Thứ Sáu, 19 tháng 3, 2021

LỐI ĐI CHƯA CÓ DẤU CHÂN-


 

LỐI ĐI CHƯA CÓ DẤU CHÂN-

Thi tiên 32:8, “Ta sẽ dạy dỗ ngươi, chỉ cho ngươi con đường phải đi; Mắt ta sẽ chăm chú ngươi mà khuyên dạy ngươi”

Gióp 23: 8-10, “Nầy, tôi đi tới trước, nhưng không có Ngài tại đó; Tôi đi lại sau, song tôi cũng chẳng nhìn thấy Ngài;  Qua phía tả, khi Ngài đương làm công việc đó, song tôi không phân biệt Ngài được; Ngài ẩn tại phía hữu, nên tôi chẳng thấy Ngài.  Nhưng Chúa biết con đường tôi đi;  Khi Ngài đã thử rèn tôi, tôi sẽ ra như vàng.  Chân tôi bén theo bước Chúa;

Tôi giữ đi theo đường Ngài, chẳng hề sai lệch”.

-

Lối đi chưa có dấu chân rõ,

Đưa tôi đến nơi ở lạ kì,

Đó là huyền nhiệm đồng đi,

Chúa Trời đưa dẫn còn gì không tin?

.

Ai biết điều chờ mình phía trước?

Tương lai chưa tới được tỏ ra?

Nằm trong tay Chúa của ta,

Chỉ tin cậy Đức Chúa Cha dẫn đường.

.

Lịch trình cuộc sống luôn không có,

Không la bàn chỉ tỏ lối đi,

Bản đồ chi tiết là gì,

Chỉ tin cậy Chúa mỗi khi di hành.

.

Hứng thú thay cho hành trình mật,

Đưa ta tiến tới thật là xa,

Thánh Linh đi trước chúng ta,

Là sao Bắc Đẩu rạng lòa ánh quang.

.

“Dẫn chúng con lên đàng, Chúa hỡi,

Dù lộ trình diệu vợi lắm thay,

Dừng chân phủ phục trước ngai,

Vào nơi vinh hiển tương lai tuyệt vời.”

Hodos Deng, March 19, 2021

Thứ Tư, 17 tháng 3, 2021

HÀNH-TRÌNH ĐỨC TIN TRONG DANH CHÚA- 6-


 

HÀNH-TRÌNH ĐỨC TIN TRONG DANH CHÚA- 6-

 - Đức Jehovah Vạn Quân—Sa-mu-ên-

Với cái tuổi U 70, sau khi lập vua Sau- lơ yên vị tôi đã về lại quê hương (home town) của mình là  Ra-ma Tha-im Xô-phim, nằm trong lãnh địa của chi phái Ép-ra-im. Sau khi đã viết xong sách Các Quan xét, 21 chương và tôi khởi sự thảo ra thiên hồi ức nầy trước khi tôi sẽ ra đi đoàn tụ với tổ tông trong Lạc viên (Sáng 25: 7-8).

Giô-suê 21:20-22 nói về bốn cái thành trong chi phái Ép-ra-im cấp cho phân nửa chi tộc Kê-hát của bố tôi. Đó là 4 thành: Si-chem, Ghê-xe, Kíp-sa-im và Bết-hô-rôn.Tôi thật sự không biết tại sao lại còn có thành Ra-ma nầy cho dân kê hat chúng tôi thường trú. Nhà A-rôn, cũng thuộc chi Kê -hát  thì  cư trú trong các thành được ban cấp ở Giu đa, tổ tông bố tôi thì ở xứ Ép-ra-im. Bề ngoài tôi có quê quán ở Ép-ra-im, nhưng thân phận là dân Kê-hát, là người Lê-vi.

 Tên tôi là “Sa-mu-ên” có nghĩa là “được Đức Chúa Trời nghe”. Tôi hổ thẹn vì bố tôi là Ên-ca-na (Đức Chúa Trời đang chiếm hữu), là con cháu của loạn thần tặc tử Cô-rê, đã bị Chúa hình phạt cho đất nuốt sống (Dân 16). Nhưng con cái Cô-rê còn sống sót, và sinh ra bố tôi (Dân. 26: 10-11).

Tôi xin giải thích cho các bạn, nếu không các bạn khó mà thông suốt tổ tông của tôi. Vì từ cụ Cô-rê (Đầu Hói) đến tôi có chừng hơn 400 năm thời ám thế của các Quan xét ( xem 1 Sử 6:22-27). Có ba vị có tên là Ên-ca-na mà Ên- ca- na thứ ba là bố đẻ của tôi. Ên-ca-na, bố tôi là con của cụ Giê-hô-ram (1 Sa.1:1, 1 Sử. 6:27).

Xin nhắc lại, cụ Lê-vi sinh ba người con trai, là ba chi tộc dân Lê- vi phụng sự trong nhà Chúa là Ghẹt-sôn, Kê- hát và Mê-ra-ri. Cụ Kê-hát sinh ra 4 trai là Am-ram và Dít-sê-ha, Hếp-rôn và U-xi-ên. Dít-sê-ha và A-mi-na-đáp là một người (Xuất 6:18,21).

