Vật chất dành cho chúng ta,
không chỉ chúng là gì; chúng là gì tùy thuộc vào cái mà chúng ta muốn chúng trở
thành. Điều này có ý nói rằng thái độ của chúng ta đối với vật chất, cũng giống
như trong một cuộc chạy đường dài, quan trọng hơn chính bản thân vật chất. Đây
là một đồng tiền phổ biến của tri thức, giống như một đồng xu cổ, bị mòn lẵng
vì sử dụng. Nhưng nó chứa đựng bên trên mình một dấu ấn của sự thật và không
được từ bỏ nó đi chỉ vì nó rất quen thuộc.
Thật lạ một điều là làm thế
nào một thực tế vẫn còn thích hợp, trong khi cách lý giải của chúng ta về nó đã
thay đổi theo các thế hệ và năm tháng!
Một sự thật đại loại như
vậy là thế giới mà chúng ta đang sống. Nó ở đây, và vẫn ở đây hàng thế kỷ rồi.
Nó là một thực tế vững bền, hoàn toàn không thay đổi theo dòng chảy của thời
gian, nhưng quan điểm của con người hiện đại về nó thật khác xa với cái của
người xưa. Ở đây chúng ta thấy rõ sức mạnh của cách giải thích này. Thế giới là
dành cho tất cả chúng ta, không chỉ nó là gì; mà nó là những gì chúng ta tin nó
là như vậy. Và sự đau khổ cực độ hay niềm vui khôn tả sẽ đến tùy vào sự đúng
đắn trong cách lý giải của chúng ta.
Lùi trở lại một chút, những
thời điểm hình thành và phát triển ban sơ của đất nước chúng ta (Mỹ - ND),
chúng ta sẽ thấy một vực sâu rộng lớn giữa các quan điểm hiện đại của chúng ta
và các quan điểm của ông cha ta thời đó.
Trong những ngày đầu tiên,
khi Cơ Đốc giáo dùng ảnh hưởng lớn chi phối tư tưởng của nước Mỹ, con người ta
suy nghĩ thế giới là một bãi chiến trường. Các cha ông chúng ta tin rằng tội
lỗi, điều ác và địa ngục là cùng một thế lực; và họ tin rằng Đức Chúa Trời, sự
công bình và thiên đàng là một sức mạnh khác. Hai thế lực này đối chọi với nhau
trong bản chất đời đời của chúng, trong sự căm ghét sâu sắc, tối nghiêm trọng,
và không thể hòa giải được. Con người, các ông cha ta cũng thế, phải lựa chọn
một trong hai bên; anh ta không thể đứng giữa. Đối với anh ta, hoặc là sống
hoặc chết, thiên đàng hay địa ngục, và nếu anh ta đã chọn để bước về phía Đức
Chúa Trời, anh phải sẵn sàng cho cuộc chiến với những kẻ thù của Đức Chúa Trời.
Trận chiến là thật và đầy chết chóc, nó sẽ tiếp tục kéo dài chừng nào sự sống
còn tiếp tục trên cõi trần gian này. Con người nhìn về thiên đàng như là quê
hương để trở về từ chiến trận, một nơi để bỏ gươm xuống mà vui mừng trong sự
hòa bình, sự bình an trong căn nhà đã được sắm sẵn cho họ.
Các bài giảng và bài hát
ngày nay thường có mùi chiến trận, hay có lẽ một dấu vết nào đó của sự nhớ nhà.
Quân lính Cơ Đốc nghĩ về gia đình mình, sự yên nghỉ và sự sum họp, rồi giọng
anh ta có vẻ buồn rầu khi hát về việc chiến trận kết thúc và thắng lợi đến.
Nhưng cho dù anh ta bị đưa ra trước họng súng quân thù, hay đang mơ mộng về sự
chấm dứt chiến tranh và sự chào đón của Cha mình ở nhà, anh chẳng bao giờ quên
thế giới mà anh đang sống thuộc loại gì. Đó là một chiến trường, nhiều người đã
bị thương và ngã chết.
