Lời Kinh Thánh

Kìa, Ngài cỡi đám mây mà đến, mọi mắt sẽ trông thấy Ngài, cả đến những kẻ đã đâm Ngài cũng vậy; hết thảy các chi phái trên đất đều sẽ than khóc Ngài. Phải, A-men Lu ca 17:29-30

Thứ Năm, 30 tháng 7, 2015

NHÂN TÍNH ĐƯỢC NÂNG CAO VỚI THẦN TÍNH CỦA SỨ ĐỒ PAUL TRONG 1 CORINTH



SỰ PHẤN ĐẤU TRONG NẾP SỐNG PHỤC VỤ CỦA CHÚNG TA
Nhiều người phục vụ mong đợi một nếp sống hội thánh thắng thế - một nếp sống hội thánh đầy dẫy những điều tích cực. Tuy nhiên, có ít người nhận thức rằng vì hội thánh là sự quy tụ của những người được kêu gọi ra nên hội thánh bao gồm mọi loại người được tái sanh. Những người được tái sanh này khác nhau về văn hóa, học vấn, địa vị xã hội, và thậm chí khác nhau về mức độ trưởng thành của sự sống cũng như khả năng hiểu thấu lẽ thật. Mọi chi thể điều có Đấng Christ ở mức độ khác nhau, nhưng theo cách này hay cách khác, mọi người vẫn sống trong “các sự khác biệt” của họ, tức là sống trong sự sống hồn với “bản ngã”, “xác thịt” và “người thiên nhiên” của họ.

Hãy xem xét hội thánh tại Corinth, một hội thánh có phần rắc rối  nhưng không khác với mọi hội thánh địa phương khác. Sứ đồ Paul, như người cha sinh ra hội thánh này (1 Cor. 4:15), đang đối mặt với mọi nan đề giữa vòng các thánh đồ ở đây. Ông đã trở nên đau buồn và không có sự yên nghỉ (2 Cor. 2:2-4). Dù rất phiền muộn, nhưng ông đã nỗ lực giúp đỡ hội thánh qua sự ủy thác của ông theo các sự khải thị mà ông đã nhận được. Ông đã cảnh báo họ (1 Cor 4:21), dạy dỗ họ (1 Cor 4:17), và qua sự truyền đạt sự sống phong phú, ông đã khuyên răn họ (1 Cor 4:14). Tuy nhiên, “cột sống” cho sự vận hành của ông là nhân tính của Jesus. Paul đã trình diện chính ông và những người ở với ông cho người Corinth như các đầy tớ của Đấng Christ (1 Cor 4:1), như những người làm một với Đấng Christ, sống và bước đi theo Đấng Christ. Đồng thời, ông đã trình diện chính mình cho họ như người cha sinh ra họ (1 Cor 4:15). Thái độ của ông tại Corinth là trong sự yếu đuối, sợ hãi và rất run rẩy (1 Cor 2:3). Các kinh nghiệm của ông trong Đấng Christ thì dư dật, vì bàn tay xử lý của Đấng Christ ở trên ông.
Bên trong lòng, ông đã kinh nghiệm nhiều cảm xúc khác nhau theo tình trạng và nhu cầu của người Cornth. Ông vừa đau buồn vừa vui mừng (2 Cor. 6:10). Ông đã ở trong sự tuyệt vọng và sự an ủi (2 Cor. 1:5-6). Chắc hẳn lòng ông đã được mở rộng đối với họ (2 Cor. 6:11). Sự vận dụng cương vị sứ đồ của ông không chỉ đến từ sự phong phú mà ông có, sự trưởng thành mà ông sở hữu, hay quyền năng ông đã biểu minh. Trái lại, qua nhân tính được nâng cao của mình, ông đã giải hòa các tín đồ bị dẫn đi lạc và bị xao lãng trở lại với Đức Chúa Trời (2 Cor. 5:20).
