Sự xức dầu này cũng dạy chúng ta cách đối xử với người khác.
Chúng ta đừng nên chỉ trích một người, nhưng chúng ta phải nhận biết
người ấy cách xác định để học cách kết hợp với người ấy hoặc giúp đỡ. Để làm
được điều này thì người ta thường kiểm tra người khác bằng cách quan sát và
nghiên cứu người ấy. Nhưng điều này thường dẫn chúng ta đi sai đường. Chúng ta
không nói rằng điều này hoàn toàn vô ích, nhưng đó chỉ là thứ yếu. Một linh
thuần khiết thường có sự biện biệt đúng đắn. Một số người trong chúng ta có thể
nhớ lại rằng khi còn nhỏ, chúng ta thường có thể có những sự quả quyết chính
xác về những người chúng ta nhìn thấy. Thời gian qua dần, tri thức, kinh nghiệm
và khả năng quan sát của chúng ta đều gia tăng nhưng khả năng nhận biết người khác
của chúng ta dường như không tốt hơn trước. Vào lúc đó, chúng ta không biết tại
sao mình lại có những sự quả quyết như vậy; một điều gì đó dường như có trong
lòng chúng ta nhưng chúng ta lại không thể thốt ra thành lời. Thời gian qua dần
và mọi sự đều thay đổi. Bây giờ sự thật đã chứng minh rằng “cảm nhận” của chúng
ta là đúng. Chúng ta không có các sự quả quyết đó bởi khai thác từ các cuộc
điều tra và thẩm vấn; chúng ta thậm chí cũng không thể đưa ra bất cứ bằng chứng
hoặc lý do nào cho các sự quả quyết của mình. Đây là công tác của một trực giác
thuần khiết mặc dù điều đó vẫn còn là thiên nhiên. Tuy nhiên, Chúa muốn chúng
ta đánh giá những điều của Đức Chúa Trời theo cùng một cách. Linh chúng ta phải
được hoán cải và chúng ta phải trở nên con trẻ. Chỉ khi đó, chúng ta mới có tri
thức sáng tỏ về Đức Chúa Trời.
Chúng ta hãy nhìn vào nếp sống của Chúa Jesus. “Và lập tức, trong linh
Ngài, Jesus hoàn toàn biết rằng họ đang biện luận bên trong như vậy, nên đã nói
với họ…” (Mark 2:8). Câu này bày tỏ cho chúng ta sự vận hành của trực giác. Lời
kinh thánh không nói rằng Chúa Jesus có một tư tưởng hoặc một cảm nhận trong
lòng Ngài, cũng không nói rằng Thánh Linh nói với Ngài như vậy. Quan năng của
linh Ngài biểu minh khả năng hoàn hảo của nó.
Cảm thức của linh trong con người Jesus Christ rất thuần khiết, sắc bén
và được tôn cao; Ngài nhận biết trong linh Ngài các lập luận của những người
xung quanh. Sau đó Ngài phát ngôn với họ theo điều Ngài đã lĩnh hội trong trực
giác của Ngài. Đây phải là nếp sống thuộc linh bình thường của mọi người thuộc
linh. Thánh Linh cư trú trong linh chúng ta; Ngài làm cho linh chúng ta có khả
năng hoàn toàn vận hành và đầy quyền năng nhận biết. Theo cách này, Ngài điều
chỉnh toàn bản thể chúng ta. Giống như nhân linh của Chúa Jesus công tác khi
Ngài ở trên đất, linh chúng ta cũng phải công tác qua Thánh Linh là Đấng nội cư
bên trong chúng ta.
