Lời Kinh Thánh

Kìa, Ngài cỡi đám mây mà đến, mọi mắt sẽ trông thấy Ngài, cả đến những kẻ đã đâm Ngài cũng vậy; hết thảy các chi phái trên đất đều sẽ than khóc Ngài. Phải, A-men Lu ca 17:29-30

Thứ Bảy, 12 tháng 5, 2018

LA-MÃ BÀI HAI MƯƠI TÁM



SỰ BIẾN ĐỔI TRONG VIỆC TIẾP NHN TÍN ĐỒ
(1)
Phúc Âm của Sách La-mã thật kỳ diệu. Trong 11 chương đầu, Phao-lô hoàn toàn đề cập đến xưng công chính, thánh hóa, vinh hóa và tuyển chọn. Nếu đọc bốn phần chính này, chúng ta có thể thấy Đức Chúa Trời gần như đã hoàn thành tất cả những gì Ngài dự định thực hiện. Trong La-mã, các chương từ 1 đến 11, chúng ta thấy sự sáng tạo của Đức Chúa Tri, sự sa ngã của con người, sự cứu chuộc của Đấng Christ, sự xưng công chính của Đức Chúa Trời và sự giải hòa của Đức Chúa Trời. Hơn nữa, Phao-lô đã bày tỏ cho chúng ta sự đồng nhất của Đức Chúa Trời, tiến trình sự sống của sự thánh hóa, và vinh hóa. Phao-lô cũng dẫn chúng ta vào trong nguồn của mọi hoạt động của Đức Chúa Trời-lòng yêu thương của Ngài. Phao-lô cũng đưa chúng ta vào phòng bí mật là sự tuyển chọn của Đức Chúa Trời, là nơi chúng ta thấy gia tể của Ngài. Chúng ta thật đã nhìn thấy một cái nhìn toàn cảnh! Hãy xem xét tất cả những điều chúng ta đã đi qua: sự sáng tạo của Đức Chúa Trời, sự sa ngã của con người, sự cứu chuộc, xưng công chính, giải hòa, đồng hóa, thánh hóa, vinh hóa, tình yêu và sự tuyển chọn của Đức Chúa Trời. Mặc dầu tất cả những điều này đều tuyệt vời nhưng không một điều nào là sự hoàn thành sau cùng của công tác Đức Chúa Trời. Hoàn thành sau cùng của công tác Đức Chúa Trời là nếp sng Hội Thánh. Sa-tan quỉ quyệt đã khiến cho ngay cả nhiều Cơ-đốc nhân yêu quí, tìm kiếm Chúa cũng ghét từ Hội Thánh. Nhiều Cơ-đốc nhân tôn cao sự thánh hóa và sự sống, nhưng dường như ném bỏ Hội Thánh ra sau lưng, không quan tâm đến Hội Thánh, và thậm chí chống đối Hội Thánh. Phần lớn họ giữ một quan niệm sai rằng Hội Thánh không dành cho hiện tại mà dành cho tương lai. Vì vậy, mỗi khi nói về Hội Thánh, chúng tôi thấy chính mình gặp rắc rối. Đó là sự quỉ quyệt của kẻ thù. Cách đây gần 2.000 năm, Chúa Jesus hứa Ngài, sẽ trở lại nhanh chóng; nhưng Ngài chưa đến vì Hội Thánh chưa sẵn sàng. Hội Thánh được xây dựng cách đúng đắn như Chúa đã đề cập trong Ma-thi-ơ 16:18 đang đâu? Không có Hội Thánh được chuẩn bị đúng đắn, Chúa Jesus không có cách nào trở lại. Sự trở lại của Ngài đòi hỏi hai điều: quốc gia I-xra-ên được phục hồi và nếp sống Hội Thánh được khôi phục. Nếu hiểu lời tiên tri, anh em sẽ nhận biết hai vấn đề này là hai dấu hiệu quan trọng nhất về sự trở lại của Chúa. Sự phục hồi I-xra-ên và sự khôi phục Hội Thánh là cần thiết cho sự trở lại của Chúa. Không có sự chuẩn bị này, Chúa không thể trở lại. Trong sự khôi phục của Chúa, chúng ta đang chuẩn bị con đường cho Ngài trở lại. Mỗi ngày chúng ta đọc báo nói về những sự kiện tại Trung Đông. Tất cả những gì đang xảy ra tại đó là để chuẩn bị cho sự phục hồi quốc gia I-xra-ên. Mặc dầu biết chắc Chúa đang hành động tại Trung Đông nhưng tôi thật e ngại về công việc Ngài giữa vòng chúng ta. Ngài phải làm cho công việc Ngài đối với dân I-xra-ên tương ứng với công việc Ngài đối với Hội Thánh. Do đó, chúng ta phải hết sức chú ý đến nếp sống Hôi Thánh.

