Thứ Tư, 29 tháng 4, 2026

TỪ NHÀ SI- MÔN Ở BÊ-THA-NI-

 


(Ngày thứ tư, 12 tháng Ni- san)
Đa số dân Chúa lẫn lộn việc Chúa được xức dầu trên đầu tại nhà Si-môn với việc Ma-ri, em gái La-xa- rơ, xức dầu hai bàn chân của Ngài. Ma- ri xức dầu Chúa 6 ngày trước lễ Vượt qua là ngày 8 tháng Ni- san, còn người đàn bà vô danh tại nhà Si- môn, xức dầu cho Ngài, hai ngày trước lễ Vượt qua, tức là ngày 12 tháng Ni-san.
Si-môn, láng giềng của La-xa-rơ tại Bê-tha-ni, có lẽ đã tin Chúa vì Ngài đã chữa lành bệnh phung của ông, nên ông dọn tiệc đãi Ngài. Tôi tin có La-xa- rơ và Ma- thê, Ma- ri đến dự tiệc. Ai là người phụ nữ vô danh xức dầu cho Chúa?. Phải chăng là Sa-lô-mê, mẹ sứ đồ Giăng, hay là Gian-nơ, vợ của Chu-xa ở Ca- bê-na-um? Chai dầu thơm nầy quý giá tương đương chai dầu mà Ma- ri, em gái La-xa-rơ đã dâng hiến.
Tôi tin Chúa dự tiệc vào sáng thứ tư, ngày 12 tháng Ni- san, là hai ngày trước lễ Vượt qua. Bê- tha- ni cách Jerusalem 1 dặm đường. Sau khi dự tiệc xong, Chúa và 12 sứ đồ đã đến đền thờ giảng dạy, vì Mathio 24: 1- 4 kể lại việc Chúa và 12 sứ đồ ra khỏi đền thờ vào buổi chiều ngày hôm đó như sau:
"Khi Đức Chúa Jêsus ra khỏi đền thờ, đương đi, thì môn đồ đến gần để chỉ cho Ngài xem các nhà thuộc về đền thờ.
Ngài phán rằng: Các ngươi có thấy mọi điều đó chăng? Quả thật, ta nói cùng các ngươi, đây sẽ không còn một hòn đá nào chồng trên một hòn khác mà không bị đổ xuống.
Ngài đương ngồi trên núi Ô-li-ve, môn đồ tới riêng cùng Ngài, và nói rằng: Xin Chúa phán cho chúng tôi biết lúc nào những sự đó sẽ xảy ra? Và có điềm gì chỉ về sự Chúa đến và tận thế. Đức Chúa Jêsus đáp rằng: Hãy giữ, kẻo có kẻ dỗ dành các ngươi. ...v..v.."
Trên đường về lại nhà La-xa-rơ, chiều hôm đó Chúa ngồi trên sườn núi Ô- liu về phía tây. Chúa và họ nhìn lại về phía tây thấy đền thờ rực rỡ. Ngài bắt đầu giảng dạy dài dòng, mà Mathio ghi lại trong 2 đoạn 24, 25.
Ma-thi-ơ ghi lại lời Chúa nói về các dấu hiệu như chiến tranh, động đất, đói kém... về antichrist vào đền thờ mà ngồi...về 10 trinh nữ đón Chúa đến, về các tôi tớ Chúa sử dụng các ta lâng, về chiên và dê, là các nhân vật vip còn sống sót sau đại nạn...
Phi- e-rơ đã nghe và nhớ, nói lại cho Mác ghi lại trong Mác 13. Tôi không biết nguồn gốc của Lu- ca chương 21. Có lẽ sứ đồ Giăng thuật cho Lu- ca chăng?
Kết luận, tôi tin chắc Chúa và 12 sứ đồ đã về nhà La- xa- rơ chiều tối hôm đó. Ngài và 12 sứ đồ đã dùng bữa tối cuối cùng và ngủ nghỉ lần cuối cùng tại nhà của ba anh em La- xa- rơ. A- men.
MK. 1.4.2026-
-
CHÚA ĐẾN NHÀ MA-RI, MẸ GIĂNG MÁC-
(Ngày thứ năm, 13 tháng Ni-san)
Sáng ngày 13, tại nhà La-xa-rơ, ở Bê- tha- ni Chúa mở cuộc hành trình cuối cùng, nơi đến là Gô- gô- tha.
