những thắng lợi hòa bình sẽ đạt được (Khải. 6:2), sự hiệp nhất và ổn định rõ ràng đạt được mà không cần sử dụng sức mạnh quân sự. Giao ước giữa Đế chế La Mã và  Israel có thể khiến nhiều người yên tâm (Ê-sai 28; Đa-ni-ên  9: 27). Thời điểm (1 Tê. 5:1) sẽ đến khi mọi người trên thế giới kêu gọi với nhau: "Hòa bình và an ninh!"

Tuy nhiên, đó chỉ là sự bình tịnh trước cơn bão lớn sắp đến. Vì chẳng bao lâu sau đó “con ngựa đỏ” đến - và người ngồi trên nó được trao  cho quyền cất “lấy bình an ra khỏi trái đất” (Khải. 6:4). Đây là “khởi đầu của những cơn đau đẻ” (Math. 24: 8). Sẽ có nhiều "cơn co thắt" đau đớn hơn (liên tiếp nhanh hơn bao giờ hết). Các cuộc phán xét cuối cùng cũng được kết thúc và cao điểm trong việc Chúa hiện ra, Đấng sẽ đến nhanh như chớp (Math. 24:27).

Kẻ ác sẽ không trốn thoát. Họ phải làm thế nào, vì họ coi thường một ơn cứu rỗi cao cả (Hê. 2:3; Rö. 2:3), họ đã không chấp nhận  và yêu mến sự thật để được cứu (2 Tê. 2:10). Nhưng những tín đồ còn ở lại trong những ngày đó trên đất rất có thể sẽ bỏ trốn, như Lu-ca 21: 34-38 cho thấy, “Vậy, hãy giữ lấy mình, e rằng sự ăn uống quá độ, sự say sưa và sự lo lắng của đời sống nầy làm luỵ cho lòng các ngươi, và ngày ấy đến thình lình trên các ngươi như lưới rập chăng;  vì ngày đó sẽ đến trên mọi người ở khắp mặt đất cũng như vậy.  Vậy, lúc nào các ngươi cũng hãy thức canh và cầu nguyện, hầu cho ngươi đủ sức để thoát khỏi mọi điều phải xảy đến ấy (đại nạn) và đứng nổi trước mặt Con người”

 Khải 12: 6, “Còn người đờn bà thì trốn vào đồng vắng, tại đó nàng có một chỗ mà Đức Chúa Trời đã sắm sẵn cho, để họ nuôi nàng trong một ngàn hai trăm sáu mươi ngày”.

 Xin Chúa cho ACE chúng ta được biến hóa và cất lên trước khi antichrist lên ngôi, hầu không bị Chúa bỏ lại  mà phải chạy trốn con rắn trong  42 tháng sau cùng.

NGƯỜI TÔI TỚ CỦA ĐỨC GIÊ-HÔ-VA-


Phúc âm Mác bày tỏ,

Đầy Tớ Giê-hô-va,

Không có gia phổ mà,
Không ngày sinh, gia thế,
Một cuộc đời nô lệ,
Không hề làm Ra-bi,
Chẳng giảng dạy chi li,
Sống hành động chuyên nhất,
Phụng sự thật tất bật,
Sáng dậy sớm nguyện cầu,
Đi bộ khắp nơi đâu,
Rao tin mừng, chữa bệnh.
Những loại bệnh có tên:
Teo tay, rét, phong, bại,
Quỷ ám, câm, không thấy,
Nói lên tình trạng người,
Sống li cách Chúa Trời,
Chúa không được hầu việc,
Nhưng”tức thì” chuyên biệt,
Chạy việc cả nhà Cha,
Không thì giờ ăn mà,
Giảng dạy rất vắn tắt,
Làm việc đầy đủ nhất.
Dịp cuối lên đền thờ,
Đúng sứ mạng thiên cơ,
Mẹ Giăng Mác đón tiếp,
Ăn Vượt Qua đúng dịp,
Chúa chết rồi phục sinh,
Hội thánh được tạo hình,
Tại phòng cao nhà Mác,
Là hội thánh trước nhất,
Tôi Tớ lớn tạo nên,
Người cũng đã thăng thiên,
Sai ra nhiều tôi tớ,
Người làm việc với họ,
Rao tin lành thế gian,
Thật kết quả huy hoàng,
Đáng chúc tán Tôi Tớ./.

BẢY ẤN-

 Sách Khải Huyền là một cuốn sách về các sự phán xét. Ba loạt phán xét chiếm vị trí trung tâm. Bài viết này cung cấp một cái nhìn tổng quan về 3 loạt phán xét này, cho thấy các mối liên hệ và nhằm khuyến khích việc các bạn nghiên cứu thêm về Lời Đức Chúa Trời.

Sách Khải Huyền có thể được chia thành ba phần. Điều này được thể hiện rõ ràng trong Khải Huyền 1:19: nên Giăng viết: “Vậy, hãy chép điều ngươi đã thấy, điều hiện có, và điều về sau phải xảy đến”.

--"hãy chép điều ngươi đã thấy” (đó là sự xuất hiện của Chúa trong quyền tư pháp; Khải. 1),

--điều hiện có” (đây là câu chuyện về hội thánh Cơ Đốc trên đất; Khải huyền 2–3)

--"và điều về sau phải xảy đến” (đây là những sự kiện xảy ra sau khi Chúa Giê-su thăng thiên; Khải 4–22).

Khải 4 miêu tả ngai của Đức Chúa Trời, chương 5 miêu tả Chúa Giê-su phục sinh lên ngôi làm Chúa Tể vũ trụ, thì các sự phán xét khủng khiếp bắt đầu đổ xuống trên đất (Khải 6: 1 ….), mà đỉnh điểm là sự kiện Chúa Jêsus xuất hiện trong quyền năng và vinh quang (Khải 19: 11….). Trong khoảng thời gian khoảng chừng 2000 năm, giữa sự thăng thiên của Chúa Giê-su và sự xuất hiện của Ngài (Khải 6: 1–19, 10), hàng loạt sự phán xét lớn sẽ xảy ra trên trái đất, mà họ đang định cư.

1--Những sự đoán phạt của 7 ấn (Khải. 6:1-17; 8:1)

Năm ấn đầu tiên đã được Chúa Giê-su tháo ngay sau khi Ngài lên ngôi vũ trụ, và 5 ấn nầy vẫn còn có hiệu lực đến ngày Chúa Giê su cỡi mây trời mà đến.

2--Những sự đoán phạt của bảy kèn (Khải. 8: 6 –9: 21; 10:7; 11:14-18)

Ấn thứ sáu và 6 kèn đầu tiên sẽ diễn tiến tiếp nối nhau. Chừng nào mở ấn  thứ 6 và thổi  6 kèn đầu tiên không ai biết được. Hiệu lực của  ấn thứ 6 và 6 kèn đầu có lẽ có hiệu lực ngay trước khi tuần lễ thứ 70 mà Đa-ni-ên nói (Đa. 9:27) và kéo dài hết 7 năm đó, nhất là chúng tác động ngay vào cơn đại nạn là 3,5 năm cuối cùng. Bốn con ngựa là ai, là việc gì xảy ra, không ai biết được đích xác, vì  trải 2000 năm qua có rất nhiều sự tranh luận, nhiều ý kiến, nhưng không có lý giải nào  là chính xác và đáng tin cả. ”Những sự bí mật thuộc về Giê-hô-va Đức Chúa Trời chúng ta; song những sự bày tỏ thuộc về chúng ta”(Phục 29:19)—nhưng sự bày tỏ chưa đến.

3--Những sự đoán phạt của  bảy bát (Khải. 15:5 – 16:21)

Phân nửa tuần lễ cuối cùng của 7 năm là đại nạn (Math 24:21). --3,5 năm này được đề cập rõ ràng nhiều lần trong Khải Huyền (Khải 11: 2 và 13: 5; 11: 3 và 12: 6; 12: 14).

Khải 11:15 nói khi kèn 7 thổi sẽ  chấm dứt 7 năm cuối cùng của trái đất, nước 1000 năm của Đấng Christ xuất hiện, nhưng trước khi chấm dứt đại nạn có 7 bát thạnh nộ đổ ra vào những tuần lễ cuối cùng.