Sau 11 chương, Phao-lô trình bày đến điểm cuối cùng, là nếp sống Hội Thánh trong La-mã chương 12. Chúng ta đã thấy Phao-lô dùng năm chương để nói đến nếp sống Hội Thánh. Trước đây tôi đã chỉ ra rằng phần nói về nếp sống Hội Thánh bắt đầu một cách rõ ràng với lời Phao-lô nói: “Vậy, anh em ơi, tôi... nài khuyên anh em” (12:1). Phao-lô nài khuyên chúng ta dâng thân thể mình cho nếp sng Hội Thánh cách thuộc thể và thực tế. Sau khi nài khuyên chúng ta dâng thân thể cho nếp sống Hội Thánh, Phao-lô tiến tới phần hai của bản thể chúng ta là hồn, nói chúng ta cần được biến đổi bởi đổi mới tâm trí (12:2). Hồn cần được thay đổi cách triệt để, thiết yếu và mang tính trao đổi chất cả về bản chất lẫn hình thức. Toàn bản thể chúng ta cần được thay đổi vì nếp sng Hội Thánh, vì không điều gì thiên nhiên, tầm thường, thế tục hay hiện đại phù hợp với nếp sng Thân Thể. Chúng ta cần một sự biến đổi mang tính trao đổi chất qua sự hành động bề trong của yếu tố sự sống thần thượng. Chúng ta cần một cuộc cách mạng triệt để trong tư tưởng, tình cảm và ý chí. Một khi trải qua sự biến đổi mang tính trao đổi chất như vậy trong toàn bản thể, chúng ta sẽ hữu ích cho nếp sống Hội Thánh. Hơn nữa, một khi thân thể đã được dâng hiến và hồn được biến đổi bởi sự đổi mới tâm trí, thì linh chúng ta cần phải bốc cháy. Linh chúng ta phải được nung đốt. Nếu có tất cả những phẩm chất này thì, từ sự lớn lên trong sự sng, chúng ta sẽ thấy sự biểu lộ các ân tứ của ân điển trong sự sng. Những ân tứ và chức năng khác nhau sẽ bắt đầu xuất hiện. Chúng ta không được giống như những người ngồi trên các hàng ghế nhà thờ trong những cái gọi là Hội Thánh, là những người đi đến nhà thờ và ngồi trên các hàng ghế như những Chi Thể chết, không có một chức năng nào. Những người như vậy không bao giờ có thể tham dự vào nếp sng Hội Thánh. Những người trong nếp sống Hội Thánh phải có thân thể được dâng hiến, hồn được biến đổi bởi đổi mới tâm trí, và linh nóng cháy. Rồi những ân tứ cần thiết sẽ được vận dụng, và chúng ta sẽ có nếp sống Hội Thánh.
Vì nếp sống Hội Thánh đúng đắn, chúng ta cần có đời sống Cơ-đốc đúng đắn. Do đó, bắt đầu từ 12:9 và tiếp tục suốt 13:14, Phao-lô đề cập đến đời sống Cơ-đốc bình thường. Chúng ta đã thấy trong phần này của Sách La-mã, Phao-lô đề cập đến nhiều điểm: thái độ và hành vi của chúng ta đối với Đức Chúa Trời, đi với những người cùng là Chi Thể, đối với chính mình, và đối với những người bắt bớ; thái độ của chúng ta đối với chính quyền và những uy quyền được thiết lập; vận dụng nguyên tắc yêu thương; và chiến trận chống xác thịt. Để thực hành nếp sống Hội Thánh, chúng ta cần có đời sống Cơ-đốc bình thường hằng ngày, một đời sống tương xứng với nếp sống Hội Thánh. Chúng ta cần có thận thể được dâng hiến, hồn dược biến đổi, tâm trí, được đổi mới, linh nóng cháy và các ân tứ được vận dụng. Đo đó, vào cuối La-mã chương 13, nếp sống Hội Thánh đã được trình bày và đời sống Cơ-đốc được mô tả cách đầy đủ.
Tuy nhiên, vẫn còn một nhu cầu lớn. Chúng ta phải quan tâm đến việc tiếp nhận thánh đồ. Trong vấn đề tiếp nhận thánh đồ, chúng ta cần vận dụng sự biện biệt đến từ việc thực hành nếp sng Hội Thánh và sống đời sống Cơ-đốc bình thường. Nếu không sáng tỏ về việc tiếp nhận tín đồ, chúng ta sẽ làm thiệt hại nếp sng Hội Thánh và cắt nếp sống Hội Thánh thành từng mảnh. Trong rất nhiều chi tiết, chúng ta ging như một người chăm sóc thân thể vật lý của mình, nhưng lại cẩu thả về một vấn đề có thể làm cho mình mất mạng. Nếu không cẩn thận về việc tiếp nhận thánh đồ, Hội Thánh sẽ bị thiệt hại. Hơn 40 năm trong nếp sng Hội Thánh, tôi đã gặp nhiều thánh đồ yêu dấu tuyên b rằng họ thấy Thân Thể, nhưng sau một thời gian ngắn họ lại chia rẽ về giáo lý, làm thiệt hại Hội Thánh, và tự cắt mình khỏi sự tương giao của Hội Thánh. Khi mới tiếp xúc với Hội Thánh, họ nói: “Ha-lê-lu-gia, tôi đã thấy Hội Thánh”, nhưng vài tháng sau, họ lại bất đồng quan điểm. Vì vậy, tôi nói rằng chúng ta phải rất cẩn thận trong việc tiếp nhận thánh đồ cách đúng đắn.
Để tiếp nhận những người cùng là tín đồ trong Chúa, chúng ta cần được biến đổi. Nếu vẫn còn thiên nhiên, chúng ta sẽ không thể sống hòa hợp với người khác. Thật ra, theo tính khí thiên nhiên, thậm chí chúng ta không thể đồng ý với chính mình cách nhất quán. Tất cả chúng ta đều chiến đấu với chính mình. Do đó, Cơ-đc nhân nào còn ở trong tính khí thiên nhiên đều khó sng hòa hợp với người khác. Việc tiếp nhận thánh đồ đòi hỏi sự biến đổi. Tôi tin rằng lời của Phao-lô trong La-mã 12:2 về sự biến đổi bởi sự đổi mới tâm trí không những chi phối phần thực hành nếp sống Thân Thể, mà cũng chi phối tất cả các chương liên quan đến việc thực hành nếp sng Hội Thánh. Sự biến đổi chi phi những điều được tìm thấy trong chương 13 cũng như một số phương diện của chương 14 và 15. Nếu không được biến đổi, ít nhất một mức độ nào đó, chúng ta sẽ không thể làm một với tín đồ khác. Mặc dầu có thể nhóm với họ nhưng chúng ta không thể tương giao với họ hay mở [lòng] mình ra cho họ. Nếu buộc phải mở [lòng] mình ra với họ thì cuối cùng chúng ta cũng sẽ cãi cọ với họ vì chúng ta chưa được biến đổi và còn rất thiên nhiên trong quan niệm, cách cư xử và trong tất cả những gì chúng ta là và làm. Do đó, để tiếp nhận những người cùng là tín đồ, chúng ta cần được biến đổi. Cả La-mã chương 14 và một phần chương 15 được dành cho vấn đề này. Như chúng ta sẽ thấy, Phao-lô đề cập đến việc tiếp nhận tín đồ với năm điểm chính.