Từ Bê- tha- ni, Chúa sai 2 môn đồ, tôi tin một trong 2 người đó là Phi- e- rơ. Do Phi e rơ kể lại, nên Mác ghi rõ: "Ngày thứ nhứt về lễ ăn bánh không men, là ngày giết chiên con làm lễ Vượt qua, các môn đồ thưa cùng Đức Chúa Jêsus rằng: Thầy muốn chúng tôi đi dọn cho thầy ăn lễ Vượt qua tại đâu?
Ngài sai hai môn đồ đi, và dặn rằng: Hãy vào thành, sẽ gặp một người xách vò nước; cứ theo sau, hễ người vào nhà nào, các ngươi sẽ nói cùng chủ nhà ấy rằng: Thầy phán: Cái phòng ta sẽ dùng ăn lễ Vượt qua với môn đồ ta ở đâu? Chính kẻ đó sẽ chỉ cho các ngươi một cái phòng lớn trên lầu có đồ đạc sẵn sàng, hãy dọn tại đó cho chúng ta. Vậy, hai môn đồ đi ra mà vào thành, gặp mọi điều như lời Ngài đã phán, rồi dọn lễ Vượt qua. Buổi chiều, Ngài đến với mười hai sứ đồ". (Mác 14: 12- 17).
Chủ nhà ấy là quả phụ Ma-ri, một phụ nữ Do thái, có lẽ chồng bà là một sĩ quan La mã. Con trai một của bà là Giăng Mác. Anh em nhớ rằng có đến 6 phụ nữ trong kinh Tân ước đều có tên là Ma- ri. Nhà của bà là một ngôi biệt thự hoành tráng, có tầng lầu một, mà ngày xưa gọi là phòng cao. Đây là điểm nhóm đầu tiên của Hội thánh, có khả năng nuôi ăn ở cho 120 người trong hơn 10 ngày.
Đến chiều tối hôm đó Chúa cùng 12 môn đồ tới (Mác 14: 17).
Việc đầu tiên Chúa làm sau khi Ngài lên phòng cao nhà bà Ma- ri là rửa chơn cho 12 sứ đồ. Xem Giăng 13: 1-20.
"Trước ngày lễ Vượt qua, Đức Chúa Jêsus biết giờ mình phải lìa thế giới đặng trở về cùng Đức Chúa Cha đến rồi; Ngài đã yêu kẻ thuộc về mình trong thế giới, thì cứ yêu cho đến cuối cùng. Đức Chúa Jêsus biết rằng Cha đã giao phó mọi sự trong tay mình, và mình đã từ Đức Chúa Trời đến, cũng sẽ về với Đức Chúa Trời, nên đứng dậy khỏi bàn, cởi áo ra, lấy khăn vấn ngang lưng mình. Kế đó, Ngài đổ nước vào chậu, và rửa chân cho môn đồ, lại lấy khăn mình đã vấn mà lau chân cho". Mười hai môn đồ đùn đẩy nhau, Chúa hạ mình làm gương cho họ.
Sau khi rửa chân cho 12 sứ đồ, Lu ca 22 chép Chúa cùng họ ăn thịt chiên con Vượt qua quay, cùng bánh không men và rau đắng.Chúa ăn tiệc Vượt qua trước toàn dân Israel một ngày, do gia đình bà Ma ri chuẩn bị trước.
"Đến giờ, Ngài ngồi bàn ăn, các sứ đồ cùng ngồi với Ngài.
Ngài phán rằng: Ta rất muốn ăn lễ Vượt qua nầy với các ngươi trước khi Ta chịu đau đớn. Vì, Ta nói cùng các ngươi, Ta sẽ không ăn lễ nầy nữa cho đến khi lễ ấy được trọn trong nước Đức Chúa Trời".
Chúa cố ý không cho Giu đa Ích ca ri ốt dự tiệc thánh, nên sau khi ăn tiệc vượt qua xong, Ngài lấy 1 miếng bánh đưa cho Giu đa. Hắn là quỷ (devil) không phải tín nhân, nên không được phép dự tiệc thánh (Giăng 6: 70). Hắn liền đi đến các thầy tế lễ để bán Chúa với giá 30 đồng bạc. Hắn ở lại với họ chờ đêm nay dẫn dường họ đi bắt Chúa Giê- su.