SỰ KHẢI THỊ
Tri thức về các sự vật qua trực giác là điều mà Kinh Thánh gọi là sự
khải thị. Sự khải thị không gì khác hơn là Thánh Linh khải thị thực tại của một
vấn đề trong linh của một tín đồ và khiến người ấy nhận biết vấn đề đó. Chỉ có
một loại tri thức này, về Kinh Thánh hay về Đức Chúa Trời, là đáng giá; đó là
lẽ thật được Thánh Linh khải thị trong linh chúng ta. Đức Chúa Trời không giải
thích Ngài là những gì, cho trí năng của con người một lần đủ cả và con người
cũng không thể nhận biết Đức Chúa Trời một lần đủ cả qua trí năng của mình. Bất
kể trí năng của con người khôn ngoan đến đâu và bất kể người ấy hiểu Đức Chúa
Trời bao nhiêu, thì sự hiểu biết của người ấy luôn luôn bị che màn. Người ấy
chỉ có thể suy luận bằng trí năng của mình đằng sau bức màn; ở phia sau bức
màn, người ấy không thấy được sự thật. Người ấy chưa “thấy” nên chỉ có thể
“hiểu” chứ không “biết”. Nếu nếp sống Cơ Đốc không phải là một sự khải thị - sự
khải thị riêng tư – thì nó chẳng có chút giá trị nào cả. Mọi người tin Đức Chúa
Trời phải nhận được sự khải thị của Ngài trong linh mình; nếu không thì người
ấy chỉ tin vào sự khôn ngoan, ý kiến và lời loài người chứ không phải vào chính
Đức Chúa Trời. Loại đức tin này sẽ không đứng vững trong các thời kỳ cám dỗ.
Khải thị không phải là khải tượng, không phải là tiếng nói từ trời,
giấc mơ hay quyền năng bên ngoài làm rung lắc thân thể một người. Mọi điều này
có thể xảy đến với một mà người ấy vẫn không nhận được bất kỳ sự khải thị nào.
Sự khải thị là một điều gì đó ở trong trực giác; nó yên lặng, không chậm cũng
không nhanh; nó có vẻ như là một tiếng nói nhưng không phải là tiếng nói. Nhiều
người tự nhận là Cơ Đốc nhân nhưng điều họ tin chỉ là triết lý loài người, đạo
đức, các chi tiết lẽ thật, hoặc một số chuyện siêu nhiên. Việc tin vào những
điều này sẽ không đem đến một sự sinh ra mới; nó sẽ không ban cho con người một
linh mới. Mặc dù loại “Cơ Đốc nhân” này ngày nay có rất nhiều, nhưng sự hữu
dụng thuộc linh của họ hoàn toàn bằng không. Đức Chúa Trời ban ân điển cho mọi
người chấp nhận Đấng Christ và khiến họ nhìn thấy trong linh thực tại của lĩnh
vực thuộc linh như thể một bức màn được cất đi khỏi họ vậy. Sau đó, điều họ
nhận biết sẽ sâu hơn điều họ hiểu biết trong tâm trí mình. Những điều họ hiểu
biết và lĩnh hội trong quá khứ dường như có một ý nghĩa mới. Mọi sự đều trong
suốt và được biết chắc vì họ đã “ thấy” điều đó trong linh. “Chúng ta phát ngôn
điều chúng ta biết và làm chứng về điều chúng ta đã thấy” (John 3:11). Đây là
nếp sống Cơ Đốc. Sự theo đuổi trong tâm trí sẽ chẳng bao giờ cứu được người
khác; chỉ có sự khải thị trong linh mới ban cho con người tri thức đích thực về
Đức Chúa Trời.
SỰ SỐNG ĐỜI ĐỜI
Ngày nay, nhiều người nói về sự sống đời đời qua đức tin. Nhưng sự sống
đời đời mà chúng ta nhận được là gì? Mặc dù điều đó cũng chỉ về các phước hạnh
trong tương lai, nhưng sự sống đời đời nghĩa là gì ngày hôm nay? “Và đây là sự
sống đời đời, để họ có thể biết Ngài, Đức Chúa Trời chân thật duy nhất, và Đấng
mà Ngài sai đến là Jesus Christ” (John 17:3). Sự sống đời đời trong thời đại
này là khả năng nhận biết Đức Chúa Trời và Chúa Jesus. Điều này rất thực tế.