I. THEO SỰ TIẾP NHÂN CỦA ĐỨC CHÚA TRỜI,
KHÔNG THEO QUAN NIỆM GIÁO LÝ
Chúng ta phải tiếp nhận thánh đồ theo Đức Chúa Trời tiếp nhận họ. Hễ ai được Đức Chúa Trời tiếp nhận, chúng ta bắt buộc phải tiếp nhận. Chúng ta không có lựa chọn. Hãy suy xét một gia đình đông con. Một số đứa tốt còn những đứa khác thì xấu; một số thật dễ thương còn những đứa khác lại khó dạy. Có lẽ trong một gia đình đông con như vậy, một vài đứa con không vui vẻ với tất cả anh chị em của mình. Tuy nhiên, con cái phải nhận biết rằng việc quyết định ai là anh chị em không phải là việc của chúng. Điều đó tùy thuộc vào cha mẹ. Nếu một người con trong gia đình ấy nghĩ rằng anh mình xấu và phàn nàn về người anh đó, thì lời phàn nàn như vậy không trực tiếp nhắm vào anh mình, mà là phàn nàn cha m là người sinh ra anh mình. Cha thiên thượng của chúng ta đã sinh ra nhiều con, nhiều Cơ-đốc nhân, và Ngài đã tiếp nhận tất cả. Vì vậy, chúng ta cũng phải tiếp nhận họ, không theo thị hiếu hay sở thích của mình, nhưng theo sự tiếp nhận của Đức Chúa Trời.
Tuy nhiên, trong Cơ-đốc Giáo, việc tiếp nhận tín đồ không theo tiếp nhận của Đức Chúa Trời mà theo những quan niệm giáo lý. Hãy suy xét ví dụ về báp-têm. Có nhiều quan niệm khác nhau về báp-têm. Một số nhất định phải rảy nước, một s khác nhất định phải dìm trong nước, một skhác tranh luận về việc phải báp-têm người ta vào trong danh nào, và còn người khác nữa tranh luận chống báp-têm thuộc thể, cho rằng báp-têm chỉ thuần thuộc linh. Chỉ riêng về một vấn đề báp-têm mà đã có biết bao nhiêu trường phái ý kiến! Thật đáng sợ. Đó mới chỉ là một giáo lý! Phải mất nhiều tháng để đề cập đến những quan niệm khác nhau về giáo lý, chẳng hạn như sự an ninh đời đời, sự tiền định, ý chí tự do, sự cất lên, v.v... Thậm chí dạy dỗ về việc trùm đầu cũng đã gây nên một số chia rẽ. Một số nhóm Cơ-đốc nhân nào đó đã chú ý nhiều đến việc trùm đầu của chị em. Thậm chí có nhiều tranh luận về điều này khi người ta thảo luận về kích thước, màu sắc, độ dày của vải dùng để trùm đầu. Tôi biết một nhóm nọ nhất định vải trùm phải màu trắng, không cho phép bất cứ màu nào khác. Thậm chí điều nhỏ nhặt ấy cũng gây chia rẽ.
Không ai có thể nói các Hội Thánh trong sự khôi phục của Chúa là tà giáo. Chúng ta tin Kinh Thánh là Lời của Đức Chúa Trời và được linh cảm cách thần thượng từng lời từng chữ. Chúng ta tin Jesus là Con của Đức Chúa Trời, Ngài nhục hóa như một con người sng trên đất này, Ngài chết trên thập tự giá vì các tội phạm của chúng ta, Ngài phục sinh về mặt thuộc thể và thuộc linh, Ngài đã thăng thiên lên các từng trời và là Chúa của tất cả, ở bên hữu Đức Chúa Trời, và Ngài cư ngụ trong chúng ta. Chúng ta tin Đức Chúa Trời duy nhất, Đức Chúa Trời Tam Nhất, Cha, Con, và Linh. Chúng ta tin Chúa Jesus sẽ trở lại và sẽ thành lập Vương Quốc Ngài trên trái đất này. Không có gì tà giáo về tất cả những điều này. Nhưng một s người phê phán và bắt lỗi chúng ta vì chúng ta không đồng ý với tất cả ý kiến của họ về giáo lý. Một số người khăng khăng phải làm báp-têm cho người khác ba lần và đòi Hội Thánh phải thực hành điều này. Tuy nhiên, nếu thực hành điều này, chúng ta sẽ tự đặt tên cho mình là “Hội Thánh báp-têm-ba-lần”. Người khác khăng khăng về việc nói các thứ tiếng [lạ]. Chắc chắn Kinh Thánh có bao hàm việc nói các thứ tiếng, nhưng chúng ta không thể làm cho Hội Thánh thành một Hội Thánh nói-các-thứ-tiếng. Hội Thánh phải phổ quát. Nhiều thánh đồ yêu dấu đã cố gắng làm cho Hội Thánh trong sự khôi phục của Chúa thành một loại Hội Thánh nào đó theo quan niệm giáo lý của họ, nhưng đơn giản là chúng ta không thể đồng ý với điều đó. Vì vậy, một số đã tách khỏi chúng ta vì họ chia rẽ do các giáo lý hay những thực hành nào đó.