Chúng ta nên nhớ rằng các sự phán xét chủ yếu được mô tả bằng ngôn ngữ tượng trưng, như 4 con ngựa. Tuy nhiên, đôi khi sẽ hữu ích khi tưởng tượng điều gì sẽ xảy ra nếu điều được mô tả theo nghĩa đen trở thành sự thật. Trong Khải huyền, nghĩa đen và nghĩa tượng trưng chen lẫn nhau rất dễ gây cho chúng ta ngộ nhận, đi lạc vào sự giải kinh  cực đoan sai lạc.

CON TRAI, CON TRẺ VÀ CON ĐỎ-

(Son, Child, Infant )

Học viên Mathio dễ bị rối trí  bởi các từ ngữ khác nhau mà Ma-thi-ơ và Lu-ca miêu tả về Chúa Giê-su khi mới sinh ra.

 Chúa Giê- su là con trai (son) của Ma-ri, chứ không phải là con cái (child). Chữ “con cái” như tôi nói rồi, là teknon trong tiếng Hi lạp, ngụ ý con theo huyết thống, con di truyền bản chất hay có AND của mẹ.

 Trong tiếng Hi lạp còn một chữ nữa là paidion, tiếng Anh thiếu chữ nên cũng dịch là “child”, và tiếng Việt có thể tạm dịch là “con trẻ”.

Chúng ta xem:

Khi các gả chăn chiên nghe lời thiên sứ, họ đến nhà quán, Kinh thánh chép:

Lu ca 2:7, “Nàng sanh con trai (son) đầu lòng, lấy khăn bọc, và để nằm trong máng cỏ, vì không có chỗ cho họ trong nhà quán”

Lu-ca 2:12, “Nầy là dấu hiệu cho các ngươi: các ngươi sẽ gặp một con đỏ bọc khăn, nằm trong máng cỏ”

Trong tiếng Hi lạp “con đỏ” là βρέφος, phiên âm là brephos, đọc là bref' os, tiếng Anh là babe, baby, infant, tiếng Việt là hài nhi hay con đỏ.

Mathio 2: 10- 11, “Khi họ thấy ngôi sao, lấy làm vui mừng quá đỗi,  bèn

vào nhà, thấy Con trẻ cùng Ma-ri mẹ Ngài, thì sấp mình xuống mà thờ lạy

Ngài…”

 Có lẽ sau vài tuần, hoặc 1 tháng, khi đến thăm Ấu Chúa, các nhà thông thái không vào nhà quán mà vào nhà của ai đó, họ không gặp con đỏ nhưng gặp con trẻ Giê-su.

Chữ “con trẻ” nầy theo tiếng Hi lạp là παιδίον, phiên âm là paidion, đọc là pahee-dee'-on, tiếng Anh thiếu từ ngữ nên dịch là little child, young child, tiếng Việt dịch là con trẻ là chính xác.  Tôi nhấn mạnh tại đây, chúng ta nhớ chữ “con trẻ” đây khác chữ “con cái” (teknon)--- là con cái theo huyết thống, di truyền.

 Mathio cũng miêu tả Giô-sép đưa Ma-ri là Con Trẻ Giê-su  lánh nạn ở Ai Cập một thời gian,- “Khi họ đã đi rồi, kìa, thiên sứ của Chúa hiện đến cùng Giô-sép trong chiêm bao mà bảo rằng: "Hãy dậy, đem Con trẻ và mẹ Ngài trốn qua Ai-cập,  rồi cứ ở đó cho đến khi ta bảo ngươi, vì Hê-rốt sắp tìm Con trẻ ấy để diệt đi."  Người bèn dậy, đang đêm đem Con trẻ và mẹ Ngài lánh qua Ai-cập” (Mathio 2:13-14).

Tóm lại, khi còn trong bụng mẹ, là Ma-ri, Chúa Giê- su được Lu ca miêu tả là “trái” cây (fruit)—Lu ca 1:42, “Ê-li-sa-bết được đầy dẫy Thánh Linh,  cất tiếng kêu lớn rằng: “Cô có phước trong làng phụ nữ, thai (trái cây-- fruit) trong lòng cô cũng có phước!”. – vì con cái là “bông trái (fruit) của dạ con” (Thi thiên 127: 3).

 Khi  mới sinh ra Chúa Giê-su là hài nhi, là con đỏ nằm trong máng cỏ. Khi các nhà thông thái thăm viếng, Ngài là Con trẻ trong một ngôi nhà, và Giô-sép đã đưa Ma-ri và Con trẻ Giê-su đi lánh nạn.

Thiên sứ nói cùng Giô sép (Mathio 1:21, 25), và thiên sứ trưởng Gáp-ri-ên cũng nói cùng Ma-ri (Lu ca 1:31) Chúa Giê su là “Con Trai” ,(son)

Kết  luận, Chúa Giê-su là “Con trai (son) của Ma ri (Math 1:21, 25),  là Con (Son) của Đa-vít (Mathio 1:1) và là Con (Son) của Đức Chúa Trời” (Lu ca 1:35).

Thứ Ba, 24 tháng 8, 2021

VÀI SUY NGHĨ VỀ SỰ ĐÍNH HÔN-

Ma-thi-ơ 1: 18-25, “Vả, sự ra đời của Jêsus Christ xảy ra như vầy: Ma-ri mẹ Ngài đã hứa gả cho Giô-sép, song trước khi sống với với nhau, thì nàng đã thọ thai bởi Thánh Linh”

Khi Ma-ri và Giô-sép đính hôn, thiên sứ nói với Giô-sép về Ma-ri là “vợ của ngươi” (C. 20) và Giô-sép được gọi là “chồng của nàng” (C. 19) --(Ma-thi-ơ 1: 18-25).

Điều đó được hiểu như thế nào? Đó là một điều được đính hôn (và trong mối quan hệ này, người ta nói đến “chàng rể” và “nàng dâu’) và một điều khác dù chưa kết hôn - khi người ta nói đến họ là vợ hứa và chồng hứa.

Ở Israel, việc đính hôn thực tế giống như giai đoạn đầu tiên của một cuộc hôn nhân, và do đó, việc xây dựng thể thức không có gì đáng ngạc nhiên. Hợp đồng hôn nhân được ký kết (có thể cũng bằng lời nói) khi đính hôn và giá cô dâu, hay sính lễ đã được trả rồi. Xem 1.Sam 18:25, chúng ta thấy Đa-vít nộp sính lễ để cưới Mi canh làm vợ. Với điều này, sau đó chú rể đã có được quyền đưa cô dâu về nhà mình. Nếu người phụ nữ không chung thủy trong thời gian chưa cưới này, cô ấy sẽ phải chết -- giống như một người phụ nữ kia đã hứa hôn (xem Phục truyền 22: 23-27). Sau khi đính hôn, người phụ nữ ở dưới quyền của vị hôn phu, không còn ở dưới quyền của cha cô nữa, dù chưa đến ngày cưới.

Những gì còn thiếu lúc bấy giờ chỉ là lễ mừng công khai, quan hệ tình dục và dọn vào nhà chung. Vì vậy, “tình trạng viên mãn” của cặp vợ chồng đã đạt được.

Sự đính hôn tồn tại cho đến ngày nay cũng bao gồm một lời hứa kết hôn. Nhưng nó không phải là giai đoạn đầu tiên của hôn nhân. Xã hội ngày nay chỉ cần nói một lời ”vâng” và ký tên tại văn phòng hộ tịch. Trong trường hợp ngày nay, chúng ta không thể chuyển đạt hết những gì trong sự hứa hôn tại Israel dưới thời luật pháp về sự hứa hôn.

Cụ thể: Giô-sép và Ma-ri đã đính hôn để được ghi danh ở Bết-lê-hem. Bạn đã là vợ chồng ở một khía cạnh nào đó. Chúng ta không thể giới thiệu một chuyến đi như vậy cho vị hôn phu và hôn thê ngày hôm nay. (Ngẫu nhiên, chàng rễ ngày nay cũng sẽ không được coi là một đơn vị trong bất kỳ cuộc điều tra dân số nào như Giô-sép).