Nói rằng mọi người tin Chúa đều nhận được sự sống đời đời nghĩa là người ấy
nhận được tri thức trong trực giác về Đức Chúa Trời, điều mà trước đây người ấy
không có. “Sự sống đời đời qua đức tin” không phải là một khẩn hiệu. Đúng hơn,
điều đó có thể được chứng thực trong thời đại này. Những người không có sự sống
này – sự sống đời đời – có thể suy diễn nhiều điều về Đức Chúa Trời. Chỉ sau
khi có được sự sống mới này và được tái sanh, một người mới có thể thật sự biết
Đức Chúa Trời qua trực giác của mình. Người ấy có thể hiểu Kinh Thánh, nhưng
linh người ấy vẫn chết. Người ấy có thể quen thuộc thần học nhưng vẫn chưa được
tái sanh trong linh. Người ấy có thể nhiệt thành phục vụ “trong danh Chúa”; tuy
nhiên, không có sự tái sanh của sự sống mới trong linh người ấy. Kinh Thánh bảo
chúng ta rằng con người không thể tìm thấy Đức Chúa Trời bởi sự tra xem (Job
11:7). Mọi sự được thực hiện qua tâm trí không thể đem chúng ta đến với trí
thức về Đức Chúa Trời. Ngoài linh ra thì con người không thể nhận biết Đức Chúa
Trời; con người không thể nhận biết Đức Chúa Trời bằng trí năng của mình. Trong
Kinh Thánh, chúng ta chỉ thấy một loại tri thức: trực giác trong linh.
SỰ HƯỚNG DẪN
ĐÚNG ĐẮN
Các tín đồ không chỉ phải tiếp nhận tri thức trong trực giác qua linh
mà họ còn phải tiếp tục như vậy mọi lúc. Trong nếp sống Cơ Đốc, ngoài sự khải
thị mà một người nhận được trong trực giác của mình ra thì không điều gì khác
có ý nghĩa thuộc linh vì những điều khác không ra từ linh. Vì không ra từ linh
nên những điều đó không phải là ý muốn của Đức Chúa Trời; Đức Chúa Trời chỉ
khải thị những điều liên quan đến ý muốn của Ngài cho chúng ta trong linh. Bất
cứ điều gì chúng ta nghĩ, yêu thích và quyết định ngoài sự khải thị của linh,
đều là chết chóc trong mắt Đức Chúa Trời. Một tín đồ có thể hành động theo các
ý tưởng đột ngột, các ý kiến xuất hiện sau một sự cầu nguyện, cái gọi là sự
nóng chảy trong lòng, các khuynh hướng thiên nhiên, các lý do vững chắc, hoặc
các sự xét đoán hợp lý. Mọi điều này chỉ là các hoạt động của người cũ. Ý muốn
của Đức Chúa Trời sẽ không được tỏ ra qua các tư tưởng, cảm nhận hoặc sự yêu
thích như vậy. Đức Chúa Trời chỉ khải thị ý muốn của Ngài trong nhân linh. Bất
cứ điều gì không được khải thị qua linh đều là hoạt động của bản ngã.
Đức Chúa Trời không bao giờ khải thị ý muốn của Ngài cho tâm trí con
người. Sự khải thị là từ Thánh Linh và trong nhân linh. Nhân linh nhận biết và
nhận được ý muốn của Đức Chúa Trời qua trực giác. Qua đó, nó sẽ truyền ý muốn
của Đức Chúa Trời đến tâm trí để có thể hiểu được. Tâm trí là nơi chúng ta có
thể hiểu được ý muốn của Đức Chúa Trời nhưng nó không bao giờ là nguồn của ý
muốn Đức Chúa Trời. Ý muốn của Đức Chúa Trời phát xuất từ Đức Chúa Trời và được
Thánh Linh khải thị cho nhân linh. Rồi linh mới khiến người bên ngoài hiểu biết
qua tâm trí điều mà người bên trong đã nhận biết rồi. Theo cách này, người bên
ngoài sẽ biết cách thực hiện ý muốn của Đức Chúa Trời. Nếu một tín đồ không tìm
kiếm ý muốn của Đức Chúa Trời trong linh mình, nhưng vận dụng tâm trí mình mọi
lúc thì người ấy sẽ luôn bị lạc hướng và không biết bước theo điều gì. Tâm trí
chúng ta thường dao động. Những người bước đi theo tâm trí không một giây phút
nào có thể nói từ lòng mình: “Tôi biết chắc đây là ý muốn của Đức Chúa Trời”.