 Bố tôi thuộc về dân Lê vi, ông là người dòng dõi của chi tộc Kê hát trong chi phái Lê-vi. Cô rê là anh em chú bác ruột của A-rôn và Môi se, nhưng A-rôn thuộc về nhà thầy tế lễ, cha truyền con nối, còn cụ nhà tôi là Cô rê được đặc trách  chỉ huy chuyển vận cái hòm thánh và vài ba vật thánh khác như bàn thờ xông hương, chân đèn bảy ngọn, bàn bánh trần thiết…. bằng đôi vai của mình. Nhà A-rôn làm thầy tế lễ, còn 3 chi nữa của dòng Kê hát, mà Cô -rê là một, chỉ là người Lê vi có thể phục vụ trong đền tạm hay, đền thờ, nhưng không được làm thầy tế lễ. Nhưng tôi được làm thầy tế lễ, vì mẹ tôi dâng đời sống tôi làm người Na-xi-rê (Dân 6). Bà có hứa với Chúa, con “phú dâng nó trọn đời cho Đức Giê-hô-va, và dao cạo sẽ chẳng đưa ngang qua đầu nó” (1 Sa. 1:11). Chức tế lễ của người Na xi rê không được cha truyền con nối

 Cha tôi cưới mẹ tôi là An-ne (Ân Huệ). Nhưng mẹ tôi son sẻ nhiều năm, nên cha tôi buộc phải cưới một người thiếp nữa là Phê-ni-na (San Hô). Kế mẫu của tôi sinh ra ba bốn con trai gái, trong khi mẹ tôi vẫn tiếp tục son sẻ, và bị kế mẫu lên mặt hà khắc, bắt bớ. Kế mẫu phát biểu, “cây độc không trái, gái độc không con”. Cha tôi nhu nhược, sợ người vợ thứ, nên chỉ an ủi mẹ tôi những lời an ủi suông mà thôi.

 Mỗi năm cha mẹ, kế mẫu và các em tôi lên Si-lô 3 lần trong các kỳ lễ Vượt qua, Ngũ tuần và Lều tạm, rồi  ở lại Si-lô 7 ngày trong ba kỳ lễ đó như mọi người dân khác trên cả nước (1 Sa. 1:3).

Trong một dịp tham dự 7 ngày hội đồng thánh khiết như vậy tại Si-lô. Hôm đó, trong khi mọi người ăn uống vui vẻ, mẹ tôi không ăn, một mình lên quỳ trước cửa, trước bức màn vào đền tạm cả giờ đồng hồ. Bà dốc đổ hồn mình ra trước mặt Chúa, khẩn cầu Chúa ban cho bà một trai, thì bà sẽ phú dâng làm người Na-xi- rê hầu việc Chúa trọn đời. Cụ thượng tế Hê-li đã chúc phúc cho bà, sau đó bà vui vẻ vì tin lời cụ. Cụ chúc phước “hãy đi bình yên, nguyện Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên nhậm lời  nàng đã cầu xin cùng Ngài!  Nàng thưa rằng: Nguyện con đòi ông được ơn trước mắt ông! Đoạn, người nữ lui ra, ăn, và nét mặt nàng chẳng còn ra ưu sầu nữa”.

Có nhiều lời đàm tiếu về vai trò của cụ Hê li và hành vi xấu xa của hai phó tế, là hai con trai ông, nhưng là tôi tớ mà Chúa đang nắm giữ sử dụng, nên Chúa vẫn tôn trọng lời chúc phước của cụ trên đời sống của mẹ tôi.

Khoảng 10 tháng sau, tôi đã ra đời. Mẹ tôi đặt tên cho tôi là Sa-mu-ên. Sau khi tôi ra đời, mẹ tôi quá xúc động về ơn thương xót của Chúa, nên bà xuất khẩu thành thi ra một bài gần như là thi thiên. Khi tôi đủ tuổi hiểu biết, bà đã đọc thuộc lòng lại cho tôi nghe, và tôi ghi chép trong phần đầu của sách 1 Sa-mu-ên của tôi. Trong đó có một câu đặc biệt, “Kẻ vốn no nê phải làm mướn đặng kiếm ăn, Và người xưa đói đã được no nê.  Người đàn bà vốn son sẻ, sanh sản bảy lần, Còn người có nhiều con, ra yếu mỏn”.