Đính hôn và kết hôn đã gắn liền với một nền văn hóa (ví dụ như ở các quốc gia khác hoặc vào thời đại của Kinh thánh, không có văn phòng đăng ký). Điều này phải được tính đến nếu các quy định và phong tục được tiếp tục cho đến ngày nay. Tuy nhiên, chúng ta chắc chắn sẽ đồng ý rằng Kinh Thánh đặt ra các tiêu chuẩn vượt thời gian. Vì vậy, nếu trong Kinh thánh, việc đính hôn được coi là một điều gì đó bắt buộc, thì chúng ta chắc chắn sẽ không làm cho mối quan hệ đó trở nên khinh suất hoặc thậm chí là phá vỡ nó một cách hời hợt.

CỪU NON XỨNG ĐÁNG-

Khải Huyền 5:12, “Cừu non đã chịu giết đáng được quyền năng, giàu có, khôn ngoan, lực lượng, tôn trọng, vinh hiển và chúc tụng!”

 2 Sử Kí  9: 1-8.

Khó có thể nghi ngờ rằng lời ca tụng này của các thiên sứ về phẩm giá của Chiên Con có liên quan đến việc thành lập vương quốc. Khi các trưởng lão hát bài hát của họ, họ nói về việc Chiên Con xứng đáng được “lấy sách và mở các ấn ra”; đã chứng tỏ Ngài xứng đáng với việc thông qua cái chết và sự cứu chuộc được thực hiện  qua hiệu quả của máu Ngài đối với các hồn người từ mọi bộ tộc và ngôn ngữ cũng như mọi dân tộc và quốc gia. Tất cả họ đều đã được cứu chuộc vì các phước lành trên trời, mặc dù họ cũng sẽ được kết hợp với Đấng Christ trong vinh quang của vương quốc sau nầy.

Mặt khác, các thiên thần, 24 trương lão không cùng một cơ sở với loài người và do đó không có gì để nói về sự cứu rỗi. Họ chỉ nói về phẩm giá mà Chiên Con có trong bản thân và những đặc điểm khác nhau về sự vĩ đại cùng vinh quang trong sự cai trị của Ngài trong vương quốc. Mọi thứ có thể phục vụ cho việc mô tả sự hoàn hảo và tôn cao sự cai trị của Ngài trên trái đất đều được quy cho Ngài. Thực tế là Ngài được quy cho bảy đặc điểm ở Khải huyền 5:12 đây dường như chỉ ra điều này.

Điều này càng trở nên rõ ràng hơn nếu bạn xem 2 Sử ký 9, vì ở đó chúng ta tìm thấy một ví dụ đáng chú ý về vinh quang quyền làm Chúa tể của Đấng Christ trong Vương quốc Ngàn năm khi nhìn vào vinh quang của vua Sa-lô-môn, có 7 điểm giống như 7 điểm trong Khải 5:12.

Khi xem xét cẩn thận, người ta có thể thấy rằng ở đó chúng ta tìm thấy tất cả bảy đặc điểm được quy cho Cừu non. Chúng ta tìm thấy “quyền lực” ở đó, vì Sa-lô-môn “cai trị tất cả các vua từ sông cái đến đất của người Phi-li-tin và biên giới Ai Cập” (câu 26); “Của cải và sự khôn ngoan” được trình bày chi tiết trong câu 22; “sức mạnh (lực lượng)” của Ngài được biểu thị bằng việc đề cập đến xe ngựa và kỵ mã của Ngài (câu 25); "sự vinh dự (tôn trọng)" của Chúa (nghĩa là niềm vinh dự mà Ngài được tôn vinh) được thể hiện qua việc "tất cả các vua trên đất tìm đến mặt Sa-lô-môn để nghe sự khôn ngoan của ông mà Đức Chúa Trời đã đặt trong lòng ông" (câu 23 ); "sự vinh hiển" của Ngài trong sự mô tả về ngai vàng lộng lẫy của Ngài, trong việc ngồi và chờ đợi của các tôi tớ của Ngài phục vụ, trong "sự đi lên trong nhà của Chúa," và trong sự vinh quang của Ngài đã lan rộng đến các đầu cùng trái đất; và “phước hạnh” trong lời của Nữ hoàng Sê-ba khi bà nói về việc Đức Chúa Trời “lấy làm vui lòng” nơi Sa-lô-môn (câu 8), chỉ vì Đấng Christ đang và sẽ là đối tượng của lòng Đức Chúa Trời khi Ngài thiết lập vương quốc của Ngài. “Người ta sẽ nhân danh người mà chúc phước nhau! Các nước đều sẽ xưng người là có phước”, chỉ vì Đấng Christ đang và sẽ là đối tượng của lòng Đức Chúa Trời khi Ngài thiết lập vương quốc của Ngài "(Thi 72:17).

Những điểm tương đồng rất nổi bật và cung cấp thêm bằng chứng rằng chúng ta sẽ không bao giờ đọc thánh kinh đúng cách trừ khi chúng ta nhìn vào Chúa Giê-su Christ và những vinh quang khác nhau của Ngài trên mỗi trang giấy.

CỨU CHÚA CỦA TÔI-

Khải Huyền 5:12, “Chiên Con đã chịu giết đáng được quyền năng, giàu có, khôn ngoan, lực lượng, tôn trọng, vinh hiển và chúc tụng!”

Đấng là bánh sự sống đã bắt đầu sứ vụ của mình với sự đói khát.

Ngài, là nước của sự sống, đã phải thốt lên lời vào cuối cuộc đời: Ta khát.

Con Người đã biết đói như một con người, nhưng với tư cách là Đức Chúa Trời, Ngài đã cung cấp thức ăn cho hàng ngàn người.

Đấng ấy đã mệt mỏi - và mang lại sự bình yên cho tâm hồn chúng ta.

Đấng ấy sợ hãi trong vườn Ghết-sê-ma- nê- và Ngài là sự bình an của chúng ta.

Ngài bị buộc tội là bị quỷ ám, nhưng chính Ngài đã đuổi được các ác linh.

Ngài đã cầu nguyện - và Ngài đáp lại những lời cầu nguyện.

Đấng ấy khóc- và Ngài vẫn lau những giọt nước mắt trên đôi mắt của chúng ta.

Ngài đã được bán với giá ba mươi miếng bạc - và Ngài đã cứu chuộc chúng ta.

Chúa bị đem đi giết thịt như một con cừu non và Ngài vẫn là người chăn cừu tốt.

Đấng ấy đổ  hồn của mình vào trong cái chết và trải qua cái chết, Ngài đã phế thải kẻ có quyền trên sự chết, là ma quỷ.

“Chiên Con đã chịu giết đáng được quyền năng, giàu có, khôn ngoan, lực lượng, tôn trọng, vinh hiển và chúc tụng!” (Khải. 5:12)

Chiên Con Của Đức Chúa Trời-

Sáng thế ký 22: 8; Xuất Ai Cập kí 12: 3; Xuất Ai Cập kí 29: 38-43; Giăng 1:29; Khải Huyền 5: 12-14

Thật thú vị khi xem qua thánh thư và thấy rằng cái chết quý giá của Chiên Con  Đức Chúa Trời, Chúa Giê Su Christ, đang đạt đến một vòng tròn lớn hơn bao giờ hết.

Trong Sáng thế ký 22: 8, chúng ta thấy sự hi sinh của Đấng Christ có liên quan đến một Đấng: "Con ơi! Chính Đức Chúa Trời sẽ sắm sẵn lấy chiên con đặng dùng làm của lễ thiêu". Sự chết của Đấng Christ trước hết là cho một mình Đức Chúa Trời. Ngài tìm thấy sự hài lòng hoàn toàn của mình trong công việc tuyệt vời của Con trai yêu quý của mình. Công việc này đáp ứng tất cả các tuyên bố về sự thánh thiện của Đức Chúa Trời; Đức Chúa Trời được tôn vinh mãi mãi trong thế giới nơi Ngài bị ô nhục.

Trong Xuất hành 12, chúng ta thấy cách chiên con đáp ứng nhu cầu của một gia đình: "một chiên con cho một nhà." Vì vậy, ngay cả ngày nay, sự hi sinh của Đấng Christ cũng đủ để cứu mọi thành viên trong một gia đình.

Một trong những của lễ sáng chiều của người Do Thái là một con cừu phải được hiến tế cho cả nước (Xuất hành 29: 38-46).