Chỉ những người nhận được sự khải thị trong linh mới có một sự tin chắc sâu xa;
chỉ những người như vậy mới nhận biết và có sự tin chắc đầy đủ về điều họ đang
làm.
Sự khải thị của Đức Chúa Trời trong linh chúng ta có thể thuộc hai
loại: một là trực tiếp và hai là qua sự tìm kiếm. Sự khải thị trực tiếp xảy ra
khi chính Đức Chúa Trời có ý muốn và Ngài truyền bảo các tín đồ thực hiện điều
đó. Trong trường hợp này, Ngài bước vào trong linh các tín đồ và khải thị ý
muốn của Ngài cho họ. Khi các tín đồ nhận được sự khải thị này trong trực giác
của mình, họ sẽ theo đó mà thực hiện. Sự khải thị đến qua sự tìm kiếm diễn ra khi
một tín đồ có một nhu cầu và không biết phải làm gì; người ấy đến trước mặt Đức
Chúa Trời, chờ đợi và tìm kiếm ý muốn Ngài. Để đáp lại sự tìm kiếm của tín đồ,
Đức Chúa Trời vận hành trong linh người ấy và khải thị cho biết người ấy nên
tiếp tục hay dừng lại. Khi một tín đồ còn non trẻ trong sự sống thuộc linh thì
sự khải thị người ấy nhận được hầu hết là thuộc loại tìm kiếm. Khi trưởng thành
hơn, người ấy sẽ có các sự khải thị trực tiếp. Tuy nhiên, điều này không tuyệt
đối; tôi chỉ có ý nói rằng ban đầu sự tìm kiếm thì điển hình hơn sự khải thị
trực tiếp. Tuy nhiên, đây là nơi hầu hết các tín đồ trẻ gặp khó khăn. Họ cần
dành thời gian chờ đợi trước mặt Chúa và loại bỏ tư tưởng, sự yêu thích và các
ý kiến riêng của mình; tuy nhiên, họ thường từ bỏ việc chờ đợi sự khải thị của
Đức Chúa Trời và thay thế bằng ý muốn riêng của họ. Kết quả là họ thường bị
lương tâm mình kiên cáo. Ngay cả khi họ thật sự ao ước bước theo ý muốn của Đức
Chúa Trời thì họ cũng bước theo các ý tưởng trong tâm trí mình cách ngu dại vì thiếu
tri thức thuộc linh. Bất cứ điều gì được thực hiện mà không có sự khải thị đều
không thể tránh khỏi sự dẫn đến sai lầm.
Bây giờ chúng ta có thể thấy tri thức thuộc linh thật sự là gì. Chỉ có
điều gì được lĩnh hội trong linh mới là tri thức thuộc linh. Bất cứ điều gì
khác hơn điều này thì chỉ là tri thức suông trong tâm trí. Đức Chúa Trời nhận
biết sự vật như thế nào? Ngài xét đoán bởi phương tiện gì? Ngài sử dụng tri
thức gì để quản lý vũ trụ? Ngài có lập luận bằng tâm trí giống như con người
không? Ngài có cần suy gẫm trước khi có thể hiểu không? Ngài có nhận biết bằng
lập luận, lý lẽ hay so sánh không? Ngài có cần điều tra và xem xét trước khi đi
đến kết luận không? Đấng toàn tri cũng cần phải dùng đến trí óc sao? Chắc chắn
là không! Đức Chúa Trời không cần tìm kiếm theo cách này trước khi Ngài biết.