Cụ Hê li lại chúc phước cho mẹ tôi lần thứ hai, và lời đó thành sự thật, “Hê-li chúc phước cho Ên-ca-na và vợ người, rằng: Cầu xin Đức Giê-hô-va ban cho ngươi những con cái bởi người nữ nầy, để đổi lấy đứa mà nàng đã cầu nơi Đức Giê-hô-va! Vợ chồng bèn trở về nhà mình. Đức Giê-hô-va đoái xem An-ne: nàng thọ thai và sanh ba con trai và hai con gái, còn gã trai trẻ Sa-mu-ên khôn lớn trước mặt Đức Giê-hô-va”. Mẹ tôi dám dâng cho Chúa con yêu quý, hiếm muộn là tôi, nên Chúa bù đắp cho bà năm con trai gái khác. Ngợi khen Chúa.

Trong bài thơ nầy, đối thủ của mẹ tôi là kế mẫu của tôi. Kế mẫu tiêu biểu cho loại người thù nghịch, kẻ xấc xược, người dõng sĩ, là kẻ ác, là người chống Đức Chúa Trời. Sau khi mẹ tôi qua đời lâu rồi và khi đã trưởng thành, tôi suy nghiệm ra rằng dường như mẹ tôi được cảm thúc của Đức Thánh Linh nói lên rằng kế mẫu tôi có cuộc sống như muông sói cắn xé anh em mình, dường như loại người như kế mẫu của tôi không phải là con cái chân thật của Chúa. Vì chiên có bao giờ cắn xé chiên cùng bầy, chỉ chó sói mà thôi, phải không các bạn?

Tôi bị sốc mạnh với những lời nói nầy của thân mẫu tôi khi tôi suy gẫm vào tuổi trưởng thành: “Vừa khi dứt sữa, nàng bèn dẫn nó theo mình đến đền của Đức  Giê-hô-va tại Si-lô, cùng đem theo ba con bò đực, một ê-pha bột mì, và một bầu rượu. Đứa trẻ hãy còn nhỏ lắm. Họ giết con bò đực, rồi dẫn đứa trẻ đến Hê-li. Nàng bèn nói cùng người rằng: Xin lỗi, chúa! Xưa có người đàn bà đứng tại đây, gần bên ông, đặng cầu khẩn Đức Giê-hô-va; tôi chỉ sanh mạng ông  mà thề rằng tôi là người đó. Ấy vì đứa trẻ nầy mà tôi cầu nguyện. Đức Giê-hô-va đã nhậm lời tôi đã cầu xin cùng Ngài. Vì vậy, tôi cũng dâng nó cho Đức Giê-hô-va; tôi cho Đức  Giê-hô-va mượn nó trọn đời nó. Đoạn mẹ con đều thờ lạy tại đó trước mặt Đức  Giê-hô-va” (1 Sa. 1:24-28).

 Đây là  một câu Kinh bị dịch sai rất nhiều trong tiếng Việt. “And also I have lent him to Jehovah: all the days that he lives, he is lent to Jehovah”. Bản TKTC dịch chính xác, “Vì vậy, tôi cũng đã cho Đức GIA-VÊ mượn nó, hễ khi nào nó còn sống, thì nó được cho Đức GIA-VÊ mượn".

Tôi nhớ đến Y-sác là con độc sanh, con thừa tự của cụ tổ Áp-ra-ham, Y-sác đã được bú vú mẹ hả hê, mãi 2 năm mới bỏ bú mẹ và chịu dứt sữa. Còn với tôi, là con cầu tự, thì mẹ tôi đã tự chủ động cai sữa tôi khi thôi nôi, mà lúc ấy tôi còn ham thích bú sữa lắm.

 Lời mẹ tôi nói với thượng tế Hê li, tôi vẫn còn nhớ rành mạch, “tôi cũng đã cho Đức GIA-VÊ mượn nó, hễ khi nào nó còn sống, thì nó được cho Đức GIA-VÊ mượn’. Con đầu lòng phải dâng cho Chúa là đúng, nhưng tại sao bà nói thêm câu: “tôi cho Đức  Giê-hô-va mượn nó trọn đời nó”? Chúa thiếu thốn điều gì mà bà phải cho Ngài vay mượn? Bà ăn nói lộng ngôn sao? Mãi sau khi hai con trai cụ Hê-li, hai vị phó tế, tử trận trong một ngày tang thương của xứ thánh, tôi mới hiểu ra ý nghĩa câu nói nầy của mẹ tôi.

Bà lên đền tạm hàng năm nên ý thức rõ rằng quân số người hầu việc Chúa tại Si-lô, cách chân chính, thánh khiết, công nghĩa rất hiếm. Quân số của Chúa thiếu hụt trầm trọng, nên bà muốn tôi được bổ sung vào lực lượng người hầu việc Chúa qua cánh cửa bên hông—con đường Na-xi-rê. Từ đó tôi nhận được sự khải thị sáng tỏ của Chúa về phương danh của Ngài là Jehovah Sabaoth—Đức Jehovah vạn quân, mà tôi đã ghi ra ở đầu tác phẩm của tôi. (1 Sa mu ên 1: 3). Danh Jehovah vạn quân được biết đến trong dân Israel kể từ thời đó. Và tôi là một chiến sĩ  tư tế trong cơ binh của Ngài.