Trong Giăng 1:29, Chiên Con đối diện với toàn thế giới. Cái chết quý giá của Chúa đủ để cứu cả thế giới, bởi vì theo Giăng 3:16, phúc âm được gửi đến cho tất cả những ai muốn. Ồ, rất nhiều người không muốn đến với Chúa để có được sự sống đời đời!

Cuối cùng, trong Khải Huyền 5: 12-14, chúng ta thấy rằng mọi miệng đều mở ra để thừa nhận rằng Chiên Con của Đức Chúa Trời xứng đáng tiếp nhận được sự ngợi khen và thờ phượng. Đây là sự thờ phượng mà toàn thể vũ trụ tham gia vào để bày tỏ lòng tôn kính đối với Chúa, Đấng rất xứng đáng.

ĐỨC CHÚA TRỜI Ở VỚI CHÚNG TA, VÌ CHÚNG TA VÀ TRONG CHÚNG TA-

 Ma-thi-ơ 1:23 “"Kìa, gái đồng trinh sẽ thọ thai, sanh một trai, Người ta sẽ gọi tên con đó là Em-ma-nu-ên," dịch là, Đức Chúa Trời ở cùng chúng ta”

Rô-ma 8:31, “Đã vậy thì chúng ta phải nói làm sao? Nếu Đức Chúa Trời thuộc bên (đứng với) chúng ta, thì ai chống nghịch với chúng ta”

1 Giăng 4:12, “Chẳng có ai thấy Đức Chúa Trời bao giờ; nếu chúng ta thương yêu lẫn nhau, thì Đức Chúa Trời cứ ở trong chúng ta, và tình thương yêu Ngài được trọn vẹn trong chúng ta”.

Chúng ta có còn ý thức thực sự và sâu sắc về việc Đức Chúa Trời đã đến gần chúng ta như thế nào trong Chúa Jêsus Christ, Chúa chúng ta không? Những tệ nạn vật chất và vật lý đều quá gần gũi với nhiều người trong chúng ta, và đối với tất cả chúng ta, những tệ nạn quyến rũ phát xuất từ ​​thế giới xung quanh chúng ta và từ xác thịt bên trong chúng ta đang rất hiện hữu. Chúng ta chỉ được cứu khỏi tất cả những điều xấu xa này nếu Đức Chúa Trời là hiện thực cho chúng ta và chúng ta sống với Ngài.

Trong quá trình lời tiên tri của mình, Giê-rê-mi đặt một câu hỏi đáng chú ý: "Đức Giê-hô-va phán: Ta có phải là Đức Chúa Trời ở gần mà không phải là Đức Chúa Trời ở xa sao?" (Giê 23:23). Câu trả lời cho câu hỏi đó là gì? Ngay từ thời điểm Đức Chúa Trời cứu chuộc dân Y-sơ-ra-ên khỏi Ai Cập để trở thành dân của Ngài, Ngài đã thông báo ước muốn của Ngài là Ngài ở giữa họ. Nhưng trong hoàn cảnh lúc bấy giờ, Ngài phải quấn lấy mình trong mây lửa và sự uy nghiêm khủng khiếp và con người phải giữ khoảng cách. Điều đó xảy ra với Môi-se và A-rôn và các con trai của ông, cũng như thế với Sa-lô-môn khi đền thờ xây xong và các thầy tế lễ không thể vào trong khi sự vinh hiển của Chúa đang tràn ngập trong nhà. Một mặt nó là sự gần gũi, mặt khác nó là khoảng cách.

Chúng tôi mở Tân Ước và mọi thứ đã thay đổi bởi vì chúng ta ngay lập tức được giới thiệu với Chúa Giê-xu, chính là Em-ma-nu-ên, được dịch là: “Đức Chúa Trời ở cùng chúng ta”. Đây là một cái gì đó hoàn toàn mới. Đấng đã từng trú ngụ trong ngọn lửa thiêu đốt Si-nai, nay sống trong tình người hoàn hảo và ân sủng khiêm nhường giữa loài người. Đấng là ánh sáng và đang sống trong ánh sáng không thể tiếp cận được, giờ đây đã xuất hiện theo cách làm dịu đi những tia sáng chói lọi của vinh quang  Ngài để mắt con người có thể nhận biết được. Những người là môn đồ của Ngài trong những ngày đó có thể nói, "chúng tôi đã ngắm xem vinh hiển của Ngài, thật như vinh hiển của Con độc sanh của Cha". Đức Chúa Trời đã thực sự ở với họ và họ không sợ hãi. Ngày nay chúng ta không còn có sự hiện diện trên cơ thể của Ngài nữa, nhưng chúng ta có văn kiện được thần cảm chép về sự hiện diện của Ngài, và chúng ta có điều gì đó mà các môn đồ của Ngài, những người đã theo Ngài trên đấtcũng  đã có.

Đức Chúa Trời muốn ngự ở giữa dân Ngài. Nhưng về phần chúng ta, sẽ khó có mong muốn có sự hiện diện của Ngài nếu chúng ta không biết thái độ của Ngài đối với chúng ta. Vậy thì cần thiết biết bao, hãy tiếp tục từ Ma-thi-ơ đến Phao-lô để từ cây bút của ông trong sách Rô-ma mói rằng Ngài hoàn toàn vì chúng ta, chứ không chống lại chúng ta. Chúng ta đọc phần đầu của lá thư này và nghe những lời tuyên bố về con người là ai để chúng ta có thể kết luận rằng Ngài phải chống lại chúng ta. Nhưng việc phơi bày tội lỗi của con người được việc tiết lộ ân điển của Đức Chúa Trời theo sau, mà ân điển của Đức Chúa Trời cai trị nhờ sự công bình qua Đức Chúa Jêsus Christ, Chúa chúng ta. Đức Chúa Trời đã hành động trong quyền năng cứu chuộc để khi kết thúc chương 8, tiếng gọi có thể vang lên trong vũ trụ: "Nếu Đức Chúa Trời  đứng với chúng ta, thì ai chống lại chúng ta?" Chúa có vì chúng ta không? Phải, vì Ngài đã không tiếc Con  của mình, nhưng đã vì tất cả chúng ta mà phó con ấy cho. Không có con cừu đực nào trong bụi rậm thay cho Ngài như ở với Y-sác. Đúng hơn, Chúa Giê-su ấy đã bị "mắc sừng trong bụi rậm như một con cừu đực" đối với chúng ta, và đã hi sinh thay cho chúng ta, tức là thay cho chúng ta. Do đó bây giờ áp dụng: "Chính Đức Chúa Trời là Đấng xưng công bình".

Nhưng Ngài không chỉ xưng công bình trong Đấng Christ, “là Đấng đã chết, hơn nữa, cũng đã từ kẻ chết sống lại, hiện nay ở bên hữu Đức Chúa Trời”,  mà chúng ta còn được bao gồm trong vòng tay tình yêu của Đức Chúa Trời, Đấng đã làm cho tất cả những điều này.

Đến đây chúng ta tạm dừng một chút. Khi Chúa Giê-su còn trên đất, Đức Chúa Trời ở trong ân điển với chúng ta và hiện nay Ngài ở trong sự công bình đối với chúng ta - đó là hoa trái của tình yêu, tình yêu tìm thấy nguồn gốc vĩnh cửu trong chính Ngài và trong Christ Giê-su, Chúa chúng ta. Giữa những khó khăn hiện tại và đối mặt với những thay đổi và lo lắng trần thế mà chúng ta có thể thấy ở phía trước, điều gì có thể giúp chúng ta an toàn hơn? Đức Chúa Trời ở với chúng ta và Đức Chúa Trời đứng với chúng ta. Có thể có điều gì nhiều hơn nữa không?

Có thể có, nhưng để nắm bắt đầy đủ, chúng ta phải chuyển sang 1 Giăng. Trong chương thứ tư, điều đó được thể hiện lặp đi lặp lại một cách nổi bật. Chúng tôi muốn trích dẫn một số đoạn trích: "... vì Đấng ở trong các con là lớn hơn kẻ ở trong thế giới" (c.4). "Nếu chúng ta thương yêu lẫn nhau, thì Đức Chúa Trời cứ ở trong chúng ta (.c.12)... “Ngài đã ban Thánh Linh của Ngài cho chúng ta, nhơn đó chúng ta biết mình cứ ở trong Ngài và Ngài cứ ở trong chúng ta (c. 13).  "Đức Chúa Trời cứ ở trong người ấy, và người ấy cũng cứ ở trong Đức Chúa Trời. Đức Chúa Trời ở trong anh ta và anh ta ở trong Đức Chúa Trời ".