Lịch sử đáng thương của Cơ-đốc Giáo là một lịch sử chia rẽ và rối loạn. Những quan niệm khác nhau về giáo lý đã gây nên phần lớn các sự chia rẽ này. Chúng ta đã học được bài học này sau khi nghiên cứu kỹ lưỡng lịch sử Hội Thánh, và chúng ta không muốn lặp lại bi kịch của lịch sử Cơ-đốc Giáo. Vì vậy, chúng ta sẽ không bao giờ tranh luận về trùm đầu hay báp-têm, hay ngày thánh, hay về rượu dùng tại Bàn của Chúa. Chúng ta sẽ không bao giờ tranh luận về những vấn đề lặt vặt như bánh và chén dùng tại Bàn của Chúa, loại nước dùng trong báp-têm và cách làm báp-têm cho người ta. Sự khôi phục của Chúa không quan tâm đến những điều đó. Sự khôi phục của Chúa là vì Đấng Christ như sự sng và vì Hội Thánh là sự biểu lộ Đấng Christ trong sự hiệp một tại mỗi địa phương. Sau khi tuyên b nhìn thấy Hội Thánh, một s thánh đồ yêu dấu vẫn tiếp tục giữ sự hiểu biết nào đó của họ về giáo lý. Hậu quả là họ gây ra nhiều rắc rối, làm cho chính họ bị khốn khổ và tự tách mình khỏi sự khôi phục của Chúa trong nỗ lực cất Hội Thánh thành nhiều mảnh. Do dó, chúng ta phải cẩn thận để không tiếp nhận người khác theo quan niệm giáo lý, nhưng theo tiếp nhận của Đức Chúa Trời.
Phao-lô biết vấn đề tiếp nhận tín đồ quan trọng là dường nào, do đó, ông dành trọn chương 14 cộng với một phần chương 15 cho đề tài này. Trong La-mã chương 12, chúng ta thấy Thân Thể. Trong La-mã chương 14, chúng ta-nhận được một lời cảnh cáo. Nếu không nghe theo lời cnh cáo này, chúng ta sẽ dùng giáo lý như một con dao để cắt chính Thân Thể được khải thị trong chương 12 ra làm nhiều mảnh. Nhiều Cơ-đốc nhân nói về Thân Thể Đấng Christ theo La-mã chương 12; tuy nhiên, họ phải chịu trách nhiệm về việc giết chết Thân Thể và cắt Thân Thể làm nhiều mảnh bằng cách sử dụng con dao giáo lý gây chia rẽ. Đó là lý do vì sao Thân Thể được khải thị theo La-mã chương 12 phải được sng bày tỏ ra theo La- mã chương 14. Không có La-mã chương 14, chúng ta không thể thực hành Thân Thể đúng đắn được khải thị trong chương 12. Nhiều Cơ-đốc nhân chú ý đến La-mã chương 12, nhưng bỏ qua La-mã chương 14; họ nói về Thân Thể nhưng vẫn cứ chia rẽ và bị chia rẽ vì cứ nắm giữ những quan niệm giáo lý của mình, không mun buông bỏ. Do đó, họ không thể kinh nghiệm nếp sng Thân Thể. Vì vậy, sau khi bày tỏ nếp sng Thân Thể đúng đắn và đời sng Cơ-đốc bình thường, Phao-lô đề cập đến điểm trọng yếu là tiếp nhận tín dồ. Nếu không quan tâm đến điểm này, chúng ta sẽ tự sát thuộc linh trong mối quan hệ với nếp sng Hội Thánh. Để có nếp sống Thân Thể, chúng ta phải tiếp nhận tín đồ theo như Đức Chúa Trời đã tiếp nhận họ cách bình thường, chứ không theo quan niệm giáo lý của mình cách đặc biệt.
Những quan niệm giáo lý kinh khủng nhất chủ yếu là những quan niệm mà tín đồ người Do-thái nặng tính tôn giáo nắm giữ. Những quan niệm này thuộc hai loại: ăn uống và giữ ngày. Những ai nắm giữ các quan niệm này nhấn mạnh rằng một số thức ăn là thánh khiết còn những thức ăn khác là ô uế, một s ngày nào đó là thánh và những ngày khác là tầm thường. Những luật lệ ăn uống của họ dựa trên Lê-vi Ký chương 11. Theo cách nhìn của họ, Dân Ngoại chỉ hơn những con thú ăn tạp một chút mà thôi. Công Vụ chương 10 bày tỏ rằng ngay cả Phi-e-rơ, vi sứ đồ đầu tiên cũng rất nặng tính tôn giáo về vấn đề ăn uống. Bản chất tôn giáo của ông bắt buộc Đức Chúa Trời phải bày tỏ cho ông ba lần cùng một khải thị về những gì được thánh hóa và những gì là phàm tục (Công. 10:9-16). Khi Chúa bảo Phi-e-rơ hãy “làm thịt và ăn”, Phi-e-rơ nói: “Thưa Chúa, chẳng vậy; vì tôi chẳng hề ăn vật gì phàm tục hay bất khiết bao giờ” (Công. 10:13-14). Chúa trả lời Phi-e-rơ: “Hễ vật chi Đức Chúa Trời đã làm cho sạch, tin ngươi chớ cho là tục” (Công. 10:15). Qua đó chúng ta thấy rằng, ging như nhiều người khác, Phi-e-rơ cũng bám lấy những quan niệm giáo lý vì ông nặng tính tôn giáo. Khi những người như vậy tranh luận cho quan niệm của mình, họ nghĩ họ đang chiến đấu cho lẽ thật của Đức Chúa Trời. Thật ra, họ đang ngăn trở chuyển động của Đức Chúa Trời trong sự xây dựng Thân Thể Đấng Christ. Không một quan niệm giáo lý nào được là lập trường của chúng ta trong việc tiếp nhận tín đồ. Nền tảng duy nhất để tiếp nhận tín đồ là sự tiếp nhận của Đức Chúa Trời.