 Tôi xin nhắc lại, khi vừa thôi nôi, mẹ tôi đã đem tôi lên đền thánh và sống ở đó, được các thầy tế lễ nuôi dưỡng. Khi tôi được 10 tuổi, có một ngày trọng đại đã xảy ra, khi hòm giao ước lọt vào tay quân Phi-li-tin, hai vị phó tế tử trận trên chiến trường và cụ cố đạo của tôi, thượng tế Hê-li cũng từ trần trong cùng một ngày. Chiều hôm đó, vợ của một phó tế  cũng qua đời sau khi chuyển dạ sinh con trai, được đặt tên là Y-ca-bốt. Ngày đoạn trường đó hằn sâu trong tâm khảm của tôi  khiến tôi trằn trọc nhiều đêm khi suy nghĩ về tiền đồ của dân tộc mình.

 Hai mươi năm sau 1 Sa 7:2-17), tôi được 30 tuổi, là tuổi tôi chính thức được công nhận  một thầy tế lễ được phép phục sự Chúa. Tuyển dân đã thương nhớ hòm giao ước, đó là lúc tôi bước ra hiện trường nhà Chúa cách công khai, vì đoàn tư tế chính quy tại Si-lô nhu nhược thuộc linh, không đủ khả năng lãnh đạo dân tộc. Mấy năm qua Chúa ban cho tôi nhiều lời khải thị, nên dần dần dân Chúa từ Đan cho đến Bê-e sê-ba nhìn nhận tôi là tiên tri phát ngôn thay cho Chúa, và thầy tế lễ ban Na-xi- rê, làm thầy tế lễ tạm ứng, có thể  bổ túc công việc dâng tế lễ cho đoàn tư tế tại Si-lô. Tôi không được phép làm thầy tế của Chúa trong đền thánh Si-lô, chỉ thỉnh thoảng dâng tế lễ ở những nơi cách xa đền thánh Si-lô, cặp theo chức vụ quan xét của tôi mà thôi..

Vào năm tôi 30 tuổi, tôi hiệu triệu dân chúng nhóm họp tại Mích ba, ăn năn xưng tội mình, tôi dâng sinh tế ngoài trời cầu thay cho họ. Quân Phi-li-tin ghét khi dân Chúa tập trung liên kết lại, nên chúng xông đánh, mong phá tan sự đoàn kết của nhà Chúa. Tôi cầu nguyện và Chúa làm sấm sét nổ xuống trên chúng, khiến chúng vừa bị chết, bị thương tích và sợ hãi thua chạy. Dân Chúa thừa thắng xông lên đánh đuổi chúng ra khỏi bờ cõi. Sự kiện đó được ghi nhớ bởi khối đá mà tôi đặt tên là Ê-bên Ê-xe. Ngày đó là ngày chức vụ quan xét của tôi được toàn dân nhìn nhận. Tôi chủ yếu thi hành chức vụ quan xét, tuần tra các thành phố như Bê-tên, Ghinh-ganh, Mích-ba, Ra ma , và nói ra cho dân chúng biết ý muốn cập nhật của Chúa qua chức vụ tiên tri, như xức dầu Sau-lơ lên ngôi vua, và xức dầu cho Đa-vít làm vua dự bị..

Suốt 40 năm chức vụ quan xét cặp theo chức tiên tri, tôi đi tuần hành các thành phố và giải quyết rất nhiền nan đề tố tụng giữa dân Chúa và chế ngự dân Phi-li-tin suốt cuộc đời của mình bằng lời cầu nguyện thâu đêm, chớ không do trận đánh nào cả. Khi tôi đến Bết-lê-hem xức dầu cho Đa-vít, thì các trưởng lão thành ấy run lập cập khi thấy tôi đến (1 Sa. 16:1). Họ run sợ vinh quang của Chúa tỏa sáng trong tôi, chớ tôi có đáng gì để họ sợ chứ?

Tôi hầu việc Chúa như vậy trong 40 năm, đến năm 70 tuổi, Chúa bảo tôi lập Sau-lơ lên làm vua, thay thế cho chức vụ quan xét. Tôi hưu trí và trở về Ra ma, và viết ra hồi ức nầy.

--Ưu điểm: được sống gần gũi đền thánh 30 năm nên tôi có cơ hội học chữ viết, và thường xuyên đọc sách Ngũ kinh Môi se và sách Giô suê., hơn rất nhiều người khác.