Những trích dẫn này có thể đủ để làm rõ vấn đề. Ai tin Con Đức Chúa Trời và xưng danh Ngài có thể tin tưởng rằng Đức Chúa Trời không chỉ thực sự ở với họ trong Đấng Christ và ở vì họ , vì sự chết hi sinh của Đấng Christ và tình yêu đằng sau sự chết đó, mà còn ở trong quyền năng của Linh nội cư của Đức Chúa Trời ở trong anh ta.

Trong những câu được trích dẫn, sự nội cư của Đức Chúa Trời được kết nối với Linh của Đức Chúa Trời ở trong chúng ta và với tình yêu thương của Đức Chúa Trời – bản chất thần thượng-- hoạt động trong chúng ta và với sự tuyên xưng rằng Chúa Giê-su là Con Đức Chúa Trời. Nhờ Thánh Linh, chúng ta tuyên xưng Chúa Giê-su là Chúa và là Con của Đức Chúa Trời. Bởi cùng một Thánh Linh, tình yêu của Đức Chúa Trời được tuôn đổ trong lòng chúng ta và giờ đây chúng ta được yêu cầu yêu thương nhau. Thông qua Linh cư ngụ trong chúng ta, Đấng vĩ đại hơn kẻ thù -- ác linh,  là vị thần và bá chủ của thế giới này -- chúng ta có thể chiến thắng đội quân hùng mạnh và quyến rũ, mà đã được thiết lập để chống lại chúng ta. Điều đó chẳng phải củng cố sự tin tưởng của chúng ta khi chúng ta đối mặt với một tương lai không xác định sao?

Nhưng có điều gì đó khác nữa cần phải được nói. Đức Chúa Trời ở với chúng ta và Ngài vì chúng ta, bất kể chúng ta có thể lâm vào trạng thái nào trước mặt Ngài vào lúc này. Nhưng khi nói đến “Đức Chúa Trời ở trong chúng ta” thì việc chèn them chữ “nếu” là điều có thể và thậm chí là cần thiết. Chúng ta thấy điều này trong 1 Giăng 4:12: Đức Chúa Trời ở trong chúng ta “khi chúng ta yêu lẫn nhau”. Điều này mang lại cho toàn bộ chủ đề bài nầy một ý nghĩa rất thiết thực.

Trước đó một chút, vị sứ đồ đã tính đến khả năng thấy anh em mình đang thiếu thốn và ta đóng cửa lòng mình với anh ấy, và bị hỏi: "thì tình thương yêu Đức Chúa Trời thể nào ở trong người ấy được ư?" (1 Giăng 3:17). Nếu chúng ta, là anh chị em trong gia đình của Đức Chúa Trời, không bày tỏ bản chất thần thượng qua tình yêu thương dành cho nhau, thì làm sao có thể nói rằng Đức Chúa Trời ở trong chúng ta chứ? Chúng ta đọc ở đây và trong Giăng 1:18: "Không ai đã từng thấy Đức Chúa Trời." Tuy nhiên, trong Phúc âm của Giăng, Ngài có thể được nhìn thấy trong Con duy nhất đang ở trong lòng Đức Chúa Cha. Trong bức thư thứ nhất của Giăng, người ta thấy Ngài ở trong chúng ta, những người thuộc về gia đình của Đức Chúa Trời, được sinh ra bởi Ngài, và do đó, là người bày tỏ bản chất của Đức Chúa Trời trong tình yêu thương lẫn nhau.

Vì vậy, chúng ta hãy thực hiện điều này rất nghiêm túc. Nếu tình yêu thương không thể hiện, thì đâu là bằng chứng cho thấy Đức Chúa Trời, Đấng là tình yêu thương, đang ở trong chúng ta? Và còn nhiều điều hơn thế nữa, vì ngay sau đó chúng ta đọc: "Và chúng tôi đã thấy và làm chứng rằng Chúa Cha đã sai Con đến làm Cứu Chúa của thế giới" (câu 14). Đây là về tình yêu thương không chỉ tuôn chảy trong gia đình của Đức Chúa Trời, mà còn chảy ra thành bằng chứng quảng đại từ gia đình nầy cho thế giới với mục đích cứu rỗi họ.

Chúng ta thường phàn nàn và nghe người khác phàn nàn rằng lời chứng cho thế giới của Đức Chúa Trời với tư cách là Đấng Cứu Rỗi rất ít đi kèm với quyền năng và hiệu quả. Một trong những nguyên nhân chính dẫn đến sự thật đáng buồn này được chúng ta bày tỏ sau đây. Vì vậy, tình yêu bé nhỏ -- bản chất thần thượng này -- trở nên hữu hình trong vòng tròn của gia đình thần thượng.

Đức Chúa Trời trong chúng ta phải trở thành một sự thật hiển nhiên trước mắt người đời. Nếu vậy, dù chỉ ở một mức độ nhỏ nhưng nó có tác dụng vô cùng lớn. Chúng ta không muốn trốn tránh việc thử thách lòng mình. Đức Chúa Trời ở với chúng ta, được bày tỏ trong Đấng Christ. Ngài ở trong ân điển, trong sự công bình và yêu thương vì chúng ta. Và Ngài ở trong chúng ta khi chúng ta được Ngài sinh ra và có Thánh Linh của Ngài. Ngài ở trong chúng ta và Ngài là tình yêu, và một phần tình yêu đó phải tuôn ra từ mỗi chúng ta để làm cho sự thật đó trở nên hữu hình - trước tiên là trong gia đình của Đức Chúa Trời và sau đó là hướng tới thế giới.

CON CHIÊN, CHIÊN CON VÀ CỪU NON-

Khải. 5:6, “Tôi bèn thấy chính giữa ngai và bốn sanh vật, cùng chính giữa các trưởng lão, có một Chiên Con đứng, hình như đã bị giết, có bảy sừng và bảy mắt”.

 Theo nguyên ngữ Hi lạp chữ “Chiên Con” ở đây là: ἀρνίον, phiên âm là arnion đọc là ar-nee'-on, có nghĩa là lambkin theo Anh Văn, tiếng Việt là cừu non, chiên con còn non. Mà tất cả bản Kinh thánh Việt văn đều dịch sai là “Chiên Con”. Chữ nầy xuất hiện 28 lần trong sách Khải huyền, như đoạn 5 chép đến 5 lần chữ “Cừu Non”. Xưa kia trong thời Cựu ước, chiên con giáp năm, một tuổi dâng lên làm sinh tế là thường xuyên. “Chính ngày dâng bó lúa đưa qua đưa lại đó, các ngươi cũng phải dâng cho Đức Giê-hô-va một chiên con giáp năm, không tì vít chi, đặng làm của lễ thiêu” (Lê, 23:12). Đối với Đức Chúa Trời, hay với chúng ta, Chúa Giê Su là Chiên Con non, nhưng với sa tan Chúa là sư tử mạnh mẽ. Cừu Non rất tinh khiết và  yếu ớt.

 Trong phúc âm Giăng 1:29, “Sáng ngày sau Giăng thấy Đức Jêsus đến cùng mình, thì nói rằng:“Kìa, Chiên con của Đức Chúa Trời là Đấng cất tội lỗi của thế giới đi!”

 Chữ “Chiên Con” ở đây là một chữ khác, ἀμνός phiên âm là amnos, đọc là am-nos, dịch ra tiếng Anh là Lamb, Chiên Con, nhưng không phải cừu non. Chữ lamb nầy xuất hiện trong phúc âm Giăng chỉ có 2 lần là 1:29 và 36, và hai lần nữa trong Công vụ 8:32; 1 Phiero 1:19,, tổng cộng 4 lần.