A. Tiếp Nhận Người Yếu Đức Tin
Trong 14:1, Phao-lô nói: “Anh em hãy tiếp nhận kẻ yếu đức tin”. Một s tín đồ yếu đức tin vì họ chưa nhận được nhiều yếu t của Đức Chúa Trời truyền vào trong mình. Tuy nhiên, họ thật có một mức lượng đức tin và chúng ta phải tiếp nhận họ.
Vì yếu đức tin, một s tín đồ không dám dùng mọi món ăn hoặc không dám xem mọi ngày đều như nhau. Nhưng họ thật có một lượng đức tin và là những tín đồ chân thật trong Đấng Christ. Cho nên, dựa trên mức lượng đức tin của họ và sự kiện họ là tín đồ, chúng ta phải tiếp nhận họ.
B. Không Xét Đoán Ý Kiến Của Họ
Chúng ta cần đọc trọn 14:1-5: “Anh em hãy tiếp nhận kẻ yếu đức tin, nhưng không nên xét đoán ý kiến của họ. Người này tin rằng mọi vật đều ăn được cả, còn kẻ yếu đui kia chỉ ăn rau mà thôi. Người ăn chớ khinh dể kẻ không ăn, người không ăn chớ xét đoán kẻ ăn; vì Đức Chúa Trời đã tiếp nhận người. Ngươi là ai mà xét đoán gia bộc của kẻ khác? Nó đứng hay ngã chỉ can hệ với chủ nó. Mà nó chắc đứng, vì Chúa có quyền khiến nó đứng. Người nầy coi ngày nầy hơn ngày khác, kẻ kia coi mọi ngày đều như nhau. Ai nấy đều phải định chắc trong tâm trí mình”. Trong La-mã chương 14, chính Phao-lô là gương mẫu nổi bật trong việc không xét đoán những lý luận về giáo lý vì ông không bày tỏ ý kiến về giáo lý nào đúng, giáo lý nào sai. Chắc chắn ông biết giáo lý đúng đắn về việc ăn và giữ ngày. Tuy nhiên, ông không theo phe nào, nhưng truyền cho tất cả chúng ta phải bao hàm và không phê phán người khác. Hãy để người khác tự do ăn những gì họ muốn ăn và giữ những gì họ muốn giữ. Đối với họ, ngày này thánh hơn ngày kia, nhưng đối với những người mạnh mẽ hơn trong đức tin, mọi ngày đều như nhau.
Chúng ta cũng phải học tập không xét đoán những lý luận v giáo lý. Khi người ta hỏi anh em về phương pháp làm báp-têm hay loại nưc sử dụng, anh em không nên đi đến chỗ tranh luận về giáo lý. Nói cách khác, đừng phê phán vấn đề. Cách tốt nhất để trả lời những câu hỏi về giáo lý là giúp người ta quay khỏi những quan niệm về giáo lý mà hướng về Đấng Christ là sự sống. Theo bản chất, tất cả chúng ta đều có khuynh hướng thuyết phục người khác và tranh luận với họ về những quan niệm của mình. Chúng ta phải tránh điều đó.
C. Tiếp Nhận Người,
Vì Đức Chúa Trời Đã Tiếp Nhận Người
Trong 14:3, Phao-lô nói: “Vì Đức Chúa Trời đã tiếp nhận người”. Đó là cơ sở cho việc chúng ta tiếp nhận người khác. Một khi Cha đã tiếp nhận một người, chúng ta cũng phải tiếp nhận người ấy. Chúng ta không có quyền lựa chọn. Dầu một tín đồ yếu đui hay kỳ quặc đến đâu, chúng ta vẫn phải tiếp nhận người.
D. Tất Cả Đều Thuộc Về Chúa
Và Tất Cả Đều Sống Cho Chúa
Xin đọc 14:6-9: “Kẻ giữ ngày là giữ vì Chúa. Kẻ ăn là ăn vì Chúa, vì họ cảm tạ Đức Chúa Trời; kẻ không ăn, cũng không ăn vì Chúa, và họ cũng cảm tạ Đức Chúa Trời. Bởi chẳng một ai trong chúng ta vì chính mình mà sống. Cũng chẳng một ai vì chính mình mà chết. Vì nếu chúng ta sống là sống cho Chúa, nếu chúng ta chết là chết cho Chúa. Vậy nên, chúng ta hoặc sng hoặc chết đều thuộc về Chúa cả. Bởi cớ ấy Christ đã chết và sng lại, cốt để làm Chúa của cả kẻ chết lẫn kẻ sống”. Tất cả Cơ-đốc nhân thật đều thuộc về Chúa. Tất cả đều được cùng một Chúa sinh ra bất kể họ đã chịu báp-têm cách nào, họ dùng thức ăn gì, hay họ giữ những ngày nào. Các câu từ 6 đến 9 cho chúng ta thấy điều gì là quan trọng và điều gì là không quan trọng. Sng cho Chúa và thuộc về Chúa là quan trọng. Hễ một người thuộc về Chúa và sống cho Chúa thì tốt rồi. Chúng ta không được áp đặt những đòi hỏi khác trên người ấy theo những quan niệm giáo lý của mình. Mặt khác, nếu bắt đầu tranh luận về giáo lý, chúng ta sẽ sớm chia rẽ theo những quan niệm khác nhau của mình. Chúng ta phải quan tâm đến những điều quan trọng. Một khi Đức Chúa Trời Cha đã tiếp nhận tất cả chúng ta và một khi chúng ta tin Chúa và sống cho Ngài, chúng ta nên tiếp nhận lẫn nhau.