Quan điểm đó về vật chất,
không nghi ngờ gì nữa, chính là quan điểm của Thánh Kinh. Kể cả những hình ảnh
tượng trưng và các phép ẩn dụ mà Kinh Thánh có rất nhiều, những thế lực thuộc
linh to lớn thực sự tồn tại trên thế giới, và con người, vì bản chất thuộc linh
của mình, đang nằm ở giữa là một giáo lý Thánh Kinh vững chắc. Các thế lực của
điều ác có khuynh hướng hủy diệt anh ta, trong khi Đấng Christ hiện hữu để cứu
anh ta qua quyền năng của Phúc Âm. Để có được sự giải cứu, anh ta phải đứng về
phía Đức Chúa Trời trong đức tin và sự vâng lời. Nói một cách ngắn gọn là những
gì cha ông chúng ta nghĩ; và những gì chúng ta tin thực sự là những điều Kinh
Thánh dạy.
Ngày nay thì khác biệt làm
sao: thực tế vẫn còn đó, nhưng cách hiểu về nó đã hoàn toàn thay đổi. Suy nghĩ
của con người về thế giới không còn là một bãi chiến trường nữa, mà là một sân
chơi. Chúng ta có ở đây không phải là để chiến đấu, mà là để vui chơi. Chúng ta
không ở trên đất ngoại quốc, chúng ta đang ở trên quê hương mình. Không phải là
chúng ta đang sửa soạn để sống, chúng ta đã đang sống, và điều tốt nhất chúng
ta có thể làm là giải thoát chính mình khỏi những hạn chế, những thất vọng và
sống cuộc đời này cho được đầy đủ. Chúng ta tin điều này là một lời tóm tắt
ngắn gọn của triết lý tôn giáo của con người hiện đại, được tuyên bố rộng rãi
bởi hàng triệu con người và còn được hàng ngàn triệu người khác âm thầm nắm
bắt, những con người sống theo cái triết lý đó mà không có một lời nào đả động
đến nó. Thái độ hướng về thế giới này, khi bị thay đổi, đã và đang ảnh hưởng
đến các Cơ Đốc nhân, ngay cả những Cơ Đốc nhân Tin Lành tuyên xưng đức tin của
mình nơi Kinh Thánh. Bởi trò lừa bịp tỉ mỉ của các con số, họ cộng sai cả cột mà
lại tuyên bố rằng mình có câu trả lời đúng. Nghe thì có vẻ quái dị, nhưng là
thật đấy!
Ý tưởng cho rằng thế giới
này là một sân chơi thay vì một chiến trường bây giờ đã được chấp nhận trên
thực tế bởi một số lượng rất lớn các Cơ Đốc nhân Tin Lành. Họ có thể đã lẩn
tránh khi bị đề nghị khẳng định vị trí của mình, nhưng hành vi của họ nói lên
tất cả. Họ đang đối diện với cả hai con đường, yêu thích Đấng Christ và cũng
ham muốn thế gian nữa, họ hân hoan nói với mọi người rằng tiếp nhận Đức Chúa
Jêsus không đòi hỏi họ phải từ bỏ thú vui của mình, và vì thế Cơ Đốc giáo chỉ
là điều vui vẻ nhất có thể tưởng tượng ra được. Sự “thờ phượng” xuất phát từ
một quan niệm về cuộc sống như vậy đã đi xa khỏi trung tâm như chính bản thân
quan niệm đó, một loại hộp đêm được “biệt riêng” mà không có rượu champagne và
không có những kẻ say khướt ăn mặc bảnh bao. Tất cả điều này đã trở nên hết sức
nghiêm trọng đến độ nó trở thành một nhiệm vụ bắt buộc của mỗi Cơ Đốc nhân,
phải kiểm định lại triết lý thuộc linh của mình dưới ánh sáng của Thánh Kinh,
và khám phá ra đường lối của Kinh Thánh để bước theo đó, cho dù khi làm như
vậy, anh ta phải tách mình ra khỏi nhiều điều mà trước đây anh chấp nhận là
đúng; song bây giờ, trong ánh sáng của lẽ thật, anh đã biết là nó sai.
Một quan điểm đúng đắn về
Đức Chúa Trời và thế giới tương lai đòi hỏi chúng ta cũng phải có một quan điểm
đúng đắn về thế giới mà chúng ta đang sống cùng với mối quan hệ của chúng ta
đối với nó. Rất nhiều điều lệ thuộc vào điều này, do đó chúng ta không thể bất
cẩn với nó được.