Paul luôn luôn tôn trọng các hội thánh địa phương. Dù hội thánh tại Corinth ở trong tình trạng hỗn độn, thậm chí đến mức điêu tàn, vị sứ đồ vẫn gọi họ là “hội thánh của Đức Chúa Trời tại Corinth”. Ông xem họ là những người đã được thánh hóa trong Christ Jesus, và như vậy bất kể tình trạng của họ, những người được gọi là thánh đồ này xứng đáng để nhận ân điển và hòa bình (1 Cor 1:2-3). Paul đã cảm tạ Đức Chúa Trời về họ, vì họ đã được làm cho phong phú trong Đấng Christ trong mọi lời nói và tri thức (1 Cor 1:4-5). Thậm chí đối với một hội thánh suy thoái như vậy, Paul vẫn làm chứng rằng chứng cớ của Đấng Christ đã được xác nhận trong họ và họ không thiếu hụt bất cứ ân tứ nào (1 Cor.1:6-7). Paul tin chắc rằng Chúa sẽ xác nhận họ cho đến cuối cùng, không chỗ trách được trong ngày của Chúa Jesus Christ (1 Cor 1:8) Các lời này về hội thánh tại Corinth thật lạ lùng và đầy khích lệ! Paul đã có cái nhìn thấu suốt thuộc linh để nhìn thấy cốt lõi sự vận hành của Đức Chúa Trời, là điều vượt quá mọi bằng chứng về sự bạc nhược, yếu đuối và giới hạn của người Corinth.
Khi viết cho người Corinth, nan đề đầu tiên Paul đề cập là xác thịt của họ bị sự sống  bản ngã của họ cai trị. Các sự chia rẽ trong hội thánh ra từ sự sống bản ngã (1 Cor. 1:10), nhưng Paul nói rằng họ đầy xác thịt. Paul đã thành thật cho biết tin tức về sự chia rẽ của họ đến từ đâu – “Gia  quyến của Chloe” (1 Cor 1:11). Ông đã thẳng thắn: “Đấng Christ bị chia rẽ sao?” (1 Cor.1:13). Kế đến, ông nhấn mạnh bí quyết của sự hiệp nhất – không biết bất cứ điều gì ngoại trừ Jesus Christ và việc Ngài bị đóng đinh (1 Cor 2:25). Là một sứ đồ đối với hội thánh, ông đã ở với người Corinth trong sự yếu đuối, sợ hãi và rất run rẩy. Ông đã không dùng các lời lẽ khôn ngoan đầy sức thuyết phục hầu cho đức tin của họ sẽ chỉ đứng vững trong quyền năng của Đức Chúa Trời. Paul là một người thuộc linh. Ông chỉ phát ngôn sự khôn ngoan thần thượng cho những người đã tăng trưởng đầy trọn (1 Cor 2:6). Ông đã biện biệt mọi sự, nhưng chính ông thì không ai biện biệt được (1 Cor. 2:15).
Một người thuộc linh như vậy đã không tự tôn, cũng không cố gắng để có được những người đi theo mình. Thật vậy, Paul đã đề cập đến Apollos theo cách rất dịu ngọt: “Tôi đã trồng, Apollos đã tưới, nhưng Đức Chúa Trời đã tạo ra sự tăng trưởng” (1 Cor 3:5). Cuối cùng, ông đã làm chứng: “Vì vậy đừng ai khoe khoang trong những con người, vì mọi sự là của anh em”. Nói cách khác, mọi người cung phụng sở hữu các chức vụ phong phú đều vì các hội thánh địa phương, dù là Paul, Apollos hay Cephas, tất cả đều thuộc về anh em, còn anh em thuộc về Đấng Christ, và Đấng Christ thuộc về Đức Chúa Trời (1 Cor 3:21-23). Cái nhìn này dịu ngọt biết bao! Paul thuộc về chúng ta. Apollos thuộc về chúng ta. Cephas thuộc về chúng ta. Còn chúng ta chỉ thuộc về Đấng Christ. Sự vận hành của mọi chức vụ phải sản sinh các hội thánh địa phương hiện hữu và chỉ sống cho Đấng Christ.
Hơn nữa, Paul đã tự trình diện mình như một đầy tớ của Đấng Christ và một quản gia về huyền nhiệm của Đức Chúa Trời. ông đã ao ước được họ nhìn thấy là trung tín trước mặt Đức Chúa Trời, không mấy quan tâm về việc ông cần được hội thánh tại Corinth kiểm tra (1 Cor 4:1-3). Ông đã nài khuyên các thánh đồ tại Corinth hãy chỉ xem ông và Apollos là những người cung phụng (1 Cor 3:5). Ông rất ao ước người Corinth sẽ trị vì và ông sẽ trị vì với họ. Paul đã trình bày chính mình như người đứng sau cùng, như bị định là phải chết. Ông yếu đuối, bị mất danh dự, vẫn còn đói khát, vẫn còn trần truồng, vẫn còn bị đánh đập, và vẫn còn lang thang không một mái nhà. Ông đã lao tác, làm việc bằng đôi tay của mình. Bị chửi rủa, ông chúc phước; bị bắt bớ, ông chịu đựng. Bị phỉ báng, ông khuyên giục. Ông là rác rưởi của thế giới và cặn bã của mọi sự (1 Cor 4:8-13). Một nhân tính được nâng cao dẫn đến loại hiện hữu này. Và trong loại hiện hữu này không có tính tư lợi, tự tôn, cạnh tranh khi làm công tác.