II. TRONG ÁNH SÁNG CỦA NGAI PHÁN XÉT
Hơn nữa, chúng ta cũng phải tiếp nhận các thánh đồ trong ánh sáng của ngai phán xét. Chúng ta cần đọc các câu từ 10 đến 12: “Nhưng, hỡi người kia, sao ngươi xét đoán anh em mình? Còn người kia ơi, sao ngươi lại khinh dể anh em mình? Vì chúng ta thảy đều sẽ đứng trước tòa án (hay: ngai phán xét) của Đức Chúa Trời. Vì có chép rằng: ‘Chúa phán: Ta chỉ sự sống Ta mà thề: Mọi đầu gối sẽ quì lạy Ta, mọi lưỡi sẽ thừa nhận Đức Chúa Trời’. Như vậy, mỗi người trong chúng ta đều khai trình công việc của chính mình với Đức Chúa Trời”. “Ngai phán xét của Đức Chúa Trời” trong câu 10 là “ngai phán xét của Đấng Christ” trong 2Cô-rin-tô 5:10. Sự phán xét tại ngai phán xét của Đức Chúa Trời sẽ diễn ra trước thời đại một ngàn năm, ngay sau khi Đấng Christ trở lại (1Cô. 4:5; Mat. 16:27; 25:19; Lu. 19:15), đời sống và công tác của tín đồ sẽ bị phán xét vào thời điểm ấy (Khải 22:12; Mat. 16:27; 1Cô. 4:5; 3:13-15; Mat. 25:19; Lu. 19:15). Sự phán xét này không liên hệ đến sự cứu rỗi của tín đồ, vì tất cả những người xuất hiện tại ngai phán xét của Đức Chúa Trời đều đã được cứu rồi. Sự phán xét này sẽ đánh giá đời sống và công tác của tín đồ sau khi được cứu. Sự phán xét này sẽ quyết định phần thưởng của tín đồ trong Vương Quốc một ngàn năm (Mat. 25:21, 23; Lu. 19:17, 19; 1Cô. 3:14-15; Mat. 16:27; Khải 22:12; Lu. 14: 14; 2Ti. 4:8). Tín đồ sẽ đứng trước ngai phán xét này để khai trình với Đức Chúa Trời về đời sống và công tác của mình. Đây là tư tưởng của Phao-lô: chúng ta không nên tranh luận. với người khác hay phê phán họ, nhưng hãy quan tâm đến chính mình vì một ngày kia, chúng ta sẽ đứng trước ngai phán xét của Đức Chúa Trời để khai trình về đời sống và công tác của mình sau khi được cứu. Vì sự phán xét này liên quan đến cách sng của tín đồ trước mặt Chúa và những gì họ đã làm cho Chúa sau khi được cứu, và vì sự biến đổi của tín đồ liên quan rất nhiều đến sự phán xét này, nên sự phán xét được đề cập ở đây trong phần nói về sự biến đổi.
Vì lẽ thật về sự phán xét tín dồ hầu như hoàn toàn giấu kín đối với các thánh đồ nên chúng ta cần đọc và bình luận một vài câu có sẵn trong phân đoạn trước để tham khảo. Chúng ta có thể bắt đầu với 2Cô-rin-tô 5:10: “Bởi vì chúng ta thảy đều phải ứng hầu trước ngai phán xét của Đấng Christ, hầu cho mỗi người nhận lãnh những điều mà bản thân đã làm ra, theo như sở hành hoặc thiện hoặc ác vậy”. Đây không phải là sự phán xét đời đời của Đức Chúa Trời được đề cập đến trong La-mã 2:2,3,5,16 và 3:8, là sự phán xét chủ yếu sẽ được thực hiện tại ngai trắng được bày tỏ trong Khải Thị 20:11-15. Sự phán xét đời đời tại ngai trắng sau thời đại một ngàn năm, sẽ phán xét tất cả những người vô tín đã chết, và sẽ liên quan đến hình phạt đời đời trong Hồ Lửa. Sự phán xét tại ngai phán xét của Đấng Christ sẽ phán xét đời sng và việc làm của tín đồ, và sẽ quyết định tín đồ hoặc nhận được phần thưởng cho điều “thiện” hoặc chịu đựng một loại mất mát nào đó cho điều “ác”. Sau đó, 1Cô- rin-tô 4:5 chép: “Vậy, chớ nên xét đoán gì sớm quá, hãy đợi Chúa đến, Ngài sẽ phơi sáng những điều giấu kín nơi tối tăm, và bày tỏ các mưu định của mọi lòng. Bấy giờ ai nấy sẽ được Đức Chúa Trời ngợi khen”. Câu này cũng chỉ về sự phán xét tại ngai phán xét của Đức Chúa Trời hoặc của Đấng Christ. Nếu hành động đúng đắn, chúng ta sẽ được “Đức Chúa Trời ngợi khen”. Ma-thi-ơ 16:27 cũng nói về sự phán xét tín đồ. “Vì Con [Loài] Người sẽ lấy vinh hiển của Cha Ngài mà ngự đến với các thiên sứ Ngài, lúc đó Ngài sẽ báo ứng cho từng người tùy việc làm của họ”. Câu này cho biết khi Chúa đến, Ngài sẽ ban thưởng cho chúng ta tùy theo việc làm của chúng ta. Chúng ta tìm thấy một tư tưởng tương tự trong Ma-thi-ơ 25:19. “Cách lâu ngày chủ của các tôi tớ ấy trở về tính sổ với họ”. Điều này có nghĩa là gì? Có nghĩa là Chúa sẽ nhìn vào sổ sách của chúng ta và chúng ta sẽ phải khai trình đầy đủ về đời sống và công việc của mình sau khi được cứu. Điều này sẽ xảy ra tại ngai phán xét của Đấng Christ. Lu-ca 19:15 liên quan mật thiết với điều này: “Khi người đã nhận ly nước trở về, bèn truyền đòi các tôi tớ mà người đã giao bạc cho đến, để biết họ buôn lời được bao nhiêu”. Một lần nữa, lời này chỉ về việc tính sổ với Chúa tại ngai phán xét của Đấng Christ.