 Tôi phải thành thật nói rằng tôi không ăn hối lội, không lợi dụng ai về tiền bạc, không bắt bò lừa của ai hay hiếp đáp người nào, hay cắn xé bắt cứ ai trong dân của Chúa {1 Sa. 12:2-4)

--Đương nhiên tôi không có quyền lập hai con trai của tôi làm thầy tế lễ, nhưng tôi đã sai  lầm là lập hai con mình làm quan xét. Vì tôi không hiểu rằng vì hai đứa con nầy không có chức vụ cầu nguyện và tiếp nhận được lời khải thị của Chúa như tôi được, nênchúng mãi mãi không bao giở có thể làm quan xét, làm mục tử trên dân Chúa nổi.-

-

Tâm Sự Của Tiên Tri Sa-mu-ên—

-

Tôi sinh ra trong thời nhiễu loạn,

Hội mạc Chúa hoang loạn điêu tàn,

Cụ Hê li đôi mắt đã làng,

Đoàn tư tế buông lung sa bại,

Sinh tế Chúa bất kỉnh chộp lấy,

Phạm gian dâm với nữ thánh đồ,

Chúa tuyên án giết kẻ ô dơ,

Thao túng hội mạc vì tư lợi,

Chúa sẽ đưa người được chọn tới,

Đem vương quốc hiển lộ trên đời,

Thánh dân sẽ thỏa mãn nghỉ ngơi.

 --Sa-mu-ên March, 16-2021

-

 Tôi là Barzillai  cũng có vài lời nhận xét như sau:

-

Lời Sa-mu-ên còn ứng nghiệm

Khải thị trong đời nầy thật hiếm,

Lời sấm ngôn nào thấy giảng rao,

Giáo lí, văn tự quá dồi dào,

Trong nhà Chúa thật là hoang loạn,

Đoàn tư tế lạm dụng quyền hạn,

Ăn trên, ngồi trước cả thánh dân,

Đặt quy luật thay thế kinh văn,

Sửa đường lối Chúa trong hội thánh,

Kìa Chúa đến thật là đáng kính,

Phạt bọn người say rượu hôm nay,

Đã u mê tàn phá nhà Ngài,

Bạn ơi, hãy bình tâm tỉnh thức,

Chúa sẽ đến trong ngày gần nhứt,

Hãy đứng dậy mừng chào đón Ngài

Và tham dự nước Chúa nay mai.

Minh Khải

Thứ Bảy, 13 tháng 3, 2021

MỘT SỐ LOẠI ÁC QUỶ HOẠT ĐỘNG TRONG CÁC GIÁO HỘI-


 

MỘT SỐ LOẠI ÁC QUỶ HOẠT ĐỘNG TRONG CÁC GIÁO HỘI-

Trong nguyên ngữ Hê-bơ-rơ và Hi lạp, hai từ ngữ đồng nghĩa là Ruach và Pneuma có thể được dịch là: hơi thở, linh và gió. Có ba loại linh: Đức Thánh Linh (Chúa), nhân linh (của con người) và ác linh (là quỷ).

 Kinh thánh không liệt kê hết các loại ác linh, hay các loại quỷ của sa -tan. Đọc qua kinh thánh tôi nhận diện được một số loại ác quỷ đang hoạt động trong hội thánh ngày nay như sau. Tôi không muốn đề cập các loại quỷ nầy cũng đang hoạt động trong thế giới loài người vô tín.

Chính Chúa Giê-su xác nhận có nhiều loại ác linh trong dân thánh của Ngài như sau:

--Lu ca 9: 55 “Nhưng Chúa Jêsus xây lại trách họ mà rằng: “Các ngươi không biết mình do linh cảm nào”. Câu “linh cảm nào” nầy có nghĩa “what sort of spirit”. Chúa ngụ ý loại ác linh nào đang hành động trong các ngươi khiến các ngươi đã nói năng như vậy, khi các ngươi muốn tiêu diệt dân Sa-ma-ri.

-- Lucifer (sa-tan) và các thiên sứ ác, sa ngã, đã theo hắn, tất cả cũng là linh, là quỷ. Các quỷ nhỏ (demons, xem Mác 5:9) là quân đội quỷ cũng là các ác linh nhỏ.

--Hê-bơ rơ 1:7, “Đức Chúa Trời làm cho thiên sứ Ngài như gió”- “Who maketh his angels spirits”. Chữ “gió” (Pneuma)  ở dạng số nhiều, có thể dịch là “các linh”, nhưng không thể dịch là “quỷ”, vì họ là các thiên sứ không sa ngã, thiên sứ thánh.

Lu ca 22: 43, “Có một thiên sứ từ trên trời hiện đến, thêm sức cho Ngài. Như vậy các thiên sứ thánh hay thiên sứ ác đều có thể thêm sức cho loài người. Các quỷ có thể hà hơi, thúc đẩy con người làm những điều ác độc của nó.

1.    Linh Nói Dối:  

1 Các vua 22:21-22, “Bấy giờ, có một thần ra đứng trước mặt Đức Giê-hô-va mà thưa rằng: Tôi sẽ đi dụ người. Đức Giê-hô-va phán hỏi hắn rằng: Dụ cách nào?  Hắn thưa lại rằng: Tôi sẽ đi và làm một thần nói dối trong miệng những tiên tri của người. Đức Giê-hô-va phán rằng: Phải, ngươi sẽ dụ người được. Hãy đi và làm như ngươi đã nói”.