Thứ Hai, 23 tháng 8, 2021

MA QUỶ VÀ CÁC QUỶ NHỎ -

 Học viên lớp Giải Nghĩa Mathio phải phân biệt “Ma quỷ” và “các quỷ trong kinh Tân ước:

1-Ma Quỷ: Diabolos tiếng Anh là calumniator (kẻ vu khống), và Accuser (người cáo tội, người buộc tội), hoặc slanderer; kẻ phỉ báng, gièm pha, báng bổ…nói xấu…)

 Đó là danh từ Diabolos, tỉnh từ diabolous dịch ra Anh ngữ là slanderous (gièm pha, nói xấu…) chép ở

1 Tim 3:11, “Đờn bà cũng vậy, phải đoan trang, chớ nói gièm (gièm pha, vu khống).

2 Tim. 3:3, “hay nói gièm”

 Tít 2:3, “Các bà già cũng vậy, phải có hành vi cử chỉ cung kính, đừng nói

gièm”

Nói gièm là vu khống, là nói xấu người khác, là cách ăn nói bịa đặt của Ma quỷ.

 Danh từ “ma quỷ“ xuất hiện khoảng 35 lần trong kinh Tân ước, và được chép chừng 6 lần trong Ma thi ơ: 4:1, 5, 8, 11; 13:39, 25:41. Ma-thi-ơ  giải nghĩa Ma quỷ (Diabolos) chính là sa-tan trong Mathio 16: 23. Ma quỷ là “Kẻ vu khống”, còn chữ “sa-tan” có nghĩa là  “kẻ thù”, các học viên phải phân biệt hai chữ nầy. Mathio 25:41, “'Ớ kẻ bị nguyền rủa, hãy lìa khỏi Ta mà vào lửa đời đời, là nơi đã sắm sẵn cho ma quỷ cùng các thiên sứ (ác) của  nó”

2.Các Quỷ: tiếng Hi lạp là daimon, tiếng Anh là demon, tiếng Việt là quỷ (nhỏ). Quỷ nhỏ là quân lính của sa-tan. Kinh thánh Tân ước nhiều chỗ gọi chúng là tà linh, ác linh, uế linh, ô quỷ.

 Demon xuất hiện khoảng 61 lần trong Kinh Tân ước, và chừng 10 lần trong sách Ma-thi-ơ, mà đa số con cái Chúa lẫn lỗn chúng với chính Ma quỷ, là quỷ vương. Mathio 7:22, 8:31,9:33, 17:18.

 Thí dụ Mathio 7:22, “chúng tôi há chẳng từng nhơn danh Chúa mà …đuổi các quỷ sao?”

BỐN SỰ MIÊU TẢ VỀ NGAI VÀNG CỦA CHÚA-

 Trong Khải huyền có 4 sự miêu tả về ngai vàng của Đức Chúa Trời. Nói tổng  quát dầu có 4 lời miêu tả, nhưng chỉ có một ngai.

--1.Ngai của Đấng Đắc Thắng:

Khải. 3:21; 20: 4, “Kẻ đắc thắng, ta sẽ cho ngồi với Ta trên ngai Ta, như Ta đã đắc thắng và ngồi với Cha Ta trên ngai của Ngài- Tôi đã thấy những ngôi, và những kẻ ngồi trên đó, họ được quyền xét đoán”.

 Chúa Giê-su đã chiến thắng và sống lại, nên Đức Chúa Trời cho Ngài ngồi trên ngai Đức Chúa Trời, là Cha ở trong Con, ngồi trên ngai. Khải 20:4 cũng nói khi khai mạc nước ngàn năm. Chúa Giê-su ban thưởng cho dân đắc thắng cai trị, là Ngài ở trong họ, và cho họ ngồi trên nhiều ngôi khác nhau, và thi hành quyền xét đoán thay cho Ngài.

 Giăng 5: 27, Cha giao thẩm quyền xét đoán cho Con, rồi Con giao lại cho những người đắc thắng, đang ngồi trên các ngai nhỏ đó trong vương quốc ngàn năm.

--2. Ngai phán xét trên loài người.

 Khải 4: 2-3, “Tức thì tôi đã ở trong tâm linh, (linh cảm), đã thấy kìa, có một cái ngai đặt ở trên trời, và có một Đấng ngự trên đó.  Đấng ngự đó xem giống như bích ngọc và hồng bửu thạch, có cái mống bao quanh ngai coi giống như lục bửu thạch. Từ ngai ra những chớp, tiếng và sấm…”

 Đức Chúa Trời và 24 thiên sứ trưởng thánh đã cai trị vũ trụ từ thượng cổ, nhưng kể từ ngày Chúa Giê-su thăng thiên lên ngai của Đức Chúa Trời, thì thẩm quyền phán xét và cai trị  trái đất giao cho Chúa Giê-su.

 Chúa Giê su cai trị  lịch sử con người suốt  gần 2000 năm qua bằng 7 ấn. Từ ngai nầy có “chớp , tiếng và sấm” giáng xuống trái đất, là các sự đoán phạt.

--3. Ngai của Người Con Trai trên không trung:

Khải. 12: 5, “Nàng sanh một con trai, con trai ấy sẽ dùng gậy sắt mà chăn muôn dân; con trẻ ấy bèn được tiếp lên cùng Đức Chúa Trời và đến nơi ngai Ngài”.

Câu 11 nói người con trai nầy là những người đắc thắng, mà khải 14:1-5 cũng miêu tả. Trước khi con rồng bị hất xuống trái đất từ không trung, thì những tín đồ trưởng thành của Cựu ước và Tân ước sống lại, và những người trưởng thành đang sống đây, đều sẽ được biến hóa lên không trung. Chúa Giê-su ban thưởng cho họ ngồi trên các ngôi, như Khải 20: 4 đã nói.

Cả Chúa  Giê-su và họ ngồi trên các ngôi, trên không trung, để trực tiếp cai trị tình hình thế giới ngày sau cùng. Ngay sau đó họ thay mặt Chúa Giê-su, ra lệnh thiên sứ trưởng Mi-ca-ên, và đoàn thiên sứ thánh sẽ đánh đuổi sa tan và các thiên sứ ác, hất chúng té xuống trái đất, đó là con rồng,  sa tan và bầy thiên sứ ác. Sa-tan mở hầm vực sâu cho A-pô-li-ôn lên nhập vào xác antichrist, và bắt đầu cai trị loài người trong cơn đại nạn, là 3 năm rưỡi sau cùng của nhân loại.

--4. Ngài Vĩnh Cửu tương lai:

Khải. 22:1-2, “Thiên sứ đã chỉ cho tôi xem sông nước sự sống ở giữa đường của  thành, trong như thuỷ tinh, từ ngai Đức Chúa Trời và Chiên Con chảy ra.  Bờ sông bên nầy và bên kia đều có cây sự sống ra trái mười hai mùa, mỗi tháng một mùa; lá cây dùng để chữa lành cho các dân”.

Sau 1000 năm của vương quốc Đấng Christ, ngai vàng vĩnh cửu của Đức Chúa Trời sẽ  lộ ra trên trời mới đất mới, và “các nô lệ của Ngài sẽ phụng sự Ngài,  được thấy mặt Ngài và danh Ngài sẽ ở trên trán của họ. Đêm không còn có nữa; họ không cần ánh sáng đèn hay ánh sáng mặt trời, vì Chúa là Đức Chúa Trời sẽ sáng toả họ, và họ sẽ làm vua cho đến đời đời vô cùng” (KHải 22:3-5)..

TỪ MỌI BỘ LẠC-

Khải Huyền 5: 8-10, “Khi lấy sách, bốn con sinh vật và hai mươi bốn trưởng lão bèn sấp mình xuống trước mặt Chiên Con, …Chúng hát một bài ca mới rằng: Ngài đáng lấy quyển sách mà mở những ấn ra; vì Ngài đã chịu giết,lấy huyết mình mà chuộc cho Đức Chúa Trời những người thuộc về mọi chi phái,mọi tiếng, mọi dân tộc, mọi nước, và Ngài đã làm cho những người ấy nên nước, và thầy tế lễ cho Đức Chúa Trời chúng ta; những người ấy sẽ trị vì trên mặt đất”.

Trước khi đọc bài nầy tôi muốn xác quyết với anh chị em rằng 24 trưởng lão đây là các thiên sứ trưởng, còn bốn sinh vật tượng trưng dân được cứu.  Cả hai nhóm nầy thờ lạy Chúa và hát bài ca mới ngợi khen Chiên Con về “những người ấy”. Có một số bản kinh thánh dịch ba chữ nầy là “chúng tôi”, ngụ ý các trưởng lão là tín đồ.