Chúng ta cần chú ý kỹ lCô-rin-tô 3:13-15. “Công trình của mỗi người đều sẽ bộc lộ; vì ngày đó sẽ biểu thị nó ra, nó phải hiển lộ trong lửa, chính lửa ấy sẽ thử nghiệm công trình của mỗi người là thuộc thứ nào. Ví bằng công trình của ai xây cất trên nền đó được còn lại, thì người ấy sẽ lãnh phần thưởng. Nếu công trình của ai bị thiêu hủy, thì người ấy sẽ bị lỗ (hay: bị mất mắt) còn chính người thì sẽ được cứu, song dường như qua lửa vậy”. Các từ “bị lỗ (hay: bị mất mát)” trong câu 15 không có nghĩa là hư mất. Sự cứu rỗi của chúng ta là đời đời và chúng ta không thể hư mất. Tuy nhiên, nếu bị lỗ, anh em sẽ được cứu “dường như qua lửa”. Nhiều Cơ-đốc nhân xao lãng câu này. Hầu như tất cả Cơ-đốc nhân đều tuyên bố rằng một khi đã được cứu, họ không có nan đề gì liên quan đến sự phán xét trong tương lai. Nếu anh em bảo họ có thể chịu lỗ, họ sẽ khăng khăng cho tư tưởng ấy là tà giáo. Tuy nhiên, chúng ta phải lắng nghe lời Phao-lô nói rõ trong lCô-rin-tô 3:15. Phao-lô nói dứt khoát rằng nếu công việc của một người bị thiêu hủy, người ấy sẽ bị lỗ. Loại công việc nào sẽ bị thiêu hủy? Gỗ, cỏ khô và rơm rạ được đề; cập trong câu 12. Đây sẽ là loại mất mát gì? Mặc dầu chúng ta không thể nói cách chắc chắn một sự mất mát nào đó nhưng rõ ràng người ấy sẽ phải chịu. Đó không phải là mất sự cứu rỗi, vì Phao-lô nói người có công việc bị thiêu hủy thì “chính người sẽ được cứu”. Tuy nhiên, chúng ta không nên tự mãn vì để kết luận câu này, Phao-lô nói: “song dường như bởi lửa vậy”; tốt hơn nên dịch cụm từ này là “dường như qua lửa vậy”. Khi nghe điều này, một số người có thể phản ứng rằng đây là sự dạy dỗ của Công Giáo về ngục luyện tội. Tôi quá quen thuộc với sự dạy dỗ của Công Giáo về ngục luyện tội và quen thuộc với sự kiện Công Giáo không dùng câu này trong Cô-rin-tô Thứ Nhất để làm cơ sở cho sự dạy dỗ về ngục luyện tội. Theo sự dạy dỗ của Công Giáo ve ngục luyện tội, anh em có thể thu ngắn sự khôn khổ của một người thân đang chịu đựng lửa tinh luyện của ngục luyện tội sau khi người ấy chết bằng cách đóng góp tiền bạc thay cho người ấy. Tuy nhiên, khi nói đến Lời thuần khiết của Kinh Thánh, trong tâm trí chúng tôi không có quan niệm về ngục luyện tội. Cùng với Phao-lô, chúng tôi chỉ nói rằng chúng ta phải cẩn thận vì khi Chúa trở lại, Ngài sẽ bảo chúng ta trao cho Ngài bản khai trình đầy đủ về, đời sống và công việc của chúng ta. Ngài sẽ nói: “Ta đã ban cho con một ân tứ nào đó. Con đã làm gì cho Ta? Con đã hoàn thành điều gì cho Ta từ khi con được cứu? Con đã thực hiện loại công tác xây dựng nào? Con đã xây dựng bằng gỗ, cỏ khô, rơm rạ, hay bằng vàng, bạc và đá quí?” Điều này sẽ quyết định việc Chúa có thưởng cho chúng ta hay không. Trong lCô-rin-tô chương 3, Phao-lô nói rõ rằng nếu công việc của chúng ta còn lại, chúng ta sẽ nhận được phần thưởng, nhưng nếu công việc của chúng ta bị thiêu hủy, chúng ta sẽ bị mất mát, mặc dầu chúng ta sẽ được cứu rỗi đời đời. Tôi không dám nói sự mất mát ấy là gì, nhưng tôi biết điều đó sẽ không dễ chịu đâu. Tôi đơn giản trình bày cho anh em Lời thuần khiết. Đây là một phương diện về ngai phán xét của Đấng Christ. Đó là lời rõ ràng của Kinh Thánh, và Kinh Thánh không bao giờ sai. Được cứu là một điều; nhận được phần thưởng tích cực từ nơi Chúa cho công tác của chúng ta là một điều khác; và chịu mất mát vì công trình không đúng đắn của mình lại là một điều khác nữa. Điều đó rất nghiêm trọng, và chúng ta không nên lơi lỏng về điều này.