Ông đã trình bày chính mình theo cách như vậy để khuyên răn họ đừng bao giờ nói mình “thuộc Paul” (1 Cor 3:4). Đây là cách Paul đã xử lý sự sống – bản ngã của người Corinth trong xác thịt họ, nhưng đồng thời ông đã nhắc nhở họ rằng ông không phải là người hướng dẫn của họ trong Đấng Christ – ông là cha họ. Ông đã khuyên giục họ hãy là những người bắt chước ông, bắt chước cách sống không vị kỷ trong một nhân tính được nâng cao (1 Cor 4:15-16).
Paul biết rằng sự sống bản ngã trong xác thịt có thể phát triển thành xác thịt hư hoại. Tại Corinth, chúng ta nhìn thấy sự gian dâm ( 1 Cor 5:1), các vụ thưa kiện lẫn nhau (1 Cor 6:1), sự ăn uống vô độ (1 Cor 6:13), và thậm chí sự nung đốt do ham muốn xác thịt (1 Cor 7:9). Tuy nhiên, cách Paul xử lý các nan đề này là qua một nhân tính được nâng cao. Hãy xem xét cách Paul xử lý người đã cưới mẹ kế của mình. Paul đã than khóc khi ông nghe được tin đó, nhưng ông biết rằng ông phải xử lý tình hưống này. Ông nói rằng ông đã ở với họ trong linh khi họ nhóm lại và ông đã thẩm phán một người như vậy, phó người ấy cho Satan để hủy diệt xác thịt người ấy. Hành động này không chỉ để kỷ luật. Trái lại, điều đó là để linh của anh em phạm tội được cứu trong ngày của Chúa (1 Cor 5:1-5). Ông đã yêu cầu người Corinth loại kẻ ác ra khỏi họ (1 Cor. 5:13). Nhưng khi một người như vậy ăn năn, ông làm chứng: “nếu tôi khiến anh em buồn rầu, vậy ai là người làm cho tôi vui mừng ngoài người bị tôi làm cho buồn rầu?” (2 Cor 2:2). Ông nhắc nhở họ: “Hình phạt này bởi số đông là đủ cho một người như vậy rồi, do đó anh em hãy tha thứ và an ủi người ấy, hầu cho người ấy không bị sự buồn rầu quá lớn nuốt mất” (2 Cor 2:6-7). Chúng ta nhìn thấy nhân tính được nâng cao của Paul thật rõ ràng! Sự vận dụng này dịu ngọt thay!
Trong toàn bộ sách này, Paul đã giải quyết nhiều vấn đề theo cách loài người như vậy. Về hành vi vô luân, Paul đã làm chứng: “Người được kết hợp với Chúa là một linh” (1 Cor 6:17). Về hôn nhân, Paul nói: “Đức Chúa Trời đã kêu gọi chúng ta trong sự hòa bình” (1 Cor 7:15) hầu cho mỗi người phải bước đi theo điều Chúa đã chia phần cho mình (1 Cor 7:17). Khi Paul đề cập vấn đề ăn đồ cúng thần tượng (1 Cor 8:4), ông đã xử lý điều đó theo cách rất con người. Ông đáp lại: “Nếu ai nghĩ rằng mình biết một điều gì đó, thì người ấy chưa biết như đáng phải biết; nhưng nếu ai yêu Đức Chúa Trời, người ấy được Ngài nhận biết” (1 Cor 8:2-3). Đối với Paul, tình yêu trọng yếu hơn tri thức rất nhiều. Yêu Đức Chúa Trời thì trọng yếu hơn việc ăn kiêng nhiều. Ông cũng nói: “Mọi sự đều hợp pháp đối với tôi, nhưng không phải mọi sự đều ích lợi; mọi sự đều hợp pháp đối với tôi, nhưng tôi sẽ không bị đem đến dưới quyền lực của bất cứ điều gì?” (1 Cor 6:12). Tuy nhiên, cuối cùng ông làm chứng: “Nếu thức ăn làm cho anh em tôi vấp ngã thì tôi sẽ mãi mãi chẳng ăn thịt nữa” (1 Cor 8:13)
Chúng ta cũng nhìn thấy nhân tính của Paul trong cách ông đưa ra vấn đề địa vị của ông giữa vòng họ. Paul nói: “Tôi không tự do sao? Tôi không phải là một sứ đồ sao? …Vì anh em hội thánh tại Corinth trong Chúa là ấn chứng về cương vị sứ đồ của tôi” (1 Cor 9:1-2); nhưng sau đó ông cũng nói thêm theo cách rất loài người: “Tuy nhiên, chúng tôi đã không sử dụng quyền này, nhưng chúng tôi đã chịu đựng mọi sự để không tạo ra bất cứ sự ngăn trở nào cho phúc âm của Đấng Christ” (1 Cor 9:12). Thật là một sứ đồ kỳ diệu! Thật là một nhân tính cao trọng!.