“Và họ hát một bài hát mới: Ngài xứng đáng lấy cuốn sách và mở niêm phong của nó; vì Ngài đã bị giết mà chuộc cho Đức Chúa Trời bằng huyết của mình “những người”, từ trong mọi bộ tộc, mọi ngôn ngữ và mọi dân tộc và mọi quốc gia, và Ngài đã biến họ thành vương quốc và các thầy tế lễ cho Đức Chúa Trời của chúng ta, và họ sẽ cai trị trái đất (Khải huyền 5,9.10) .

Cảnh Giăng mô tả trong Khải Huyền 5 diễn ra sau khi Chúa Giê su thăng thiên. Dàn hợp xướng rộng lớn sẽ hát bài hát mới bao gồm tất cả các tín đồ đã sống trên trái đất, do bốn sinh vật đại diện và tượng trưng vào lúc đó, vì vào lúc Chúa đăng quang trên ngai của Đức Chúa Trời, hội thánh chưa được cất lên. Bài hát mới này thể hiện phẩm giá của Chiên Con, Ngài đã trả giá đắt bằng chính mạng sống của mình để mua mọi người từ mọi bộ tộc, ngôn ngữ, dân tộc và quốc gia.

Đáng chú ý là bài hát nói: "... và đã mua cho Đức Chúa Trời ... và họ sẽ cai trị trái đất." Bài hát không nói: "... và đã mua chúng tôi cho Đức Chúa Trời và chúng tôi sẽ cai trị trái đất." Ngoài ra, những lời của 24 trưởng lão ngụ ý họ quăng mão miện (Khải 4:10), là từ chức quản trị vũ trụ, mà họ đã đảm trách từ buổi sáng thế đến đầu nước ngàn năm bình an, nhường chỗ cho những người tín đồ trưởng thành và sau khi Chúa Giê-su tái lâm, họ sẽ  cai trị với Đấng Christ (xem Khải. 20: 4-6).

Kết quả phước hạnh trong cái chết của Chúa, kéo dài đến tất cả các dân tộc! Công việc của Chúa và giá trị của máu Ngài thật tuyệt vời! Đó là những gì làm cho Chiên Con này trở nên tôn quý và có giá trị.!

Những câu này từ Khải huyền 5 cũng nói rõ rằng Đức Chúa Trời hoạt động giữa mọi người ở khắp mọi nơi. Ngài hướng dẫn một số người trong số họ ăn năn nhờ lòng nhân từ của Ngài. Ngài cũng đảm bảo rằng phúc âm được rao giảng một cách toàn diện. Liên quan đến thời gian đại nạn, có câu: "Và Tin Mừng về vương quốc này sẽ được rao giảng khắp thế giới như một chứng cớ cho muôn dân, rồi ngày tận thế sẽ đến" (Math. 24, 6). Và lúc này mọi người cũng sẽ đến với đức tin từ mọi quốc gia, mọi chi phái, mọi dân tộc và mọi ngôn ngữ (Khải. 7:9).

Chủ Nhật, 22 tháng 8, 2021

Tại Sao Việc Trinh Nữ Sinh Con Là Quan Trọng?

Math 1, Lu-ca 1

Sự thật Giê-su Christ được sinh ra bởi một trinh nữ đã được giảng dạy rõ ràng trong Kinh thánh, nhưng không may là điều nầy cũng thường bị nghi ngờ.

--Lu-ca 1: thông báo

Vào tháng thứ sáu trong thai kỳ của Ê-li-sa-bét, mẹ của Giăng Baptist, thiên thần Gáp-ri-ên được Đức Chúa Trời sai đến với cô Ma-ri ở Na-ra-rét (Lu-ca 1:26). Ở đây Lu ca hai lần chép hai câu rằng Ma-ri là một trinh nữ vào thời điểm này (câu 26 và câu 27). Khi thiên thần báo tin về việc mang thai và sinh con trai, Ma-ri đã đáp lại bằng những lời: "Tôi không biết đến đàn ông, thì thể nào có điều đó?” (Câu 34). Câu trả lời của Gáp-ri-ên: “Thánh Linh sẽ đến trên ngươi, quyền năng của Đấng Chí Cao sẽ phủ bóng trên ngươi; cho nên vật thánh sanh ra phải gọi là Con Đức Chúa Trời” (câu 35). Như thể nhìn thấy vẻ mặt nghi ngờ trên khuôn mặt của Ma-ri, thiên sứ nói thêm: “Kìa, Ê-li-sa-bết bà con ngươi cũng đã chịu thai một trai trong lúc già nua; nàng vốn có tiếng là son sẻ mà nay cưu mang được sáu tháng rồi. Bởi vì không điều gì bất năng cho Đức Chúa Trời cả”- Ma-ri vội vã lên đường đến thăm bà Ê-li-sa-bết và tự thuyết phục mình: coi có đúng những gì thiên thần đã nói với cô không. Từ Na-xa-rét đến Hếp rôn, thành của Ê-li-sa-bết, Ma-ri phải cỡi lừa đi đường trên 250 km.

--Bốn lời chứng trong Ma-thi-ơ 1:18

1. Lời chứng: "Trước khi họ (Ma-ri và Giô-sép) sống chung với nhau"

"Vả, sự ra đời của Jêsus Christ xảy ra như vầy: Ma-ri mẹ Ngài đã hứa gả cho Giô-sép, song trước khi sống chung với nhau, thì nàng đã thọ thai bởi Thánh Linh" (câu 18). Phép lạ do thiên thần Gáp-ri-ên loan báo đã xảy ra: Ma-ri đã mang thai và Đức Thánh Linh đã ban cho Lu-ca dòng chữ “trước khi họ sống chung với nhau” trước mặt họ. Bản văn Kinh thán làm cho chúng ta không còn nghi ngờ gì nữa: Việc mang thai của Ma-ri là do Đức Thánh Linh - chứ không phải do Giô-sép.

2. Lời chứng thứ hai: "vì điều đã được thai dựng trong nàng là bởi Thánh Linh" (Math. 1 :20)

Khi Giô-sép, chồng sắp cưới của Ma-ri, hay tin cô mang thai, anh ta cân nhắc việc kết thúc lời hứa hôn mà không có bất kỳ sự ồn ào nào. Bạn phải biết rằng một lễ đính hôn hồi đó ràng buộc hơn nhiều, vì nó dựa trên một thỏa thuận giữa cha mẹ của cặp đôi đính hôn. Giô-sép đang ở trong một tình huống tuyệt vọng. Nhưng anh ấy không muốn vạnh trần làm cho Ma-ri xấu hỗ để rồi  nàng sẽ bị ném đá. Điều đó chẳng phải thể hiện tính cách chân thành và vị tha cũng như tình yêu của anh ấy dành cho Ma-ri sao?

Chúa quan tâm biết bao trong hoàn cảnh khó khăn này! Một lần nữa Ngài sử dụng một thiên sứ nói chuyện với Giô-sép trong một giấc mơ. Để tránh một tia sáng ngờ vực nào đối với Ma-ri trong lòng Giô-sép, thiên thần giải thích với chàng: "Giô-sép, con Đa-vít ơi, chớ sợ lấy Ma-ri là vợ ngươi, vì điều đã được thai dựng trong nàng là bởi Thánh Linh" (c. 20).

3. Lời chứng thứ ba: "một gái đồng trinh sẽ chịu thai, sanh ra một trai, và đặt tên là Em-ma-nu-ên".

Câu trích dẫn từ Ê-sai 7:14 này được Thánh Linh của Đức Chúa Trời sử dụng trong Phúc âm Ma-thi-ơ để cho thấy rằng Chúa Giê-xu là Đấng Mê-si-a và là Đấng Cứu Rỗi của dân Ngài, đã được các nhà tiên tri loan báo. Tên của Đấng ấy là "Em-ma-nu-ênl". Điều đó có nghĩa là "Đức Chúa Trời ở cùng chúng ta".

4. Lời chứng: "... song (Giô-sép) không hề ăn ở với (biết) nàng (Ma-ri) cho tới khi nàng đã sanh một trai, rồi người đặt tên Con ấy là JÊSUS”.