Thế Giới Của Kinh Thánh Và Thế Giới Thực
Khi đọc Kinh Thánh, một
người nhạy cảm chắc chắn sẽ cảm nhận được sự khác biệt đáng kể giữa thế giới mà
Kinh Thánh bày tỏ và thế giới được những con người có tôn giáo ngày nay nhận
thức. Và sự tương phản không ở trong sự tán thành của chúng ta.
Thế giới mà những người nam
và người nữ của Kinh Thánh đã thấy là một thế giới riêng tư, ấm cúng, thân mật,
đông đúc. Thế giới của họ bao gồm trước hết là Ðức Chúa Trời, Ðấng đã dựng nên
nó, Ðấng vẫn ngự ở đó như trong một nơi thánh và Ðấng có thể được nhìn thấy
đang bước đi bên dưới những tàng cây trong vườn, nếu cặp mắt của con người đủ
sáng để thấy. Và ở đó cũng có nhiều người khác được Ðức Chúa Trời sai đến làm
những mục sư của họ, những người thừa kế cơ nghiệp cứu rỗi. Họ cũng nhận thấy
sự hiện diện của những lực lượng độc ác mà nhiệm vụ của họ là chống lại chúng,
đó là những thế lực mà họ có thể dễ dàng chiến thắng bằng sự cầu khẩn Ðức Chúa
Trời trong lời cầu nguyện.
Cơ Ðốc nhân ngày nay nghĩ
về thế giới trong những khái niệm hoàn toàn khác. Khoa học, vốn đã đem lại cho
chúng ta nhiều lợi ích, cũng đã đem đến cho chúng ta một thế giới hoàn toàn
khác với cái mà chúng ta thấy trong Kinh Thánh. Thế giới ngày nay bao gồm những
không gian rộng lớn và vô giới hạn, giữa ở đây và ở đó là một khoảng cách khổng
lồ, những hình hài mù quáng và vô nghĩa bị điều khiển bởi những định luật tự
nhiên mà chúng không bao giờ có thể thoát ra được. Thế giới đó là một thế giới
lạnh giá, phi nhân tính và hoàn toàn không có những cư dân nào khác ngoại trừ
con người, một động vật phù du run rẩy vốn bám chặt vào đất khi anh ta đi
"vòng quanh trong vòng quay của quả đất với những ngọn núi, những hòn đá
và các rặng cây."
Thế giới mà những con người
của Thánh Kinh nhìn biết thật vinh hiển làm sao! Gia-cốp thấy một cái thang từ
dưới đất lên trời, có Ðức Chúa Trời đứng ở đầu phía trên và những thiên sứ đi
lên đi xuống trên thang đó. Áp-ra-ham, Ba-la-am và Ma-nô-a cùng với biết bao
nhiêu người khác đã gặp các thiên sứ của Ðức Chúa Trời và nói chuyện với họ.
Môi-se gặp gỡ Ðức Chúa Trời trong bụi gai đang cháy; Ê-sai thấy Chúa ngồi trên
ngôi cao sang và nghe hát tiếng ngợi khen đầy dẫy đền thờ.
Ê-xê-chi-ên thấy một đám
mây lớn và lửa bao bọc chung quanh, từ giữa đám mây ông thấy giống như bốn sinh
vật bước ra. Các thiên sứ đã đến để loan báo sự giáng sinh sẽ xảy ra của Ðức
Chúa Jêsus và để chúc mừng sự giáng sinh đó khi nó xảy ra tại Bết-lê-hem; thiên
sứ đã thêm sức cho Chúa chúng ta khi Ngài cầu nguyện tại vườn Ghết-sê-ma-nê;
các thiên sứ được đề cập đến trong một số thư tín được hà hơi, và sách Khải
huyền sáng chói với sự hiện diện của những tạo vật kỳ lạ và đẹp đẽ thực thi
những công việc của trần gian và thiên đàng.
Phải, thế giới thật là một
thế giới đông đảo. Những con mắt mù quáng của các Cơ Ðốc nhân ngày nay không
thể thấy được cõi vô hình nhưng điều đó không phá hủy sự thực hữu của một công
trình sáng tạo thuộc linh. Sự vô tín đã cướp khỏi chúng ta niềm vui của một thế
giới riêng tư. Chúng ta đã thừa nhận một thế giới trống rỗng và vô nghĩa của
khoa học như là một thế giới thực, mà quên rằng khoa học chỉ đúng khi đề cập
đến những gì thuộc về vật chất và nó không thể biết tí gì về Ðức Chúa Trời cũng
như thế giới thuộc linh.