Giăng 13: 30, "Còn Giu-đa, khi lãnh lấy miếng bánh rồi, liền đi ra. Khi ấy đã tối". Chúa liền lập tiệc thánh lần đầu tiên:
"Khi đang ăn, Đức Chúa Jêsus lấy bánh, tạ ơn, đoạn bẻ ra trao cho các môn đồ, mà phán rằng: Hãy lấy, nầy là thân thể Ta. Ngài lại cầm chén, tạ ơn, rồi trao cho các môn đồ, và ai nấy đều uống" (Mác 14: 22-23).
Sau đó Chúa giảng cho 11 sứ đồ nghe một bài giảng dài, vô cùng sâu nhiệm, rất khó hiểu, có thể gọi là trái tim của 4 phúc âm đồng quan, chép trong Giăng 14, 15 và 16. Rồi với tư cách là Thượng Tế, Chúa dâng lời cầu nguyện lên Đức Chúa Cha thay cho con cái Ngài trải các thời đại, Giăng 17.
Cuối cùng Mathio 26: 30 và Mác 14: 26 đều ghi chép lời hoàn toàn giống nhau:
"Khi đã hát thơ thánh rồi, Đức Chúa Jêsus và môn đồ đi ra mà lên núi Ô-li-ve".
Trong bài sau chúng ta lên núi Ô-liu để tưởng niệm đêm mà Cứu Chúa yêu dấu của chúng ta đã đau thương cầu nguyện khóc lóc một mình như thể nào!!!
MK.1.4.2026
--
GHẾT- SÊ- MA- NÊ TRÊN NÚI CÂY DẦU-
(Tối thứ năm, 13 tháng Ni-san)
Khuya nay trên đình núi Ô- li- ve,
Sao thưa lu li cảnh trông đê mê,
Giữa lâm viên thâm u đêm hiu quạnh,
Giê- su đau thương cầu nguyện một mình.
(Tc số 89 HTTL VN- MN).
Lu- ca 22: 39 chép "Đoạn, Đức Chúa Jêsus ra đi, lên núi Ô-li-ve theo như thói quen; các môn đồ cùng đi theo Ngài". Còn Mathio 26: 36 miêu tả thêm, "Rồi Đức Chúa Jêsus cùng môn đồ đi đến một chỗ kêu là Ghết-sê-ma-nê. Ngài phán rằng: Hãy ngồi đây đợi Ta đi cầu nguyện đằng kia". Chỉ có Giăng nói Ghết- sê- ma- nê là một miếng vườn, nơi quen thuộc mà Chúa thường nhóm họp 12 môn đồ ở đó. Giăng 18: 1-2 "Sau khi phán những điều ấy, Đức Chúa Jêsus đi với môn đồ mình sang bên kia khe Xết-rôn; tại đó có một cái vườn, Ngài bèn vào, môn đồ cũng vậy. Vả, Giu-đa là kẻ phản Ngài, cũng biết chỗ nầy, vì Đức Chúa Jêsus thường cùng môn đồ nhóm họp tại đó".
Vườn Ghết- sê- ma- nê nằm sườn phía tây của núi Ô- liu. Chữ "Ghết- sê- ma- nê" theo tiếng Hê- bơ- rơ là Gat Shemanim, Anh ngữ là Oil Press: "sự ép dầu". Vào thời Chúa Giê-su có nhiều cây ô- liu trong vườn, người ta nói hiện nay còn một cây ô-liu từ thời xưa đó còn sống sót.
Chúa đem 11 sứ đồ đến đó để làm gì? Trong ba phúc âm đồng quan, Mathio miêu tả rõ nhất, "Đoạn, Ngài bèn đem Phi-e-rơ và hai người con của Xê-bê-đê đi với mình, tức thì Ngài buồn bực và sầu não lắm.
Ngài bèn phán: linh hồn ta buồn bực cho đến chết; các ngươi hãy ở đây và tỉnh thức với Ta. Rồi Ngài bước tới một ít, sấp mặt xuống đất mà cầu nguyện rằng: Cha ơi! Nếu có thể được, xin cho chén nầy lìa khỏi Con! Song không theo ý muốn Con, mà theo ý muốn Cha.
Kế đó, Ngài trở lại với môn đồ, thấy đang ngủ, thì Ngài phán cùng Phi-e-rơ rằng: Thế thì các ngươi không tỉnh thức với Ta trong một giờ được! Hãy thức canh và cầu nguyện, kẻo các ngươi sa vào chước cám dỗ; tâm linh thì muốn lắm, mà xác thịt thì yếu đuối. Ngài lại đi lần thứ hai, mà cầu nguyện rằng: Cha ơi! Nếu chén nầy không thể lìa khỏi Con được mà Con phải uống, thì xin ý Cha được nên.