Mọi tri thức và xét đoán của Đức Chúa Trời đều thuộc trực giác. Trực giác là
quan năng của mọi người hoặc mọi hữu thể thuộc linh. Các thiên sứ bước theo ý
muốn của Đức Chúa Trời bởi nhận biết điều đó trong trực giác. Họ không xác định
điều đó bằng lý lẽ, lập luận hay suy nghĩ. Sự khác biệt giữa việc hiểu ý muốn
của Đức Chúa Trời bằng tâm trí với bằng trực giác thì không đo lường được. Sự
thành công hoặc thất bại thuộc linh tùy thuộc vào sự biện biệt này. Nếu cách cư
xử và công tác của các tín đồ dựa trên sự hợp lý, lập luận và sự hiểu biết theo
lẽ thường, thì sẽ không ai dám làm các công tác thuộc linh vĩ đại mà đã được
hoàn thành trong quá khứ và thậm chí là hiện tại. Mọi công tác thuộc linh đều
vượt qua các lập luận loài người. Nếu không nhận biết ý muốn của Đức Chúa Trời
trong trực giác thì ai mà dám liều mình?
Bất cứ ai bước đi với Đức Chúa Trời cách thân mật, có sự tương giao ẩn
mật với Đức Chúa Trời và mối liên hiệp thuộc linh với Ngài, đều nhận được sự
khải thị của Ngài trong trực giác và biết rõ mình phải chuyển động như thế nào.
Hành động này không nhận được sự cảm thông từ loài người, vì những người khác
không biết điều người ấy biết cách riêng tư. Theo sự khôn ngoan của thế giới,
các sự chuyển động của người ấy hoàn toàn vô nghĩa. Chẳng phải có rất nhiều tín
đồ thuộc linh bị chống đối vì điều này sao? Chẳng phải những người khôn ngoan
đã xem họ là điên rồ sao? Không chỉ có người thế giới nói vậy mà ngay cả các
anh em thuộc xác thịt của họ cũng chỉ trích họ y như vậy. Đây là vì sự sống của
sáng tạo cũ, dù ở trong người thế giới hay trong các tín đồ, đều thiếu hiểu
biết về công tác của Thánh Linh Đức Chúa Trời y như nhau. Các tín đồ càng trí
thức thì càng dán nhãn cho những người hành động trái với lẽ thường là “nhiệt
thành cách ngu dại”. Đối với họ, các hành động của những người này là nhiệt
thành cách thuộc hồn. Nhưng thật ra, nhiều người bị gọi là nhiệt thành cách ngu
dại lại rất thuộc linh. Họ cư xử “cách ngu dại” vì họ đã nhận được sự khải thị
trong trực giác của mình.
Chúng ta phải cẩn thận để không pha trộn trực giác với tình cảm. Sự
nhiệt thành của một tín đồ tình cảm có thể dường như thuộc linh nhưng điều đó
không thật ra từ trực giác. Cũng vậy, sự xét đoán của một tín đồ lý trí có thể
dường như thuộc linh nhưng nó cũng không phải là sự khải thị ra từ trực giác.
Giống như tín đồ tình cảm là thuộc hồn thì tín đồ lý trí cũng thuộc hồn. Linh
có sự nhiệt thành. Thật ra, sự nhiệt thành của linh vượt xa sự nhiệt thành của
tình cảm. Mọi hành động của các tín đồ thuộc linh đều “được biện minh trong
linh” (1 Tim. 3:16). Tâm trí hay tình cảm thuộc xác thịt sẽ không dung thứ cho
những điều đó. Nếu chúng ta rời khởi vị
trí của linh và bước đi theo các cảm xúc thuộc xác thịt hay các tư tưởng hợp lý
của mình thì chúng chúng ta sẽ lập tức lúng túng, không biết phải làm gì và
phải xoay về đâu. Khi điều này xảy ra, chúng ta sẽ không như Abraham, đi xuống
Ai Cập để nhận sự giúp đỡ từ những điều thấy được và đụng chạm được. Linh và
hồn công tác độc lập với nhau. Nếu linh không dấy lên và nắm toàn quyền kiểm
soát thì hồn sẽ luôn luôn gây chiến với linh.
