Lời Kinh Thánh

Kìa, Ngài cỡi đám mây mà đến, mọi mắt sẽ trông thấy Ngài, cả đến những kẻ đã đâm Ngài cũng vậy; hết thảy các chi phái trên đất đều sẽ than khóc Ngài. Phải, A-men Lu ca 17:29-30

Thứ Tư, 23 tháng 7, 2014

CÂY KEO HOA VÀNG

Image result for photo of acacia tree     Image result for photo of the trunk acacia tree

Đức Chúa Trời truyền dạy Moses về việc dùng gỗ si-tim trong công cuộc xây đựng đền tạm trong vùng hoang dã như sau:

-         Xuất hành 25:8,10, 23; 26: 15-16; 27:2  “Nầy là lễ vật các ngươi sẽ nhận lấy của họ: …cây (gỗ) si-tim- Vậy, chúng hãy đóng một cái hòm bằng cây si-tim--Ngươi cũng hãy đóng một cái bàn (xông hương) bằng cây si-tim--Ngươi cũng hãy làm những ván cho vách đền tạm bằng cây si-tim. Mỗi tấm trường mười thước (4, 5 mét), hoành một thước rưỡi (0, 67 mét),-- Ngươi cũng hãy đóng một bàn thờ (dâng của lễ) bằng cây si-tim--rồi làm bốn cây trụ bằng gỗ si-tim, bọc vàng”.


Tất cả những câu Kinh thánh nầy nói về cây si-tim. Chữ si-tim xuất phát từ chữ shitta cổ, ngày nay các dịch giả Kinh thánh Việt văn đều dịch là “gỗ cây keo”.

Heart of tree - growth rings of acacia tree - cross section...



Khi những người Anh quốc đầu tiên di trú đến đất Úc, họ đã thấy cư dân bản địa dùng gỗ cây keo vàng làm vũ khi, tên là boomerang. Một loại cây keo khác, Acaciaacuminata, được gọi là mứt dâu, vì khi xẻ gỗ thân keo còn tươi nó có mùi giống như nước ép trái dâu hoang. Dân thuộc địa Úc thời ban đầu đã dùng cây keo nầy làm phên trát bùn để cất nhà.

Cây keo sống những vùng đất hoang dã, cằn cỗi, thân cây cao đến 8 hay 10 mét. Cành có nhiều gai nhọn. Hoa màu vàng anh rất đẹp, đến nỗi nước Úc lấy cành hoa keo vàng làm biểu tượng trang trí. Cây keo rất đa dụng. Cành lá làm thức ăn khô cho gia súc. Hạt keo là nguồn thực phẩm giàu hàm lượng protein. Người ta chế tạo mì và mì ống từ hạt keo. Gỗ keo cũng rất có giá trị.Hoa keo vàng chế tạo nước hoa. Mỗi cây keo đúng tuổi sản xuất chừng 10 kilogram hạt, làm thức ăn.

almond seed with acacia branch -
        Hạt Keo

Có tư liệu chép về cây keo như sau: “Tên khoa học của cây keo là Acacia, là một chi của một số loài cây thân bụi  thân gỗ có nguồn gốc tại đại lục cổ Gondwana, thuộc về phân họ Trinh nữ (Mimosoideae), cũng thuộc họ Đậu (Fabaceae), lần đầu tiên được ông Linnaeus miêu tả năm 1773 tại châu Phi. Hiện nay, người ta biết khoảng 1.300 loài cây keo trên toàn thế giới, trong đó khoảng 950 loài có nguồn gốc ở Australia, và phần còn lại phổ biến trong các khu vực khô của vùng nhiệt đới và ôn đới ấm ở cả hai bán cầu, bao gồm châu Phi, miền nam châu Á, châu Mỹ.

Loài sinh trưởng xa nhất về phía bắc của chi này là Acacia greggii (keo vuốt mèo), ở miền nam Utah, Hoa Kỳ; loài sinh trưởng xa nhất về phía nam là Acacia dealbata (keo bạc), Acacia longifolia (keo bờ biển hay keo vàng Sydney), Acacia mearnsii (keo đen) và Acacia melanoxylon (keo gỗ đen), ở Tasmania, Australia, trong khi Acacia caven đạt tới vĩ độ tương tự như thế về phía nam, tại khu vực đông bắc tỉnh Chubut, Argentina. Trong tiếng Anh, các loài keo ở Australia được gọi chung là wattle (cây keo Úc), còn các loài châu Phi và châu Mỹ gọi chung là acacia (cây keo).


Image result for photo of the symbol of australia

“Một số loài keo cung cấp các loại gỗ có giá trị; chẳng hạn Acacia melanoxylon (keo gỗ đen) ở Australia, chúng là loài cây thân gỗ lớn; gỗ của chúng được dùng để làm đồ gỗ nội thất và có độ bóng cao; hay Acacia homalophylla (gỗ Myall, cũng ở Australia) tạo ra gỗ có mùi thơm, được sử dụng cho mục đích làm cảnh. Acacia formosa cung cấp loại gỗ có giá trị của Cuba gọi là "sabicu". Acacia seyal được coi là cây keo (shitta) đã xuất hiện trong Kinh Thánh và cung cấp gỗ shitta. Nó được sử dụng trong sản xuất hộp đựng pháp điển của người Do Thái, là một biểu tượng thuộc linh. Acacia heterophylla từ đảo Réunion  Acacia koa (keo Hawaii) từ quần đảo Hawaii là các loài cây lấy gỗ có giá trị. Tại Việt Nam, các loài cây keo tai tượng (Acacia mangium) và keo lá tràm (Acacia auriculiformis) được trồng để làm nguyên liệu sản xuất giấy, cải tạo vườn rừng”.