Chúng ta phải có đức tin;
và chúng ta đừng biện giải, vì đức tin là một bộ phận của tri thức và nó có thể
nói với chúng ta về sự thực hữu cơ bản nhiều hơn mọi khám phá khoa học. Chúng
ta không chống lại khoa học, nhưng chúng ta nhận biết những giới hạn quá rõ
ràng của nó, và từ chối dừng lại tại chỗ nó bị buộc phải dừng lại. Kinh Thánh
nói cho chúng ta biết về một thế giới khác, quá tinh tế, mà những công cụ của
nghiên cứu khoa học không thể khám phá được. Bởi đức tin chúng ta công nhận thế
giới đó và biến nó trở nên của mình. Chúng ta có thể đến gần nó, và bước vào nhờ
huyết của giao ước đời đời. Nếu chúng ta sẵn lòng tin, chúng ta sẽ có thể vui
hưởng sự hiện diện của Ðức Chúa Trời và công việc của những sứ giả thiên thượng
Ngài sai phái đến ngay bây giờ. Chỉ có sự vô tín mới có thể cướp mất của chúng
ta đặc quyền vương giả này.
Thờ Phượng
Tại sao Ðấng Christ đã đến?
Tại sao Ngài được thọ thai? Tại sao Ngài được sinh ra? Tại sao Ngài bị đóng
đinh? Tại sao Ngài sống lại? Tại sao hiện nay Ngài lại ở bên hữu Ðức Chúa Cha?
Câu trả lời cho mọi câu hỏi
trên là, "Ðể Ngài có thể đưa những người thờ phượng ra khỏi những người
nổi loạn; để Ngài có thể khôi phục lại cho chúng ta địa vị thờ phượng chúng ta
vốn đã biết ngay từ khi được tạo dựng."
Vì chúng ta được tạo dựng
để thờ phượng, sự thờ phượng là một công việc bình thường của các hữu thể đạo
đức. Nó là một công việc bình thường, không phải là một cái gì đó rất được yêu
thích hay được cộng thêm vào, giống như lắng nghe một buổi hòa nhạc hay thưởng
thức những bông hoa. Nó là một cái gì đó được tạo dựng gắn liền với bản chất con
người. Mỗi cái nhìn thoáng lên thiên đàng đều cho thấy hình ảnh các tạo vật
đang thờ phượng; trong Ê-xê-chi-ên 1:1-5, các tạo vật ra từ đám lửa đang thờ
phượng Ðức Chúa Trời; trong Ê-sai 6:1-6, chúng ta thấy Ðức Chúa Trời trên ngôi
cao sang và nghe các tạo vật nói, "Thánh thay, thánh thay, thánh thay là
Ðức Giê-hô-va Vạn Quân"; trong Khải huyền 4:8-11, Ðức Chúa Trời mở thiên
đàng ra và chúng ta thấy họ đang ở đó thờ phượng Ðức Chúa Cha; và trong đoạn 5
từ câu 6 đến câu 14, chúng ta thấy họ thờ phượng Ðức Chúa Con.
Thờ phượng là một mệnh lệnh
đạo đức. Trong Lu-ca 19:37-40, cả đám đông các môn đồ đang thờ phượng Chúa khi
Ngài đến và một vài người đã quở trách họ. Chúa phán, "Ta phán cùng các
ngươi, nếu họ nín lặng thì đá sẽ kêu lên."
Bây giờ, sự thờ phượng là
viên ngọc quý đang bị đánh mất trong giới Tin Lành hiện đại. Chúng ta được tổ
chức; chúng ta làm việc; chúng ta có nhật ký công tác. Chúng ta có hầu như mọi
thứ, nhưng có một điều mà các Hội Thánh, ngay cả các Hội Thánh Tin Lành, không
có: Ðó là năng lực thờ phượng. Không phải chúng ta đang vun trồng nghệ thuật
thờ phượng. Nó là một viên đá quý sáng chói đã bị các Hội Thánh ngày nay đánh
mất, và tôi tin rằng chúng ta phải tìm, cho đến khi gặp lại nó.