Khi linh của một tín đồ được Thánh Linh đổi mới, làm vững mạnh và giáo
dục, thì hồn người ấy sẽ đánh mất vị trí của nó và thuận phục linh. Dần dần,
hồn trở nên nô lệ cho linh và thân thể được chinh phục để trở nên đầy tớ của
hồn hầu thực hiện ý muốn của linh. Khi đó, linh nhận biết sự khải thị của Đức
Chúa Trời qua trực giác. Tiến trình này không có hồi kết. Một số người có nhiều
điều phải bị ném qua một bên hơn so với những người khác. Họ đầy dẫy tri thức
trong tâm trí và tình cảm. Nhiều người không thể có một linh mở ra để tiếp nhận
lẽ thật của Đức Chúa Trời vì họ đã đầy dẫy định kiến rồi. trước khi trực giác
có thể nhận được bất cứ điều gì từ Đức Chúa Trời thì mọi điều này phải được cất
đi.
Bây giờ chúng ta phải sáng tỏ hơn trước về sự khác biệt giữa trực giác
và tâm trí hay tình cảm. Một khi đã hiểu trực giác, chúng ta sẽ sáng tỏ hơn về
linh, là điều thường huyền nhiệm hơn đối với chúng ta. Bây giờ chúng ta phải
nhận thức sự khác biệt cơ bản giữa kinh nghiệm thuộc linh và kinh nghiệm thuộc
hồn. Kinh nghiệm thuộc linh là thuộc linh vì điều đó bắt đầu từ Đức Chúa Trời
và được nhận biết trong linh chúng ta. Trái lại, kinh nghiệm thuộc hồn bắt đầu
từ chính con người và không bao giờ đi qua linh. Vì vậy, một người có thể có
đầy tri thức Kinh Thánh và có sự lĩnh hội, chính xác về các giáo lý Cơ Đốc.
Người ấy có thể nhiệt thành và áp dụng mọi tài năng của mình cho công tác.
Người ấy có thể có tài hùng biệt tuyệt vời và đưa ra những bài giảng hấp dẫn về
các chủ đề và đề tài trong Kinh Thánh; tuy nhiên, bản thể người ấy vẫn đang
sống trong lĩnh vực của hồn. Có thể người ấy vẫn chưa bước ra khỏi hồn một
bước; linh người ấy có thể vẫn còn chết. Dân chúng không được đem vào trong
vương quốc Đức Chúa Trời qua sự khích lệ, nài khuyên, tranh luận, kích động,
thu hút và thúc giục của chúng ta. Họ chỉ có thể bước vào qua sự tái sanh,
chính là sự phục sinh linh. Sự sống mới sẽ đến với nhiều khả năng khác nhau và
giữa vòng các khả năng đó thì quan trọng nhất là trực giác, để hiểu biết, nhận
biết và thừa nhận Đức Chúa Trời.
Có phải điều này nghĩa là tâm trí (trí óc) loài người hoàn toàn vô dụng
không? Tất nhiên là không rồi. Chắc chắn tâm trí có một công dụng nào đó. Tuy
nhiên, chúng ta phải nhớ rằng trí năng không bước ra trước; nó là điều thứ yếu.
Chúng ta không nhận biết Đức Chúa Trời và những điều của Đức Chúa Trời bởi trí
năng. Nếu là như vậy thì sự sống đời đời sẽ trở nên vô ích. Sự sống đời đời
(tức là sự sống mới) không gì khác hơn là linh được đề cập đến trong John 3.