Image result for photo of the flowers acacia treeImage result for photo of the flowers acacia tree



Cứ vào tháng 8 dương lịch, cây keo vàng trổ hoa rực rỡ tại đất nước Úc, báo hiệu mùa xuân sẽ sớm đến ở nam bán cầu. Dân Úc lấy hình hoa keo vàng trang trí cho biểu hiệu của xứ sở họ.

Dân Israel đã mang nhiều gỗ keo vàng khi xuất hành ra khỏi Ai-cập, nên họ đã dâng hiến gỗ quí nầy cho sự xây dựng đền tạm trong sa mạc. Họ dùng gỗ keo vàng làm hòm giao ước, làm hai bàn thờ, làm 48 tấm ván và tất cả các cây trụ trong hành làng và trụ cửa đền tạm…v..v. Nhưng khi vua Sa-lô-môn xây dựng đến thờ, ông không dùng gỗ keo nữa, mà dùng ba lọai gỗ là: bá hương, tùng và ô-liu. Tại sao có sự thay đổi như vậy? Và tại sao các vật dụng bằng gỗ keo trong đền tạm cũng được đem vào kho tàng đền thờ vào ngày lễ hội khánh thành đền thờ?

1 Vua 8:1-4 chép, “Bấy giờ, Sa-lô-môn vời đến mình, ở tại Giê-ru-sa-lem, các trưởng-lão Y-sơ-ra-ên, hết thảy các quan-trưởng của chi-phái, và những trưởng-tộc của Y-sơ-ra-ên, đặng rước hòm giao-ước của Đức Giê-hô-va từ thành của Đa-vít, tức là Si-ôn. Trong lúc lễ, nhằm tháng Ê-tha-ninh, là tháng bảy, hết thảy người nam của Y-sơ-ra-ên đều nhóm lại cùng vua Sa-lô-môn.  Khi các trưởng-lão Y-sơ-ra-ên đã đến, thì những thầy tế-lễ lấy hòm của Đức Giê-hô-va,  dời đi luôn với Đền-tạm và các khí-dụng thánh ở trong Đền-tạm. Những thầy tế-lễ và người Lê-vi khiêng các đồ đó lên”.
 Chúa Jesus đã đội mão gai trước khi bị đóng đinh. Cây keo cũng thuộc dòng họ keo gai, sống trong vùng đất khô cằn, trong sa mạc hoang vắng. Ê-sai 53:2 chép, “Ngài như một cái chồi, như cái rễ ra từ đất khô”. Chúa giống như cây keo hoa vàng sống trong vùng hoang dã của thế giới. Gỗ keo ngụ ý bản chất phàm nhân của Đấng Christ, mạnh mẽ trong tính chất, cao cả trong tiêu chuẩn. Nhân tính của chúa là yếu tố cơ bản, thể chất cơ bản, vì Ngài là chứng cớ của Đức Chúa Trời trên đất.


Image result for photo of the plant in the dry ground


Cái rương giao ước bằng gỗ keo vàng vẫn tồn tại mãi trong đền thờ do Sa-lô-mô xây cất, mà không làm cái rương khác thay thế. Vì “Jêsus Christ hôm qua, ngày nay, và cho đến đời đời vẫn y nguyên” (Hê-bơ-rơ 13:8). Nhân tánh của Đấng Christ tồn tại đời đời, bất biến. Ngài là Thần Nhân. Vào ngày phục sinh, nhân tánh của Ngài được sanh ra (sống lại) làm Con Đức Chúa Trời. Phao- lô giải thích “Chúng tôi đây cũng truyền cho anh em Tin Lành về lời hứa cho tổ phụ,  thể nào Đức Chúa Trời đã làm ứng nghiệm lời hứa đó cho chúng ta là con cái họ, mà khiến Jêsus sống lại y như đã chép trong Thi thiên thứ hai rằng: 'Ngươi là con ta, Ngày nay ta đã sanh ngươi.'(Công vụ 13: 32)

Bạn phải phân biệt rằng khi Chúa Jesus còn sống trên đất, thần tánh của Ngài là Con Đức Chúa Trời, và cũng là chính Đức Chúa Trời. Khi Ngài chưa sống lại, nhân tánh Ngài là con người vô tội, nhưng sau khi sống lại, nhân tánh đó phục sinh, mà Phao-lô gọi sự phục sinh của Ngài là sự sinh ra của nhân tánh Ngài, để nhân tánh trở thành Con Đức Chúa Trời—được thần hóa. Đó là lý do vì sao rương giao ước và các vật dụng bằng gỗ keo của đền tạm lưu động đều được đem vào đền thờ bằng vật liệu nặng.

Gỗ keo hoa vàng là nhân tánh chưa sống lại của Chúa, còn gỗ bá hương hay gỗ ô-liu ám chỉ nhân tánh phục sinh của Ngài. Đền tạm bằng gỗ keo vàng là đời sống và nhân tánh của Chúa Jesus, còn đền thờ do Sa-lô-môn xây dựng tiêu biểu cho Đấng Christ phục sinh và Thân Thể hữu cơ, thuộc linh và hoàn vũ của Ngài, còn đến đời đời.

Minh Khải 23-7-2014

Tư liệu tham khảo:

1.     London Journal of Botany
 Australian National Botanic Gardens