Vì Cơ-đốc nhân không sáng tỏ về Lời thuần khiết của Đức Chúa Trời nên có hai trường phái chính là trường phái Calvin và trường phái Arminius. Theo trường phái Calvin, một khi anh em được cứu, anh em được cứu đời đi và sẽ không có nan đề nào cả trong tương lai. Theo trường phái Arminius, anh em có thể lại bị hư mất nếu không sống và làm việc cách đúng đắn sau khi được cứu. Hai trường phái này trình bày hai thái cực, và không có trường phái nào tìm được trong Kinh Thánh một chiếc cầu để bắt ngang qua khoảng cách giữa hai thái cực ấy. Chiếc cầu này là ngai phán xét của Đức Chúa Trời. Một khi đã được cứu, chúng ta được cứu đời đời và không bao giờ có thể hư mất. Điều này khác với sự dạy dỗ của Ngũ Tuần tuyên bố rằng người ta không được cứu đời đời trong đời sống này, và có thể được cứu và hư mất nhiều lần trong suốt một đời người. Đó là sự cứu rỗi giống như một chiếc thang máy lên xuống. Tuy nhiên, Kinh Thánh tuyên bố sự cứu rỗi của Đức Chúa Trời là đời đời. Trong Giăng 10:28-29, chúng ta được biết một khi đã có sự sống đời đời, chúng ta sẽ không bao giờ hư mất. Nhưng có những câu như lCô-rin-tô 3:15 cho biết trong tương lai, chúng ta có thể bị mất mát. Khi Chúa trở lại, Ngài sẽ nhóm họp tất cả tôi tớ lại trước mặt Ngài để họ khai trình về đời sống và công việc của họ. Mặc dầu được cứu đời đời, nhưng chúng ta vẫn phải khai trình với Chúa về đời sống và việc làm của mình tại ngai phán xét của Đấng Christ. Chúa sẽ nhìn vào sổ sách của chúng ta và quyết định chúng ta sẽ được phần thưởng hay bị mất mát. Trong 2Ti-mô-thê 4:8, Phao-lô có thể nói: “Từ rày về sau mão miện công nghĩa đã để dành cho ta, Chúa là quan án công nghĩa, sẽ ban mão ấy cho ta trong ngày đó, chẳng những cho ta mà thôi, nhưng cũng cho mọi kẻ yêu mến sự hiện ra của Ngài nữa”. Tuy nhiên, điều này không có nghĩa là tất cả tín đồ đều nhận được mão miện công chính. Anh em có nhận được mão miện công chính hay không là tùy thuộc vào kết quả tại ngai phán xét. Cuối cùng, trong Khải Thị 22:12, chính Chúa Jesus phán: “Kìa, Ta đến mau chóng, đem tiền công theo để trả cho mỗi người tùy công việc của họ”. Tôi tin rằng hiện nay vấn đề phán xét tại ngai phán xét của Đấng Christ đã được sáng tỏ. Chúng ta phải cẩn thận về việc phán xét người khác, vì chính chúng ta sẽ bị Đức Chúa Trời phán xét.
Chúng ta phải tiếp nhận tín đồ trong ánh sáng ngai phán xét của Đức Chúa Trời. Chúng ta không nên phê phán người khác mà hãy phán xét chính mình. Nếu không phán xét mình, chúng ta sẽ phải khai trình trước ngai phán xét của Đấng Christ. Một số tín đồ phán xét những người muốn loại bỏ tình trạng cũ kỹ của họ bằng cách chôn cất bằng nước, nhưng lại không phán xét chính mình vì đi đến rạp chiếu bóng. Nếu anh em phê phán người khác mà không phán xét chính mình vì đi xem phim thì tại ngai phán xét, Chúa sẽ yêu cầu anh em khai trình về điều đó. Một số chị em trong một nhóm nọ trùm đầu bằng khăn trùm dài màu trắng và thường phán xét, lên án những chị em khác cầu nguyện mà không trùm đầu hoặc cùng lắm chỉ đội một cái chóp nhỏ. Mặc dầu những chị em này trùm khăn trùm trắng, dài trong các buổi nhóm, nhưng ở nhà, một số người trong họ lại chiếm quyền làm đầu của chồng. Họ cần phải phán xét chính mình về vấn đề này. Đừng phán xét người khác, hãy tự phán xét chính mình. Mỗi khi sắp tiếp nhận một tín đồ khác trong Chúa, chúng ta phải vận dng sự biện biệt trong ánh sáng của ngai phán xét và nói: “Ôi Chúa, xin thương xót con. Con không xứng đáng phán xét anh em mình. Xin bao phủ con, Chúa ơi. Con mun được Ngài phán xét. Con muốn phán xét chính mình về đời sống và nếp sống của mình”. Đó nên là thái độ của chúng ta.
Chúng ta không nên phê phán người khác nhưng nên phán xét chính mình. Nếu không phán xét chính mình bây giờ thì khi đứng trước ngai phán xét của Đức Chúa Trời, chúng ta sẽ phải làm như vậy. Tất cả chúng ta cần phải được ngai phán xét soi sáng. Mỗi khi một tín đồ mới đến với mình, chúng ta phải vận dụng sự biện biệt khi tiếp nhận người ấy. Tuy nhiên, trong ánh sáng của ngai phán xét của Đức Chúa Trời, chúng ta phải tự phán xét chính mình nhiều hơn. Do đó, tư tưởng của Phao-lô trong La-mã 14:10-12 là không nên phán xét người khác mà hãy để Chúa giải quyết họ. Chúng ta nên phán xét chính mình. Khi sắp phán xét người khác, hãy nhớ Chúa sẽ tính sổ với chúng ta khi Ngài trở lại. Đây là vấn đề nghiêm trọng.