 Theo nguyên ngữ Hê-bơ-rơ thì hai chữ “thần” trong hai câu ”có một thần ra đứng trước mặt Đức Giê-hô-va” và “một thần nói dối” đều là chữ “ruach”, nên cần được dịch là linh.

Rất nhiều linh nói dối đang hành động và sử dụng môi miệng nhiều mục tử, giảng sư, giáo sự trong các loại giáo hội, các hệ phái tà giáo, để rao giảng những lời dối gạt.

 Thí dụ, giáo chủ giáo hội kia dạy, chỉ có một chức vụ giảng lời duy nhất là chức vụ của ông. Rô ma 15: 6 nói đến “một miệng” thì ông ám chỉ cái miệng đó là chức vụ duy nhất và cuối cùng của ông. Dân Chúa không cần nghiên cứu Kinh thánh, chỉ đọc sách ông là được. Mọi người không nên đọc sách các tác giả khác. Mọi người phải tuyệt đối vâng phục lời chức vụ ông, và không được có ý kiến nào khác. Mọi địa phương trên cả trái đất phải bắt buộc thống nhất hóa thành một Thân Thể, một Dòng Chảy, một Người Mới sống dưới sự trị vì của ban đồng công tổng hội bề trên.

2.    Ác Linh:

Các quan xét 9:23, “Đoạn, Đức Chúa Trời sai đến một ác thần sanh sự bất bình giữa A-bi-mê-léc và người Si-chem; người Si-chem bèn phản nghịch A-bi-mê-léc”. Trong nguyên ngữ “một ác thần” là “an evil spirit”. Ác linh nầy hành động trong vua A-bi mê-léc và dân thành Si-chem để cả hai thù ghét và tàn sát lẫn nhau, hầu qua đó Chúa phán xét việc gian ác của cả hai khi họ đã giết 70 con trai của ông quan xét Ghi-đê-ôn.

Tại sao đã và đang  có các cuộc tàn sát giữa các hệ phái Tin lành, các cuộc chiến đẫm máu kẻ vô tội để giành quyền Tổng quản nhiệm trong một hệ phái nào đó, thậm chí trong giáo hội tự xưng mình là Phi-la-đen-phi, tình yêu thương huynh đệ?

“Nhưng nếu đầy tớ ác kia thầm nói rằng: 'Chủ ta đến chậm,'  bèn đánh bạn đồng công”  Bạn có tin rằng lời của Chúa Giê-su trên đây đã vẫn còn xảy ra nhan nhản theo nghĩa đen trong mọi loại hệ phái Tin lành hay không?

Ma-thi-ơ 7:15 TKTC,"Hãy coi chừng các tiên-tri giả, là những kẻ đến cùng các ngươi trong áo chiên, nhưng bề trong là chó sói tham mồi”. Chữ “tham mồi” có bản khác dịch là “cắn xé, tham tàn”. Chiên không bao giờ cắn xé chiên, chỉ có chó sói, có thể là ngươi vô tin mạo làm tín đồ mới cắn xé chiên hiền lành.

 Ga-la-ti 5:15 TKTC, “Nhưng nếu anh em cắn và nuốt lẫn nhau, coi chừng anh em ngốn lẫn nhau”. Bản khác dịch, “Nhưng nếu anh chị em cắn xé và ăn nuốt nhau, hãy coi chừng, kẻo anh chị em tiêu diệt lẫn nhau”.

Kinh thánh mô tả về linh sát nhân, về quỷ cắn nuốt nhau trong hội thánh ngày nay như vậy

3.    Linh Ghen Tị

--1 Sa-mu-ên 16:14-15, “Linh của Đức Giê-hô-va lìa khỏi Sau-lơ; Đức Giê-hô-va bèn  khiến một ác linh (evil spirit) khuấy rối người.  Tôi tớ của Sau-lơ nói cùng người rằng: Nầy có một ác linh mà Đức Chúa Trời khiến đến khuấy rối vua.  Xin chúa chúng tôi hãy biểu những tôi tớ đứng chầu chúa tìm một người biết gảy đàn, để khi nào Đức Chúa Trời sai ác linh đến với chúa, thì người  đó sẽ gảy đàn, và chúa sẽ được lành mạnh (well).

- 1 Sa-mu-ên 18: 9- 11Kể từ ngày ấy, Sau-lơ thường ngó Đa-vít cách giận.  Ngày mai, ác linh bởi Đức Chúa Trời khiến nhập vào Sau-lơ;  người có cơn sốt hoảng trong đền mình, thì Đa-vít gảy đàn như những ngày khác. Sau-lơ cầm một cây giáo nơi tay,  bèn phóng Đa-vít, mà rằng: Ta sẽ đóng đinh nó nơi vách. Nhưng Đa-vít tránh hai lần khỏi mũi giáo”

“Ngó Đa-vít cách giận” nguyên ngữ là “ngó cách ghen tị”.