Trong câu cuối cùng của Ma-thi-ơ 1, một lần nữa, tác giả là Ma-thi-ơ nói rõ rằng: Mặc dù Giô-sép đã rước Ma-ri về nhà mình và chăm sóc cho cô, nhưng không có sự chung sống tình dục nào giữa hai người cho đến khi Chúa Giê-su ra đời. Kinh thánh tường thuật rằng sau này Đức Chúa Trời đã ban cho họ 6 đứa con (Ma-thi-ơ 13:55) và chúng ta có thể cho rằng họ có một cuộc sống hôn nhân và gia đình hạnh phúc.

--Tại sao sự ra đời của Chúa Jêsus do trinh nữ là quan trọng?

Việc sinh ra từ trinh nữ đảm bảo rằng Chúa Giê-su - không giống như tất cả những người khác kể từ A-đam - được sinh ra mà không có tội lỗi. Chúa Giê-xu là người thật và là Đức Chúa Trời thật, nhưng Ngài là một con người vô tội. Chỉ một của lễ trong sạch, không tội lỗi mới có thể giải quyết được vấn đề tội lỗi. Chỉ với tư cách là Đấng Thánh “vốn chẳng biết tội lỗi”, Chúa Jêsus mới có thể “trở nên tội lỗi vì chúng ta” trên thập tự giá, “hầu cho chúng ta ở trong Ngài được trở nên sự công nghĩa của Đức Chúa Trời” (2 Cô-rinh-tô 5:21). Sứ đồ Giăng cho biết thêm rằng trong Chúa Giê-su không hề có tội lỗi gì cả (1 Giăng 3: 5) và sứ đồ Phi-e-rơ làm chứng: "Ngài không phạm tội, trong miệng Ngài cũng không có sự quỷ quyệt" (1 Phi-e-rơ 2: 22 ).

Hãy giữ kỹ điều này thật rõ ràng: Con Đức Chúa Trời thực sự đến thế giới như một người đàn ông thật, nhưng không có tội lỗi, sự thật nầy dành cho bất cứ ai thắc mắc hoặc khinh thường sự ra đời của Chúa Giê-su từ một trinh nữ, đồng thời dám đặt câu hỏi về thân vị độc nhất của Ngài và công trình cứu chuộc độc nhất của Ngài.

ĐỊA LÝ TỔNG QUÁT ĐẤT ISRAEL-

Sau năm 70 đế quốc La mã đổi tên “đất Israel” thành đất “Palestine” (Philitine) để xóa tên nước Israel. Vào thời Chúa Giê-su, La mã chia đất nầy thành ba miền:

--Ga-li-lê  có thành Na-na-rét—miền Bắc

--Samari  có dân Israel lai như người đàn bà Samari ở giếng Si-kha -Giăng 4- miền Trung

--Giu-đê, có thành Bết lê-hem, Jerusalem—dân Hê-bơ-rơ chính thống- miền Nam.

 Cậu cô Giô-sép –Mari theo tổ phụ của mỗi người, đã lưu lạc từ Bết lê hem lên cư ngụ ở Na xa rét, rồi hứa hôn với nhau. Trước khi kết hôn, cậu cô phải về Bết lê hem đăng bộ hộ tịch (Lu ca 2:). Lúc họ tạm ở quán trọ tại đó, Chúa Giê-su đã ra đời đúng tại quê hương của Bô-ô và vua Đa-vít, mà Do thái giáo không hề biết được..

Sau khi lánh nạn ở Ai cập trở về, hai vợ chồng Giô-sép Mari về định cư tại Na-xa rét (Math. 2: 23). Nên bề ngoài cháu Giê-su là người Ga-li-lê, và 11 sứ đồ của Ngài (trừ Giu-đa Ích-ca-ri-ốt, người Giu-đê) đều là người Ga-li-lê, dân dã.

Dân Do thái ở Giu đê rất khinh dể dân Israel ở Ga-li lê, bao gồm cả Chúa Giê-su. Người Ga-li-lê phát âm tiếng Hê-bơ-rơ không chuẩn như dân Do thái ở Giu đê và Jerusalem, xem Mathio 26: 73

GIẢI ĐÁP THẮC MẮC-

Mathio 12:26,28-29- “Nếu Sa-tan đuổi Sa-tan, thì tự nó chia xé, nước nó đứng sao nổi  Nhưng nếu ta nhờ Thánh Linh của Đức Chúa Trời mà đuổi quỉ, thì nước Đức Chúa Trời đã đến cùng các ngươi rồi. 29 Há ai có thể vào nhà dõng sĩ để cướp của, mà lại không trói dõng sĩ trước đã, rồi mới cướp nhà người được sao”

Sau khi đọc qua bài “Hai Danh xưng của Chúa Giê-su-- là Giê-su và Em-ma-un-ên” trong Nhóm HỌC SÁCH MATTHEW, một người bạn fb hỏi tôi như sau:

-Hỏi:

Thưa giáo sư tại sao Sa tan lại để Chúa Giê -xu tự do vào trái đất do nô cai quản? Nó có quyền không? Sa tan có biết không? Hay nó không có quyền? Hay nó ngại ảnh hướng của Đúc Chúa Trời? Vì sao? Nếu có thể xin giáo sư giải thích ạ ? Cám ơn giáo sư.

-Đáp:

Sa-tan không còn quyền cai quản trái đất như trong thời tiền sử, là thời đại trước khi con người hiện hữu. Nó biết Chúa Giê-su vào trái đất trễ, vì nó không có khả năng biết chuyện tương lai.

Theo Ê-sai 14, Lucifer kiêu ngạo, bị Chúa đuổi ra khỏi thiên đàng, và không hề được trở lại đó lần nào. Gióp 1 và 2 nói sa-tan lẻn vào triều kiến, là khi Chúa thiết triều ở không trung quanh trái đất, chớ không phải tại thiên đàng. Vì theo Sáng. 1: 6-8 và Eph. 6: 12. Sa-tan chiếm khoảng không quanh địa cầu làm tổng hành dinh, vào ngày thứ 2 trong 6 ngày Chúa tái tạo địa cầu--- để nhòm ngó trái đất.

Sáng. 1: 26, 28, Chúa giao cho con người quyền cai trị trái đất, không giao cho sa tan. Con người phải chế phục các loài, gồm có loài bò sát, là rắn, (satan).

Loài người sa ngã rơi vào tay sa tan (1 GIăng 5:19), nên sa tan gián tiếp cai trị trái đất, vì hắn chiếm đọat  loài người, rồi dùng loài người làm công cụ cai trị  địa cầu.

 Chúa Giê-su nhìn nhận hắn là “bá chủ thế giới”—Giăng 12:31. Phao lô nói sa tan là thần (god) của thời đại nầy. Vương quốc sa tan đã khai triển trong xã hội loài người, Math 12:26,. Chúa Giê-su mạnh hơn hắn, nên Ngài cướp nhà hắn và giải phóng chúng ta ra khỏi vương quốc của hắn.

 Lu ca 4: 5-6 hắn nói, “Ma quỉ lại đem Ngài lên núi cao, chỉ cho Ngài các nước thiên hạ trong giây phút,  mà nói rằng: “Tôi sẽ cho Ngài hết thảy quyền bính nầy và sự vinh hoa của các nước đó; vì đã giao cho tôi rồi, tôi muốn cho ai tuỳ ý tôi”. Sa tan bóp mép sự thật, trước khi hắn sa ngã, Đức Chúa Trời có giao trái đất cho hắn cai trị, chờ loài người sẽ được sáng tạo về sau. Hắn sa ngã mất quyền rồi.  Hắn nói  quyền cai trị trái đất  trước kia với Chúa Giê-su, để câu nhử Ngài.

Dù nhân loại là chủ nhân trái đất, đã sa ngã, bị nằm trong tay sa tan, nhưng  trái đất nầy là sở hữu của Đức Chúa Trời. Nên với tư cách là Đấng Tạo Hóa, Chúa Giê-su sinh ra vào trái đất, sa tan không có quyền cản trở. Hắn chỉ dùng thủ đoạn bỉ ổi, chống lại sư giáng sanh của Chúa là hành động trong lòng vua Hê-rốt (Mathi 2) sai quân lính truy tìm Ấu Chúa mà giết hại đi. Chúa Giê-su có nhân tánh con người yếu đuối, nên Đức Chúa Trời phải sai thiên sứ  báo tin Giô-sép đem Ấu Chúa chạy trốn.