Tôi nghĩ rằng tôi phải nói
thêm một chút về việc thờ phượng là gì và nó phải như thế nào nếu được thực
hiện trong Hội Thánh. Ðó là một thái độ, một trạng thái tâm trí, một hành động
được chấp nhận (duy trì), hướng về những mức độ của sự toàn hảo và xúc cảm mãnh
liệt. Chẳng bao lâu Ngài ban Thánh Linh của Con Ngài vào lòng chúng ta, chúng
ta nói "A-ba, Cha" và chúng ta đang thờ phượng. Ðó là một việc. Nhưng
trở thành những người thờ phượng theo đúng ý nghĩa của Thánh Kinh Tân Ước là
một việc hoàn toàn khác.
Bây giờ tôi nói rằng thờ
phượng hướng đến những mức độ của sự toàn hảo và xúc cảm mãnh liệt. Ðã có những
người thờ phượng Ðức Chúa Trời đến độ họ đã ở trong trạng thái ngây ngất của sự
thờ phượng. Có một lần tôi thấy một người đàn ông quỳ gối tại bàn tiệc thánh,
và đang dự thánh lễ này. Thình lình ông bật lên những tiếng cười thánh. Người
đàn ông này cười cho đến khi ông ôm tay quanh mình giống như là ông sợ rằng
mình sẽ nổ tung trong sự vui sướng trong sự hiện diện của Ðức Chúa Trời quyền
năng. Có ít lần tôi đã thấy những người khác sung sướng vô ngần trong trạng
thái ngây ngất của sự thờ phượng, nơi họ được mang đi khỏi cùng với sự thờ
phượng, và tôi cũng đã nghe một số những tân tín hữu thật thà thưa rằng
"A-ba, Cha". Vì thế, sự thờ phượng có thể đi từ chỗ rất đơn giản đến
chỗ mãnh liệt và tuyệt vời nhất.
Thế thì những nhân tố bạn
có thể tìm thấy trong sự thờ phượng là gì? Tôi sẽ liệt kê cho bạn một số. Trước
hết là lòng tin vững vàng. Bạn không thể thờ phượng một Ðấng mà bạn không tin.
Ðức tin rất cần thiết cho sự tôn kính, và sự tôn kính lại rất cần thiết cho sự
thờ phượng. Sự thờ phượng lên cao hay xuống thấp trong bất kỳ Hội Thánh nào
hoàn toàn phụ thuộc vào thái độ chúng ta hướng về Ðức Chúa Trời, liệu chúng ta
thấy Ðức Chúa Trời là lớn lao, hay thấy Ngài là nhỏ bé. Hầu hết trong chúng ta
thấy Ðức Chúa Trời quá nhỏ bé; Chúa chúng ta quá nhỏ. Ða-vít nói, "Hãy
cùng tôi tôn trọng Ðức Giê-hô-va" (Thi thiên 34:3), và "tôn
trọng" không có nghĩa là làm cho Ðức Chúa Trời lớn. Bạn không thể làm cho
Ðức Chúa Trời trở nên to lớn, nhưng bạn có thể thấy Ngài to lớn.
Tôi đã nói sự thờ phượng
lên cao hoặc xuống thấp cùng với quan niệm của chúng ta về Ðức Chúa Trời; đó là
lý do tại sao tôi không tin vào những tay cao bồi cải đạo nửa vời, những người
gọi Ðức Chúa Trời là "Người ở tầng trên" (Man Upstairs). Tôi nghĩ họ
chẳng thờ phượng gì cả vì quan niệm của họ về Ðức Chúa Trời chẳng có giá trị gì
đối với Ngài và cũng chẳng có giá trị gì đối với họ. Và nếu có một bệnh tật
kinh khủng nào trong Hội Thánh của Ðấng Christ, thì nó chính là việc chúng ta
không thấy Ðức Chúa Trời vĩ đại như đích thực Ngài là như vậy. Chúng ta quá
quen thuộc với Ðức Chúa Trời.