“Ác linh từ Đức Chúa Trời khiến nhập vào Sau-lơ” = “the evil spirit from God came upon Saul”. Ác linh nầy từ Chúa đến, vì nó vốn là thiên sứ ác, thiên sứ sa ngã do Chúa sáng tạo trước kia, mà Chúa cho phép giày vò vua Sau-lơ, con cái thật của Ngài. Chúa không sai ác linh đến với Sau-lơ, nhưng một khi Linh của Chúa lìa khỏi ông, thì lòng Sau lơ như căn nhà  trống, nên đương nhiên quỷ, hay ác linh sẽ tự nhiên tìm đến để ở mà thôi.

Bạn có nhìn thấy cặp mắt của những Cơ đốc nhân ác độc long lên nhìn đối thủ, khi anh ta nổi giận, hay ghen tị  không? Có ai đang săn đuổi mạng sống, thì giờ của bạn trong khi bạn hầu việc Chúa hôm nay không? Vì ác linh tạo sự thù ghét ganh tị trong lòng họ đối với bạn đó.

4.    Linh Bói Khoa:

Công vụ 16: 16-18 ”Một ngày kia, chúng ta đi cầu nguyện, gặp một đứa đầy tớ gái bị quỉ Phi-tôn ám vào, hay bói khoa, làm lợi lớn cho chủ nó.  Nó theo Phao-lô và chúng ta, mà kêu la rằng: Những người đó  là đầy tớ của Đức Chúa Trời Rất Cao, rao truyền cho các ngươi đạo cứu rỗi.  Trong nhiều ngày nó cứ làm vậy, nhưng Phao-lô lấy làm cực lòng, xây lại nói cùng quỉ rằng:Ta nhân danh Đức Chúa Jêsus Christ mà truyền mầy ra khỏi người đàn bà nầy.Chính giờ đó, quỉ liền ra khỏi”.

Trong nguyên ngữ thành ngữ “quỷ Phi-tôn” là “spirit of puthon” có nghĩa he supposed diviner there) inspiration (soothsaying): - divination.. Là loại tà linh, hay quỷ cảm thúc nạn nhân làm người bói toán, người nói tiên tri, người đoán trước số mệnh. Quỷ bói khoa ở đây đã nói rất chính xác câu: “Những người đó  là đầy tớ của Đức Chúa Trời Rất Cao, rao truyền cho các ngươi đạo cứu rỗi”.

Vậy tại sao Phao-lô đuổi nó ra, không cho nó nói nữa hay giảng phụ cho ông?

 Mác 1:34, “Ngài chữa lành nhiều kẻ đau các thứ bịnh, và đuổi nhiều quỉ, chẳng cho phép các quỉ nói ra, vì chúng nó biết Ngài”

Lu ca 4: 40-41 “Cũng có các quỉ ra khỏi nhiều kẻ, mà kêu lên rằng: Ngài là Đấng Christ, Con  Đức Chúa Trời! Nhưng Ngài quở nặng chúng nó, cấm không cho nói mình biết Ngài là Đấng Christ.”

 Chúa cấm quỷ rao giảng Chúa ra, ngụ ý có nhiều người chưa tái sinh giảng đạo bằng sự cảm thúc hà hơi của quỷ, Chúa không chấp nhận. Hoặc khi tín đồ chân thật nào giảng theo cảm thúc của quỷ, Chúa cũng phản đối

Còn một điểm nữa về quỷ bói khoa, quỷ tiên đoán, là có nhiều mục tử giảng sư, nhà giải kinh đã từng tiên đoán về ngày tháng nào đó toàn bộ các hội  thánh sẽ được cất lên, họ nhiều lần đoán ngày Chúa Giê-su tái lâm, nhưng những  ngày tháng tái lâm đó không xảy ra. Họ đang giảng rằng vào ngày đầu của hiệp ước hoà bình Trung Đông, toàn thể Hội thánh Tin lành sẽ được cất lên trời, trong khi Khải 12 và 13 nói rằng Hội thánh còn ở lại, bị Antichrist bắt bớ, giam cầm, giết chết và chạy trốn. Khi tôi nghe nhiều bài giảng lời tiên tri do một số mục tử giảng, tôi biết ngay họ được linh bói khoa cảm thúc, nên bóp méo lời Kinh thánh.

5.    Tà Linh

1 Ti-mô thê 4: 1-2 “Vả, Thánh Linh phán tỏ tường rằng, trong thời kỳ sau rốt có kẻ sẽ bội đạo mà nghe theo các tà linh dẫn dụ và giáo lý của các quỷ, do sự giả hình của người nói dối, là kẻ có lương tâm chai lì, cấm cưới gả, biểu kiêng cữ các thức ăn…”

 Thành ngữ “tà linh dẫn dụ”. Theo nguyên ngữ, chữ “tà” là planos, dịch là roving (lưu động) (as a tramp—kẻ lang thang), that is,) an impostor (kẻ lừa đảo) or misleader (kẻ làm cho lạc lối): - deceiver (kẻ lừa gạt), seducing (dụ dỗ).