Chúng ta nhận biết Đức Chúa Trời qua sự sống đời đời mà chúng ta mới nhận được
và linh mà chúng ta mới có được. Công dụng của tâm trí ở nơi khả năng giải
thích cho người bên ngoài của chúng ta điều chúng ta nhìn thấy trong linh và
soạn thành lời cho người khác hiểu. Chúng ta có thể nhìn thấy điều này trong
thí dụ về Paul. Trong các Thư Tín của mình, ông nhấn mạnh rằng phúc âm mà ông
rao giang không phải là từ con người; phúc âm do tâm trí con người “bán sỉ” và
cũng không được “bán lẻ” cho các tâm trí khác. Thay vì vậy, ông đã nhận phúc âm
đó qua sự khải thị. Mặc dù ông có thể có năng lực trí tuệ tốt nhất nhưng giáo
lý của ông không ra từ các tư tưởng của ông, cách đột ngột hay dần dần. Tâm trí
của ông ở trong mối liên hiệp với linh và chỉ truyền đạt cho người khác sự khải
thị mà ông nhận được trong linh. Tâm trí (hồn) không bao giờ là cơ quan để tiếp
nhận tri thức thuộc linh; nó chỉ là cơ quan đề truyền đạt tri thức thuộc linh.
Ngoài linh ra thì không có chỗ nào khác để Đức Chúa Trời có thể thông
công với chúng ta. Không có cách nào khác đề chúng ta nhận biết Đức Chúa Trời
ngoại trừ ở trong trực giác. Qua linh, con người bước vào trong lĩnh vực đời
đời, thần thượng và không thấy được. Chúng ta có thể nói rằng trực giác là “bộ
não” của linh. Khi nói nhân linh đã chết, chúng ta đang nói rằng trực giác của
người ấy đã mất hết cảm giác và không thể nhận biết Đức Chúa Trời và hiểu biết
những điều của Đức Chúa Trời. Khi nói rằng linh phụ trách toàn bản thể, chúng
ta có ý nói rằng mọi phần của hồn và mọi chi thể của thân thể phải hoàn toàn
bước theo ý muốn của Đức Chúa Trời, là điều được tỏ cho chúng ta biết qua trực
giác. Trước đây chúng ta đã nói rằng sự tái sanh là tuyệt đối cần thiết rồi,
nhưng bây giờ chúng ta sẽ nhấn mạnh điều đó một lần nữa. Tâm trí, tình cảm và ý
muốn con người không thể nhận biết Đức Chúa Trời và không thể thay thế cho trực
giác. Nếu từ đầu con người không tiếp nhận sự sống của Đức Chúa Trời và nếu trực giác của người ấy không được phục
sinh thì người ấy mãi mãi phân rẽ với Đức Chúa Trời. Sự tái sanh rất thực tiễn.
Điều đó không phải chỉ là một thuật ngữ hay một sự thay đổi về mặt đạo đức mà
chắc chắn là sự sống đời đời bước vào trong linh chúng ta, làm phục sinh linh
và trực giác của chúng ta. Con người tuyệt đối không thể làm thiện và làm vui
lòng Đức Chúa Trời bởi chính mình vì các hoạt động này đều ở trong lĩnh vực của
hồn; chúng không được thực hiện qua trực giác, là điều đã trở nên sống động đối
với Đức Chúa Trời. Một người khó mà được sinh lại bởi chính mình vì người ấy
không có gì có thể sản sinh ra sự sống mới. Nếu Đức Chúa Trời là Cha thì người
ấy không thể tự làm cha. Hơn nữa, bất kể chúng ta hiểu biết và tin cậy nơi các
giáo lý bao nhiêu cũng đều vô dụng. Không gì có thể cứu con người ngoại trừ
việc đặt mình vào trong tay Đức Chúa Trời và xin Ngài công tác. Linh của một
người sẽ vẫn mãi chết chóc trừ khi người ấy thừa nhận mọi sự của mình đều vô
dụng và người ấy đang đứng với Chúa Jesus trong chỗ chết và đang tiếp nhận sự
sống của Ngài.