Mối tương giao với Ðức Chúa
Trời là một việc; sự quen thuộc với Ngài là một việc hoàn toàn khác. Tôi không
thích ngay cả việc gọi Ðức Chúa Trời là "Bạn" (You) - điều này có thể
làm cho một số người phiền lòng, nhưng rồi sẽ qua đi. "Bạn" là một từ
thông tục. Tôi gọi một con người là "bạn", nhưng tôi phải gọi Ðức
Chúa Trời là "Ngài" (Thou và Thee) ( ). Tôi biết rằng đây là những từ
cổ từ thời Elizabeth
xa xưa, nhưng tôi cũng biết rằng có một cái gì đó rất quý giá toát lên từ những
con chữ đó và tôi nghĩ rằng khi chúng ta nói về Ðức Chúa Trời, chúng ta phải
dùng những đại từ thuần khiết, trang trọng.
Tôi cũng nghĩ rằng chúng ta
không được nói nhiều về Chúa Jêsus chỉ với tên Ngài là Jêsus mà thôi. Tôi nghĩ
chúng ta phải nhớ Ngài là ai. "Ngài là Chúa của con, hãy tôn kính
Ngài" (Thi thiên 45:11). Và dù Ngài đã xuống đến nơi thấp nhất vì nhu cầu
của chúng ta, khiến chính mình Ngài trở nên gần gũi với chúng ta hơn, như người
mẹ và đứa con, thì cũng đừng quên rằng khi Giăng thấy Ngài - chính ông Giăng đã
từng nằm trên ngực Ngài - đã ngã xuống chân Ngài như chết.
Tôi đã nghe đủ loại người
thuyết giáo. Tôi đã nghe những kẻ khoe khoang ngu dốt; tôi đã nghe những con
người buồn tẻ, khô khan; tôi đã nghe những người có tài hùng biện; nhưng những
người giúp tôi nhiều nhất là những người kính sợ trong sự hiện diện của Ðức
Chúa Trời, Ðấng mà họ nói đến. Có thể họ có một chút hài hước, có thể họ vui
tính; nhưng khi họ nói về Ðức Chúa Trời, họ nói bằng một giọng hoàn toàn khác;
giọng nói này là một cái gì đó hoàn toàn khác, một cái gì đó rất tuyệt vời. Tôi
tin rằng chúng ta phải trở lại quan niệm Thánh Kinh xa xưa về Ðức Chúa Trời,
vốn khiến cho Ðức Chúa Trời trở nên đáng kính sợ và khiến con người úp sát mặt
xuống đất mà thốt lên, "Thánh thay, thánh thay, thánh thay là Ðức
Giê-hô-va Vạn Quân." Ðiều đó sẽ đem lại nhiều điều tốt lành cho Hội Thánh
hơn mọi sự khác.
Kế đó có sự ngưỡng mộ, tức
là sự nhận thức sâu sắc sự kỳ diệu của Ðức Chúa Trời. Con người được đánh giá
là tốt hơn trong việc nhận thức sâu sắc Ðức Chúa Trời, hơn bất cứ một tạo vật
nào khác vì họ được tạo dựng theo hình ảnh Ngài, và là tạo vật duy nhất được
như vậy. Sự ngưỡng mộ dành cho Ðức Chúa Trời gia tăng và gia tăng cho đến khi nó
đầy dẫy tấm lòng với sự ngạc nhiên và vui sướng. "Trong sự kính sợ đầy
ngạc nhiên của lòng, chúng con xưng nhận vẻ đẹp không hề được tạo dựng của
Ngài," một tác giả thánh ca đã nói thế. "Trong sự kính sợ đầy ngạc
nhiên của lòng!" Ðức Chúa Trời của Tin Lành hiện đại hiếm khi làm ai ngạc
nhiên. Ngài ở trong sự tổ chức, chẳng bao giờ phá vỡ những quy luật của chúng
ta. Ngài là một Ðức Chúa Trời cư xử rất tốt và phi hệ phái, rất giống một người
trong chúng ta; chúng ta cầu xin Ngài giúp đỡ khi chúng ta gặp khó khăn, chúng
ta xin Ngài quan phòng khi chúng ta ngủ. Ðức Chúa Trời của Tin Lành đương đại
không phải là một Ðức Chúa Trời mà tôi có thể kính trọng nhiều. Nhưng khi Ðức
Thánh Linh bày tỏ cho chúng ta Ðức Chúa Trời như chính Ngài là như vậy, chúng
ta sẽ ngưỡng mộ Ngài đến mức độ ngạc nhiên và vui sướng.