Ông đã kết luận việc xử lý mọi nan đề của họ bằng cách làm chứng: “Dù tôi tự do đối với tất cả, nhưng tôi đã tự làm nô lệ cho mọi người hầu cho có thể có được thêm nữa. Và đối với người Do Thái; đối với những người ở dưới luật pháp, như một người ở dưới luật pháp; đối với một người không luật pháp, như một người không luật pháp; đối với người yếu đuối, tôi đã trở nên yếu đuối. Đối với mọi người tôi đã trở nên mọi sự, hầu cho tôi có thể chắc chắn cứu được một số người”. Paul đã không tập trung vào các vấn đề; trái lại, ông đã quyết liệt sống ra nhân tính của Jesus hầu cho ông có thể trở nên một người đồng dự phần vào phúc âm (1 Cor. 9:19-23). Paul quá đỗi thuần khiết. Thân vị và cách sống của ông làm một với chức vụ của ông.
Cuối cùng, chúng ta nhìn thấy nhân tính được nâng cao của Paul khi ông xử lý sự sống thiên nhiên trong xác thịt liên hệ đến sự quản trị của Đức Chúa Trời trong những vấn đề như sự trùm đầu (1 Cor 11:4-6) và các ân tứ thuộc linh (1 Cor 12:1). Ông đã nài xin người Corinth hãy là những người bắt chước ông như ông cũng là một người bắt chước Đấng Christ (1 Cor 11:11). Paul đã trở nên mọi sự đối với mọi người, không tìm mối lợi riêng ( 1 Cor 10:33) và ông đã dạy người Corinth con đường tuyệt hảo nhất là tình yêu (1 Cor. 12:31). Về sự biểu lộ các ân tứ thuộc linh, dù ông kể chính mình là “không kém hơn các sứ đồ xuất sắc trong bất cứ điều gì” (2 Cor 11:5), nhưng ông vẫn làm chứng về mình: “Tôi là người nhỏ nhất trong các sứ đồ” (1 Cor 15:9a).
Paul đã nhìn thấy sự quản trị của Đức Chúa Trời theo nhân tính được nâng cao của ông. Ông đã nhìn thấy sự vận hành hữu cơ của các ân tứ trong nhân tính của Jesus. Trong cái nhìn của Paul, không có địa vị. Ông không nỗ lực hoặc đấu tranh để có được một điều gì đó cho chính mình. Ông không phản loạn, thậm chí không có dấu hiệu của sự cạnh tranh. Thật ra, ông đã tuyên bố rằng ông không xứng đáng được gọi là một sứ đồ: “Tôi không xứng đáng được gọi là một sứ đồ, vì đồ đã bắt bớ hội thánh của Đức Chúa Trời” (1 Cor 15:9b). Tuy nhiên, ông cũng làm chứng: “Bởi ân điển của Đức Chúa Trời mà tôi là như hiện nay” (1 Cor 15:10). Paul đã không phục vụ theo sự sống thiên nhiên của ông mà phục vụ trong một nhân tính được nâng cao trong ân điển của Đức Chúa Trời: “Tôi đã lao tác dư dật hơn tất cả họ, nhưng không phải tôi mà là ân điển của Đức Chúa Trời ở với tôi”