 Có rất nhiều tác giả, tổng quản nhiệm, giáo chủ, đã bị tà linh lừa đảo, hà hơi, xúi giục để giảng ra những hệ thống thần học như bác bỏ thần vị Đức Chúa Trời của Chúa Giê su. Họ giảm hạ giá trị của Tân ước, giảm thiểu hiệu quả sự chuộc tội của Đấng Christ trên thập tự giá. Họ dạy phải tuân giữ luật pháp cựu ước như nhóm họp vào ngày sa bát (thứ bảy), giữ chế độ cấm ăn thú vật không tinh sạch như cấm ăn thịt heo, không uống nước trà mà chỉ uống nước dừa. Họ giảng rằng nếu chỉ tin công việc cứu chuộc của Chúa Giê-su trên thập tự giá thì không được cứu. Ai nhóm họp ngày Chúa nhật sẽ bị ném vào hồ lửa.

Kẻ khác nói dối với dân Chúa khi dạy rằng chỉ có một ngôi của Đức Chúa Trời, hay dạy dối trá là không cần ăn năn tội lỗi.

--"Giáo lý của các quỷ” như:  cần thuận phục Chúa tuyệt đối, không suy nghĩ, không tư tưởng để Linh Chúa giáng vào mình. Mình cần thụ động tâm trí, cầu nguyện bằng tiếng lạ vô nghĩa, độc âm, không cần lời thông dịch, hầu mình trở thành vĩ nhân thuộc linh, vượt trên mọi người trong giáo hội. Có rất nhiều giáo lý của các quỷ, trái ngược lời Kinh thánh. Các giáo lí ấy đang được giảng ra  bằng nhiều phương  tiện truyền thông, với mục đích dẫn dụ con dân Chúa đi theo lối sai lạc. Châm ngôn 21:16 “Người lầm lạc xa đường khôn sáng sẽ ở với hội kẻ chết”.

Kết luận:

Ngày nay, Linh của Đức Chúa Trời đã trở thành Linh ban sự sống (1 Cor. 15:45), thành Bảy Linh ( Khải huyền 4: 5; 5:6). Nhân linh là tâm linh con người cần được đầy dẫy Linh của Chúa thánh (Ê-phê-sô 5:18) hoặc bị đầy dẫy linh của các quỷ-  Công vụ 5: 3  Phi-e-rơ bèn nói rằng: “Hỡi A-na-nia, sao Sa-tan đã đầy dẫy lòng ngươi?”. Giăng 13:27 “Sau khi ăn miếng bánh ấy rồi, thì Sa-tan nhập vào người. Jêsus bèn phán cùng người rằng: “Việc ngươi làm hãy làm mau đi”.

 Người vô tín là con cái sự bội nghịch, nên họ đang bị “tà linh hiện đang hành động trong” họ là lẽ tự nhiên (Ê-phê-sô 2: 2). Điều tôi muốn nói là tâm linh của tín đồ, thay gì được đầy dẫy Thánh Linh lại nhường chỗ cho các quỷ, đầu phục chúng cách đui mù, là thụ động tâm trí cho chúng nhập vào qua hình thức nói tiếng lạ vô nghĩa, độc âm, do đó trở thành dụng cụ, trở nên phát ngôn nhân rao giảng những giáo lí của các quỷ. Kết quả con dân Chúa nói chung bị các lời rao giảng lừa đối, lời dạy dỗ dối trá  dẫn dụ vào con đưởng sai lầm, và cùng nhau cư trú trong “hội kẻ chết”. Xin Chúa cứu chúng ta. A men.

Khải Đạo- March 13-2021

 

 

 

 

 

Thứ Ba, 9 tháng 3, 2021

BIẾT ƠN NGƯỜi KHAI THÁC KINH THÁNH-


 

BIẾT ƠN NGƯỜi KHAI THÁC KINH THÁNH-

Hê-bơ-rơ 13:7, “Anh chị em hãy nhớ những người hướng dẫn, đã truyền lời Chúa cho mình, hãy chú ý xem kết cuộc nếp sống của họ và học hỏi đức tin của họ”.

-

Tín-lí Thánh kinh như bửu vật,

Chúa cho ta đem cất lòng mình,

Cám ơn dân thánh chân tình,

Anh em công khó hi sinh ban truyền.

-

Họ đã đào bới chuyên sâu đó,

Trung tín tìm tòi chỗ tư riêng,

Ân ban cao quý thuộc thiên,

Thu nhiều bửu vật thường xuyên ban người.

-

Khi hưởng bửu vật tôi luôn nhớ,

Những con người chịu khó vì tôi,

Truy tìm, khai thác trong Lời,

Ân ban làm trí lòng vui vô cùng.

-

Về bửu vật lạ lùng Chúa cấp,

Tôi ca ngợi Chúa lập những người,

Có tài dạy dỗ tuyệt vời,

Truyền ban ân phước cho người biết ơn.

Barzillai Đặng, March 9, 2021