Sự hấp dẫn là một yếu tố
khác của sự thờ phượng thật: Ðược đầy dẫy sự sôi nổi thuộc linh; bị quyến rũ và
bị mê hoặc, tràn đầy xúc cảm, không phải bởi việc bạn nhận được nhiều thể nào
hay của dâng nhiều ra sao, không phải bởi việc bao nhiêu người đến nhà thờ;
nhưng tràn ngập xúc cảm bởi nhận biết Ðức Chúa Trời là ai, lòng tràn ngập điều
kỳ diệu đến kinh ngạc của sự cao quý không thể nào tin được và sự vĩ đại, sự
tráng lệ của Ðức Chúa Trời Toàn Năng.
Tôi còn nhớ khi mình là một
Cơ Ðốc nhân trẻ, tôi đã có một khải tượng đáng kính sợ, tuyệt diệu và tràn đầy
xúc cảm về Ðức Chúa Trời. Tôi đang ở Tây Virginia, trong rừng và ngồi trên một
khúc gỗ đọc Kinh Thánh cùng với một tín hữu người Ái Nhĩ Lan, Robert J. Cunningham,
bây giờ ông đang ở thiên đàng. Tôi đứng dậy và rảo bước loanh quanh để cầu
nguyện một mình. Lúc đó tôi đang đọc một trong những phân đoạn Kinh Thánh khô
khan nhất có thể tưởng tượng được - phân đoạn viết về lúc dân Y-sơ-ra-ên ra
khỏi Ai Cập và Ðức Chúa Trời sắp xếp họ vào một khu trại hình tháp. Ngài đặt
chi phái Lê-vi ở giữa, Ru-bên ở phía trước và Bên-gia-min phía sau. Ðó là một
thành phố hình thoi đang di động với trụ lửa ở giữa lan tỏa ánh sáng. Thình
lình một ý tưởng xuất hiện trong tôi: Ðức Chúa Trời là một nhà hình học; Ngài
là một nghệ sĩ! Khi Ngài sắp đặt thành phố đó, Ngài đã sắp đặt nó một cách hết
sức thành thục: hình thoi với một chấm ở chính giữa; và thình lình tư tưởng đó
quét qua tôi như con sóng giữa đại dương: Ðức Chúa Trời thật đẹp đẽ và Ngài vừa
là một họa sĩ, một nhà thơ và là một nhạc sĩ nữa; tôi đã thờ phượng Ðức Chúa
Trời ngay tại đó, bên dưới những tán cây. Bạn biết không, sau đó tôi bắt đầu
yêu thích những bài thánh ca cổ, từ đó tôi trở thành người yêu thích những bài
thánh ca vĩ đại.
Ðiều tiếp theo là lòng kính
yêu, yêu Chúa với tất cả sức lực trong chúng ta. Yêu Chúa với lòng kính sợ và
kinh ngạc, với lòng khao khát và đợi chờ; là khao khát Chúa với lòng khao khát
lớn lao, và yêu Ngài đến độ vừa đau đớn, vừa vui sướng. Có nhiều lúc điều này
đưa chúng ta đến sự tĩnh lặng đến nín thở. Tôi nghĩ rằng một trong những lời
cầu nguyện vĩ đại nhất là lời cầu nguyện mà trong đó bạn không nói lời nào, hay
cầu xin điều gì. Bây giờ Ðức Chúa Trời đã đáp lời và Ngài đã ban cho chúng ta
điều mà chúng ta cầu xin. Ðây là sự thật; không một ai có thể phủ nhận nó chỉ
trừ phi anh ta phủ nhận Thánh Kinh. Nhưng đó chỉ là một khía cạnh của sự cầu
nguyện, và nó cũng không phải là một khía cạnh quan trọng. Ðôi lúc tôi đến với
Chúa và nói, "Chúa ôi, nếu Ngài chẳng bao giờ đáp lại bất cứ một lời cầu
xin nào khác của con dầu con còn sống trên cõi đời này, con vẫn thờ phượng Ngài
chừng nào con còn sống, và trong những thời đại sắp đến vì những gì Ngài đã làm
rồi." Ðức Chúa Trời đã đặt để tôi vào một món nợ vô cùng to lớn, lớn đến
nỗi cho dù tôi có được sống đến một triệu thiên niên kỷ, tôi cũng không thể trả
nổi cho Ngài những gì Ngài đã làm cho tôi.