Ngài trở lại nữa, thì thấy môn đồ còn ngủ; vì mắt họ đã đừ quá rồi. Đoạn, Ngài bỏ họ lại mà đi cầu nguyện lần thứ ba, và lặp xin như lời trước" ( Math 26: 37-44).
Ba phúc âm đều nói Chúa cầu nguyện, và Lu ca còn nói tính cách tăng tốc của sự cầu nguyện, "Có một thiên sứ từ trên trời hiện xuống cùng Ngài, mà thêm sức cho Ngài.
Trong cơn rất đau thương, Ngài cầu nguyện càng thiết, mồ hôi trở nên như giọt máu lớn rơi xuống đất" (Lu. 22: 43-44).
Hơn thế nữa Hê- bơ- rơ 5: 7 nói rõ, "Khi Đấng Christ còn trong xác thịt, thì đã kêu lớn tiếng khóc lóc mà dâng những lời cầu nguyện nài xin cho Đấng có quyền cứu mình khỏi chết, và vì lòng nhân đức Ngài, nên được nhậm lời".
Tại sao Chúa Giê-su lớn tiếng kêu khóc ba lần trong sự cầu nguyện? Ngài sợ chết sao?
Khóc là gì? Khóc là tiếng rên rỉ sâu sa của một con người bị sức ép của hoàn cảnh, do tâm trí bị đau đớn, tình cảm bị dày vò. Nhưng Chúa là một vĩ nhân, làm sao Ngài có thể khóc được chứ?
Chúa khóc vì sợ hãi về khối nặng tội lỗi của cả nhân loại, lớn như ngọn núi chất trên Ngài. Chúa khóc, vì là một con người phàm, Ngài sợ nhân tánh Ngài sẽ chết luôn, không sống lại được.
Hội thánh nhóm tối thứ 5, ngày 13 tháng Ni- san hằng năm để nhớ sự thương khó của Chúa Giê-su, một con người vô tội trong vườn Ghết-sê-ma-nê, mà họ quên sách Giăng miêu tả Chúa là Đức Chúa Trời, đang đứng trong vườn. Ngài không cầu nguyện 3 lần cùng Đức Chúa Trời Cha, Ngài không khóc gì cả. Giăng 18: 5-8, "Đức Chúa Jêsus biết mọi điều sẽ xảy đến cho mình, bèn bước tới mà hỏi rằng: Các ngươi tìm ai? Chúng trả lời rằng: Tìm Jêsus người Na-xa-rét. Đức Chúa Jêsus phán rằng: Chính Ta đây (I AM)! Giu-đa là kẻ phản Ngài cũng đứng đó với họ. Vừa khi Đức Chúa Jêsus phán: Chính Ta đây: (I AM), chúng bèn thối lui và té xuống đất. Ngài lại hỏi một lần nữa: Các ngươi tìm ai? Chúng trả lời rằng: Tìm Jêsus người Na-xa-rét. Đức Chúa Jêsus lại phán: Ta đã nói với các ngươi rằng chính Ta đây,( I AM); vậy nếu các ngươi tìm bắt Ta, thì hãy để cho những kẻ nầy đi". Ba lần Danh I Am xuất hiện.
Là Đức Chúa Trời, Ngài không sợ hãi, Ngài hiên ngang tự nộp mình cho những kẻ muốn bắt Ngài.
Là con người, Chúa cảm thấy cô đơn khi 11 môn đồ đều ngủ, bỏ rơi Ngài một mình, Ngài sợ hãi vì phải gánh tội lỗi của cả nhân loại, sợ rằng con người Ngài sẽ chết mà không vượt nổi thập tự giá, nên Ngài phải cầu nguyện, phải kêu khóc cùng Đức Chúa Trời Cha.
Kinh thánh chép Đức Giê-hô hô- va cười (Thi 2:), chỉ chép Chúa Giê-su khóc trước mộ La- xa- rơ, nhưng không chép Đức Chúa Trời khóc bao giờ.
Khi những người do Giu đa dẫn đến, nghe Chúa nói "Ta đây" họ té nhào. Theo tiếng Hi lạp, chữ "Ta đây" là I AM, Đấng Hằng Hữu (Giê hô va). Giê hô va không cô đơn, không cầu nguyện khóc lóc không có sự thương khó. Chúng ta kỷ niệm sự thuơng khó của Con Người Giê- su mà thôi nha anh em.
MK. 1.4.2026.