Phương cách của con người là không tiếp nhận Chúa Jesus làm Cứu Chúa;
đó không phải là cách phục sinh trực giác (linh). Thay vì vậy, đó là cách thay
thế trực giác bằng tâm trí. Con người suy xét, cân nhắc, và nêu ra các triết
lý, luân lý và tôn giáo khác nhau. Nhưng Đức Chúa Trời nói: “ Vì cõi thiên
thượng cao hơn trái đất bao nhiêu thì các đường lối của Ta cũng cao hơn các
đường lối của ngươi và các tư tưởng của Ta cũng cao hơn các tư tưởng của ngươi
bấy nhiêu” (Isa. 55:9). Bất kể có tư tưởng gì thì con người vẫn là thuộc đất và
không thuộc cõi thiên thượng. Sau khi chúng ta được tái sanh, Đức Chúa Trời ao
ước chúng ta nhận biết các công tác và ý muốn của Ngài qua trực giác của mình
hầu cho chúng ta bước đi theo đó. Nhưng các tín đồ dễ quên đi những gì mình đã
học được vào lúc tái sanh biết bao! Có nhiều tín đồ bước đi theo tâm trí và
tình cảm của mình trong nếp sống hằng ngày biết bao! Khi phục vụ, chúng ta vẫn
dùng trí năng, sự nhiệt thành và ý kiến của mình để chuyển động tâm trí, tình
cảm và ý muốn của người khác. Đức Chúa Trời dạy muốn dạy chúng ta rằng cả hồn
chúng ta lẫn hồn của những người khác đều không có bất cứ giá trị và tính hữu
dụng thuộc linh nào. Đức Chúa Trời muốn hủy diệt sự sống thiên nhiên của chúng
ta cùng với trí năng, khả năng và sức lực của nó. Vì vậy, Ngài cho phép chúng
ta thất bại, thất vọng, trở nên lạnh lẽo và vô dụng trong công tác thuộc linh
của mình. Loại bài học này không thể học được trong một hai ngày. Đức Chúa Trời
sẽ hướng dẫn chúng ta trong suốt cuộc đời và làm cho chúng ta nhận thức rằng
ngoài việc bước đi theo trực giác thì mọi sự đều vô ích.
Vấn đề chủ chốt nằm ở đây: khi trực giác đề xuất một điều gì đó hoàn
toàn khác với điều hồn đề xuất thì chúng ta sẽ bước đi theo điều nào? Bây giờ
là lúc quyết định ai sẽ phụ trách nếp sống của chúng ta và chúng ta sẽ đi đường
nào. Bây giờ là lúc trận chiến mang tính quyết định ai sẽ là đầu, người bên
ngoài hay người bên trong của chúng ta, người của cảm xúc hay người của linh.
Khởi đầu nếp sống Cơ Đốc, linh chúng ta gây chiến với xác thịt. Ngày nay, có
một trận chiến giữa linh và sự sống thiên nhiên. Trước đây, chúng ta gây chiến
với nan đề là tội lỗi; bây giờ, vấn đề không phải là thiện hay ác mà là sự tốt
lành thiên nhiên hay sự tốt lành của Đức Chúa Trời. Trước đây, chúng ta bận tâm
về bản chất của những điều chúng ta làm, nhưng bây giờ, chúng ta bận tâm về
nguồn của những điều tốt. Ngày nay, có một trận chiến giữa người bên ngoài và
người bên trong, trận chiến giữa ý muốn của Đức Chúa Trời và ý định của con
người. Việc học tập bước đi theo linh là công việc suốt đời cho “người mới”.
Nếu một người có thể hoàn toàn bước đi theo linh, người ấy sẽ hoàn toàn đắc
thắng xác thịt. Qua việc làm vững mạnh của Thánh Linh vào trong linh của người
mới, người ấy sẽ hoàn toàn kết thúc tâm trí của xác thịt. Một tâm trí thuộc xác
thịt sẽ chẳng dẫn đến điều gì khác hơn là sự chết trong những điều thuộc linh,
trong khi tâm trí đặt trên linh là sự sống và hòa bình.
(Người thuộc linh)