Chúng ta đến với Ðức Chúa
Trời giống như là chúng ta sai một đứa bé đến tiệm tạp hóa với một danh sách
dài ngoằng các thứ, "Chúa ơi, cho con cái này, cho con cái kia, cho con
cái nọ nữa," và Ðức Chúa Trời nhân từ của chúng ta thường ban cho chúng ta
điều mà chúng ta muốn. Nhưng tôi nghĩ Ðức Chúa Trời thấy chán nản vì chúng ta
biến Ngài thành cội nguồn cho mọi điều chúng ta muốn, không gì khác hơn nữa.
Ngay cả Chúa Jêsus chúng ta cũng quá thường xuyên được giới thiệu như là:
"Ðấng sẽ đáp ứng mọi nhu cầu của bạn." Ðó là trái tim đang đập mạnh
của Tin Lành ngày nay. Bạn đang có nhu cầu và Ðức Chúa Jêsus sẽ đáp ứng cho
bạn. Ngài là Ðấng "giải quyết nhu cầu". À, quả là Ngài như vậy thật;
nhưng, rõ ràng Ngài còn hơn thế nữa kia.
Bây giờ, khi những yếu tố
tinh thần, tình cảm và tâm linh mà tôi đã nói với các bạn thực sự tồn tại và ở
trong một mức độ tình cảm mãnh liệt nào đó - như tôi đã thừa nhận, trong bài
hát, trong sự ngợi khen, trong sự cầu nguyện và cầu nguyện trong tâm trí - bạn
đang thờ phượng. Bạn có biết cầu nguyện trong tâm trí là gì không? Tôi muốn nói
là bạn có biết cầu nguyện không thôi là gì không? Ông Brother Lawrence, người
viết quyển The practice of the Presence of God (tạm dịch là Thực Hành Sự Hiện
Diện của Ðức Chúa Trời), đã nói, "Nếu tôi đang rửa chén, tôi làm việc đó
vì sự vinh hiển của Ðức Chúa Trời và nếu tôi nhặt một cọng rơm từ dưới đất lên,
tôi làm điều đó vì sự vinh hiển của Ðức Chúa Trời. Lúc nào tôi cũng tương giao
với Ðức Chúa Trời." Ông nói, "Các định luật nói với tôi rằng tôi phải
dành thời gian đi ra một mình và cầu nguyện, và tôi làm thế, nhưng những lúc đó
không khác mấy với sự tương giao thường lệ của tôi." Ông đã học hỏi được
nghệ thuật của sự tương giao, thông công với Ðức Chúa Trời, liên tục, và không
bị cắt đứt.
Tôi lo sợ cho vị mục sư
(hay truyền đạo) nào mà khi bước lên tòa giảng, ông là một con người hoàn toàn
khác với con người của chính ông trước đó. Hỡi các mục sư (truyền đạo), đừng
bao giờ nghĩ đến một tư tưởng, thực hiện một hành vi hay để cho bị kẹt vào
trong một hoàn cảnh nào đó mà các vị không thể đưa lên tòa giảng với chính mình
mà không cảm thấy lúng túng. Các vị đừng bao giờ trở thành một con người hoàn
toàn khác, có một giọng điệu mới hay một cảm giác của nghi thức mới khi bước
lên tòa giảng. Các vị phải bước lên bục giảng với cùng một tinh thần, cùng một
cảm giác kính sợ mà các vị đã có ngay trước khi các vị nói với ai đó về những
vấn đề của đời sống. Môi-se xuống núi và nói với dân sự. Ðáng buồn thay cho Hội
Thánh nào có mục sư (truyền đạo) luôn đi lên hay đi vào tòa giảng! Ông ta phải
luôn luôn đi xuống bục giảng. Họ nói Wesley có thói quen sống với Ðức Chúa
Trời, nhưng có nhiều lúc cũng đi xuống để nói với dân sự. Vì thế, mỗi chúng ta
đều phải như vậy. A-men.